|
(Trích từ Philokalio Quyển 1, pp. 21-28)
|
|
Inroductory NoteThere is some uncertainty about the identity of the author of the Twenty-Seven Texts that follow. According to St Nikodimos, St Isaiah the Solitary lived around the year 370 and was a contemporary Makarios the Great of Egypt. Most historians today consider him to be later in date. He is now usually identified with a monk who lived initially at Sketis in Egypt, and who then moved to Palestine at some date subsequent to 431, eventually dying in great old age as a recluse near Gaza on 11 August 491 (according to others, 489). Whichever date is preferred, it is evident that the author reflects the authentic spirituality of the Desert Fathers of Egypt and Palestine during the fourth and fifth centuries. St Nikodimos commends in particular his advice on the rebuttal of demonic provocations and on the need to be attentive to the conscience. St Nikodimos here gives no more than short extracts from a much longer work, as yet untranslated into English1. |
Ghi chú Dẫn nhậpCó một số điều không chắc chắn về danh tính của tác giả Hai mươi bảy bản văn được trình bày sau đây. Theo thánh Nikodimos, thánh Isaia Ẩn Tu sống khoảng năm 370, cùng thời với Thánh Makarios Cả xứ Ai Cập. Tuy nhiên, phần lớn các sử gia ngày nay cho rằng ông sống muộn hơn. Người ta hiện nay thường đồng nhất ông với một tu sĩ ban đầu sống ở Sketis (Ai Cập), sau đó chuyển đến Palestine vào khoảng sau năm 431, ẩn tu và qua đời ở tuổi rất cao, gần Gaza vào ngày 11 tháng 8 năm 491 (một số tài liệu khác ghi là năm 489). Dù theo niên đại nào, tư tưởng của tác giả vẫn phản ánh linh đạo chân chính của các Ẩn sĩ Sa mạc Ai Cập và Palestine trong thế kỷ IV–V. Thánh Nikodimos đặc biệt ca ngợi những lời khuyên của ngài về việc chống lại các cơn cám dỗ của ma quỷ và chú tâm lắng nghe tiếng lương tâm. Tuyển tập này, thánh Nicôđêmô chỉ trích ra những đoạn ngắn từ một tác phẩm dài hơn của thánh Isaia, vốn chưa được dịch sang tiếng Anh. |
|
Note: 1 Greek text edited by the monk Avgoustinos (Jerusalem, 1911; reprinted, Volos, 1962); French translation by Dom Herve de Broc, Abbe Isaie.. Recueil ascetique, with an introduction by Dom L. Regnault (Collection Spiritualite Orientale, No. 7, 2nd edition, Abbaye de Bellefontaine, 1976). |
|
|
Contents On Guarding the Intellect: 27 Texts |
Nội dung Về việc Bảo vệ Trí tuệ: 27 bản văn |
|
(Philokalia Vol. 1, p.22) 1. There is among the passions an anger of the intellect, and this anger is in accordance with nature. Without anger a man cannot attain purity: he has to feel angry with all that is sown in him by the enemy. When Job felt this anger he reviled his enemies, calling them ‘dishonorable men of no repute, lacking everything good, whom I would not consider fit to live with the dogs that guard my flocks’ (cf. Job 30:1, 4. LXX). He who wishes to acquire the anger that is in accordance with nature must uproot all self-will, until he establishes within himself the state natural to the intellect. |
(Philokalia Vol. 1, p.22) 1. Giữa muôn đam mê, có một cơn giận của trí tuệ, và cơn giận này là theo lẽ tự nhiên. Không có cơn giận thánh thiện này, con người không thể đạt tới sự thanh khiết, bởi người ấy phải phẫn nộ với tất cả những gì kẻ thù đã gieo vào lòng mình. Khi Gióp cảm nhận cơn giận ấy, ông khiển trách những kẻ thù nghịch, nói rằng: “Những kẻ hèn hạ, vô danh, chẳng có gì tốt lành, mà ta chẳng thèm để chúng sống chung với bầy chó canh giữ đàn chiên của ta.” (x. Gióp 30,1.4 – Bản Bảy Mươi) Kẻ nào muốn đạt được cơn giận theo lẽ tự nhiên này, phải nhổ tận gốc mọi ý riêng, cho đến khi được thiết lập trong mình trạng thái tự nhiên của trí tuệ. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia):
🕯 “Anh em nổi nóng ư? Đừng phạm tội: chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn.” (Ep 4,26) — Thánh Isaia dạy rằng: cơn giận tự nhiên là khí giới của trí tuệ, khi nó được thanh luyện bởi khiêm nhường và hướng về Thiên Chúa, thì trở thành sức mạnh chống lại ma quỷ và tội lỗi. |
|
|
2. If you find yourself hating your fellow men and resist this hatred, and you see that it grows weak and withdraws, do not rejoice in your heart; for this withdrawal is a trick of the evil spirits. They are preparing a second attack worse than the first; they have left their troops behind the city and ordered them to remain there. If you go out to attack them, they will flee before you in weakness. But if your heart is then elated because you have driven them away, and you leave the city, some of them will attack you from the rear while the rest will stand their ground in front of you; and your wretched soul will be caught between them with no means of escape. The city is prayer. Resistance is rebuttal through Christ Jesus. The foundation is incensive power1Từ “incensive” không được sử dụng phổ biến trong tiếng Anh hiện đại. Thay vào đó, người ta thường dùng các từ như: Incentive…. |
2. Nếu con nhận thấy trong lòng mình có sự oán ghét anh em, và con chống lại sự oán ghét ấy, rồi thấy nó yếu đi và rút lui, đừng vội mừng trong lòng, vì sự rút lui đó là mưu chước của các thần dữ. Chúng đang chuẩn bị một đợt tấn công thứ hai, còn ác liệt hơn đợt đầu. Chúng để lại quân phía sau thành và ra lệnh cho chúng ẩn phục ở đó. Nếu con ra ngoài thành để đuổi theo chúng, chúng sẽ giả vờ chạy trốn trong yếu đuối. Nhưng nếu con tự mãn vì tưởng mình đã xua đuổi được chúng, và bỏ thành mà đi, thì một phần quân địch sẽ tấn công con từ phía sau, còn phần khác sẽ chặn trước mặt; và linh hồn khốn khổ của con sẽ bị kẹp giữa hai phía, không còn đường thoát. Thành ấy là lời cầu nguyện. Sự kháng cự là sự chống trả nhờ Đức Giêsu Kitô. Nền tảng là năng lực nhiệt thành (cơn giận thánh thiện) trong linh hồn. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia):
🕯 “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr 5,8)
🕯 “Khi con tưởng mình đã thắng, hãy coi chừng, vì lúc ấy ngươi dễ thua nhất.” — Thánh Isaia dạy rằng: kẻ chiến thắng thật là người ở lại trong thành cầu nguyện, dưới sự che chở của Danh Thánh Giêsu, và không bao giờ tự cho mình đã an toàn. |
|
|
(Philokalia Vol. 1, p.23) 3. Let us stand firm in the fear of God, rigorously practicing the virtues and not giving our conscience cause to stumble. In the fear of God let us keep our attention fixed within ourselves, until our conscience achieves its freedom. Then there will be a union between it and us, and thereafter it will be our guardian, showing us each thing that we must uproot. But if we do not obey our conscience, it will abandon us and we shall fall into the hands of our enemies, who will never let us go. This is what our Lord taught us when He said: ‘Come to an agreement with your adversary quickly while you are with him in the road, lest he hand you over to the judge, and the judge deliver you to the officer and you are cast into prison (Matt. 5:25). The conscience is called an ‘adversary’ because it opposes us when we wish to carry out the desires of our flesh; and if we do not listen to our conscience, it delivers us into the hands of our enemies. |
(Philokalia Vol. 1, p.23) 3. Chúng ta hãy đứng vững trong lòng kính sợ Thiên Chúa, hết lòng thực hành các nhân đức, và đừng để lương tâm mình bị vấp ngã. Trong lòng kính sợ Thiên Chúa, chúng ta hãy giữ sự kiên định chú tâm vào nội tại, cho đến khi lương tâm đạt tới sự tự do. Khi ấy, sẽ có một sự hiệp nhất giữa lương tâm và chúng ta, và từ đó, lương tâm sẽ trở nên người canh giữ của ta, chỉ cho ta thấy từng điều cần phải nhổ bỏ. Nhưng nếu chúng ta không vâng nghe lương tâm, nó sẽ lìa bỏ ta, và ta sẽ rơi vào tay kẻ thù, là những kẻ sẽ không bao giờ buông tha ta. Đó chính là điều Chúa đã dạy khi nói: “Hãy mau làm hoà với kẻ kiện ngươi khi còn đang đi với nó dọc đường, kẻo nó nộp ngươi cho quan toà, quan toà lại giao ngươi cho lính canh, và ngươi sẽ bị tống vào ngục.” (Mt 5,25) Lương tâm được gọi là “kẻ đối nghịch”, bởi vì nó chống lại ta mỗi khi ta muốn làm theo dục vọng của xác thịt. Và nếu ta không nghe lời lương tâm, nó sẽ trao ta vào tay các kẻ thù của ta. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia):
🕯 “Nếu lương tâm con lên tiếng, hãy biết rằng Thiên Chúa đang nói trong con.” — Thánh Isaia dạy rằng: kính sợ Thiên Chúa giúp ta lắng nghe tiếng lương tâm, vâng phục lương tâm dẫn ta đến tự do, và tự do ấy chính là hiệp thông với Thiên Chúa trong bình an. |
|
|
4. If God sees that the intellect has entirely submitted to Him and puts its hope in Him alone. He strengthens it, saying: ‘Have no fear Jacob my son, my little Israel’ (Isa. 41:14. LXX), and: ‘Have no fear: for I have delivered you, I have called you by My name; you are Mine. If you pass through water, I shall be with you, and the rivers will not drown you. If you go through fire, you will not be burnt, and the names will not consume you. For I am the Lord your God, the Holy One of Israel, who saves you’ (cf. Isa. 43:1-3. LXX). |
4. Nếu Thiên Chúa thấy rằng trí khôn đã hoàn toàn quy phục Người và đặt trọn niềm cậy trông nơi Người, thì Người sẽ củng cố nó, phán rằng: ‘Đừng sợ, Giacóp con Ta, hỡi Israel bé nhỏ của Ta’ (Is 41,14 – Bản LXX), và: ‘Đừng sợ, vì Ta đã cứu chuộc ngươi, Ta đã gọi ngươi bằng chính danh Ta; ngươi thuộc về Ta. Dù ngươi có đi qua nước, Ta vẫn ở cùng ngươi, và dòng sông sẽ không nhận chìm ngươi. Dù ngươi có bước qua lửa, ngươi sẽ không bị thiêu đốt, và ngọn lửa sẽ không thiêu huỷ ngươi. Vì Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, Đấng Thánh của Israel, Đấng cứu độ ngươi’ (x. Is 43,1-3 – Bản LXX).” |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia):
🕯 “Khi linh hồn trao phó trí tuệ mình cho Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng trao cho linh hồn chính bình an của Ngài.” — Thánh Isaia ẩn tu |
|
|
5. When the intellect hears these words of reassurance, it says boldly to its enemies: ‘Who would fight with me? Let him stand against me. And who would accuse me? Let him draw near to me. Behold, the Lord is my helper; who will harm me? Behold, all of you are like an old moth-eaten garment’ (cf. Isa. 50:8-9. LXX). |
5. Khi trí khôn nghe những lời an ủi ấy, nó mạnh dạn nói với các kẻ thù: ‘Ai muốn giao chiến với ta? Hãy đứng lên chống lại ta. Ai muốn tố cáo ta? Hãy đến gần ta. Này đây, Chúa là Đấng phù trợ ta; ai có thể làm hại ta? Này đây, tất cả các ngươi đều như chiếc áo cũ bị mối ăn rách nát’ (x. Is 50,8-9 – Bản LXX). |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia):
🕯 “Khi linh hồn đã cảm nghiệm được Chúa là Đấng phù trợ, thì mọi cám dỗ đều trở nên như tấm áo mục, và mọi kẻ thù tan biến như bụi trước gió.” — Thánh Isaia Ẩn Tu |
|
|
6. If your heart comes to feel a natural hatred for sin, it has defeated the causes of sin and freed itself from them. Keep hell’s torments in mind; but know that your Helper is at hand. Do nothing that will grieve Him, but say to Him with tears: ‘Be merciful and deliver me, 0 Lord, for without Thy help I cannot escape from the hands of my enemies.’ Be attentive to your heart, and He will guard you from all evil. |
6. Nếu lòng con khởi lên mối ghét tự nhiên đối với tội lỗi, thì đó là dấu hiệu rằng nó đã chiến thắng cội rễ của tội và được giải thoát khỏi quyền lực của chúng. Hãy ghi nhớ những hình khổ của hoả ngục, nhưng đồng thời hãy biết rằng Đấng Trợ Giúp con luôn ở kề bên. Đừng làm điều gì khiến Ngài buồn phiền, nhưng hãy khẩn thiết kêu lên cùng Ngài trong nước mắt rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con và cứu con, vì nếu không có ơn trợ giúp của Ngài, con không thể thoát khỏi tay quân thù.” Hãy tỉnh thức nơi con tim mình, và Ngài sẽ gìn giữ con khỏi mọi sự dữ. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Mối ghét tự nhiên đối với tội” không phải là sự khinh ghét con người, mà là tâm hồn đã được Thánh Thần thanh luyện, để nhận biết sự ghê tởm của tội lỗi như một vết thương đối với tình yêu Thiên Chúa. “Đấng Trợ Giúp” là Đức Kitô, Đấng luôn hiện diện âm thầm trong tâm người cầu nguyện, sẵn sàng cứu giúp khi linh hồn kêu cầu. “Be attentive to your heart” – “Hãy tỉnh thức nơi con tim” – là trọng tâm của linh đạo Đông phương: luôn giữ tâm trí trong trái tim, ở nơi đó Thiên Chúa ngự trị. |
|
|
7. The monk should shut all the gates of his soul, that is, the senses, so that he is not lured astray. When the intellect sees that it is not dominated by anything, it prepares itself for immortality, gathering its senses together and forming them into one body. |
7. Người đan sĩ phải khép lại mọi cửa ngõ của linh hồn mình, nghĩa là các giác quan, để không bị lôi cuốn hay mê hoặc bởi những cám dỗ bên ngoài. Khi trí tuệ (nous) nhận thấy rằng nó không còn bị điều gì thống trị, thì nó bắt đầu chuẩn bị cho sự bất tử, quy tụ các giác quan lại và hiệp nhất chúng nên một thân thể duy nhất trong trật tự thiêng liêng. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Khép các cửa ngõ của linh hồn” nghĩa là giữ tỉnh thức các giác quan: mắt, tai, miệng, trí tưởng tượng, cảm xúc. Không để chúng lang thang trong thế gian, nhưng hướng vào trong, nơi Thiên Chúa cư ngụ trong tâm. Khi các giác quan được thuần phục bởi ơn Chúa, tâm trí trở nên trong suốt, không còn bị chia tán. Đó là sự hiệp nhất nội tâm – nền tảng cho sự bất tử trong Thần Khí. Đây chính là trạng thái mà các Thánh Phụ gọi là “hồi tâm” (synagogē ton aisthēseōn), tức là quy tụ mọi năng lực của con người vào trong trung tâm linh hồn, nơi “trái tim được soi sáng bởi ân sủng”. |
|
|
8. If your intellect is freed from all hope in things visible, this is a sign that sin has died in you. |
8. Nếu trí tuệ của con đã được giải thoát khỏi mọi hy vọng vào những điều hữu hình, thì đó là dấu chỉ rằng tội lỗi đã chết trong con. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Trí tuệ” (nous) trong ngôn ngữ của các Thánh Phụ không chỉ là lý trí, mà là con mắt thiêng liêng của linh hồn, nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa. Khi trí tuệ không còn cậy trông vào những điều thấy được — danh vọng, tiền của, cảm xúc, ý kiến người đời — mà chỉ hướng về Đấng Vô hình, thì tội lỗi không còn chỗ bám. Đây là dấu hiệu của tâm thanh luyện: linh hồn đã chết cho thế gian, nên tội không còn quyền lực trên nó. Như Thánh Phaolô nói: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giê-su Ki-tô s, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian.” (Gl 6,14) Người đạt đến trạng thái ấy sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian — vì hy vọng của họ không còn dựa trên cái chóng qua, mà trên Thiên Chúa hằng sống. |
|
|
9. If your intellect is freed, the breach between it and God is eliminated. |
9. Nếu trí tuệ của con được giải thoát, thì sự ngăn cách giữa nó và Thiên Chúa sẽ được xoá bỏ. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Trí tuệ được giải thoát” nghĩa là tâm linh không còn bị trói buộc bởi đam mê, dục vọng, hay tư tưởng trần thế. Khi tâm trở nên trong sáng, không còn dính mắc, thì nó trở lại tình trạng nguyên thuỷ — nơi Thiên Chúa và con người hiệp thông trong ánh sáng. Sự “ngăn cách giữa trí tuệ và Thiên Chúa” chính là hậu quả của tội lỗi và phân tán nội tâm. Tội làm ta hướng ra ngoài, còn ơn Chúa quy tụ ta vào trong. Khi trí tuệ được giải phóng khỏi mọi ràng buộc, nó được tái lập trong sự hiệp nhất với Đấng đã tạo dựng nó. Các Thánh Phụ dạy rằng: “Khi nous (trí tuệ thiêng liêng) được thanh luyện, nó nhìn thấy ánh sáng của Thiên Chúa như mắt thể xác nhìn thấy mặt trời.” Như vậy, đoạn này diễn tả mầu nhiệm phục hồi tương quan nguyên thuỷ giữa linh hồn và Thiên Chúa — tức trạng thái thần hoá (theosis): không phải con người trở thành Thiên Chúa, nhưng được thông phần vào sự sống và ánh sáng của Ngài. |
|
|
(Philokalia Vol. 1, p.24) 10. If your intellect is freed from all its enemies and attains the Sabbath rest, it lives in another age, a new age in which it contemplates things new and undecaying. For ‘wherever the dead body is, there will the eagles be gathered together’ (Matt. 24: 28). |
(Philokalia Vol. 1, p.24) 10. Khi trí tuệ của con được giải thoát khỏi mọi kẻ thù và đạt tới sự nghỉ ngơi của ngày Sabbat, thì nó bắt đầu sống trong một thời đại khác, một thời đại mới, nơi nó chiêm ngắm những thực tại mới mẻ và bất hoại. Vì như lời Kinh Thánh chép: “Xác chết nằm đâu, diều hâu (đại bàng) tụ đó.” (Mt 24, 28) |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Trí tuệ được giải thoát khỏi kẻ thù” nghĩa là nous (tâm trí thiêng liêng) đã hoàn toàn được thanh luyện khỏi các đam mê, tà ý, và ảnh hưởng của ma quỷ. Khi không còn bị quấy nhiễu, nó bước vào “ngày Sabbat” – tức là sự an nghỉ thiêng liêng trong Thiên Chúa. “Sự nghỉ ngơi của ngày Sabbat” không chỉ là ngừng lao động thể xác, mà là trạng thái tĩnh lặng nội tâm (hesychia), nơi linh hồn nghỉ yên trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không còn bị lôi kéo bởi thế gian. “Sống trong một thời đại mới” có nghĩa là linh hồn đã bước qua khỏi thời gian, được nếm trước đời sống của Nước Trời, nơi “Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi.” (2 Cr 5,17). Nó chiêm ngắm những thực tại bất hoại, tức là những mầu nhiệm thần linh vượt trên tạo vật. Câu trích “Xác chết nằm đâu, diều hâu tụ đó.” (Mt 24,28) được các Thánh Phụ giải nghĩa ẩn dụ: “Xác chết” là Đức Kitô chịu đóng đinh, còn “diều hâu” (eagles – đại bàng) là những linh hồn được Thần Khí nâng lên, bay tới nơi có Thân Thể vinh hiển của Chúa, để nuôi mình bằng chiêm niệm và tình yêu thần linh. Do đó, đoạn này diễn tả đỉnh cao của đời sống chiêm niệm: khi linh hồn, sau khi chiến thắng mọi kẻ thù nội tâm, được đưa vào an nghỉ trong Thiên Chúa, và chiêm ngắm vĩnh cửu ngay trong lòng thời gian. |
|
|
11. The demons cunningly withdraw for a time in the hope that we will cease to guard our heart, thinking we have now attained peace; then they suddenly attack our unhappy soul and seize it like a sparrow. Gaining possession of it, they drag it 7down mercilessly into all kinds of sin, worse than those which we have already committed and for which we have asked forgiveness. Let us stand, therefore, with fear of God and keep guard over our heart, practicing the virtues which check the wickedness of our enemies. |
11. Ma quỷ khôn ngoan giả trá, đôi khi rút lui trong một thời gian, để chúng ta tưởng rằng mình đã đạt được bình an và ngừng canh giữ con tim. Nhưng rồi chúng bất ngờ quay lại, tấn công linh hồn khốn khổ, và bắt lấy nó như người ta chộp một con chim sẻ. Khi đã chiếm được linh hồn, chúng kéo nó xuống không thương tiếc vào muôn vàn tội lỗi, còn tệ hơn những tội mà trước đây ta đã phạm và đã xin được tha thứ. Vì thế, chúng ta hãy đứng vững trong lòng kính sợ Thiên Chúa, và giữ gìn con tim mình cách cẩn trọng, siêng năng thực hành các nhân đức— là những khí giới ngăn chặn sự dữ của kẻ thù. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Mưu kế của ma quỷ: Thánh Isaia chỉ ra rằng ma quỷ thường giả vờ rút lui để khiến ta buông lơi cảnh giác. Khi linh hồn tưởng mình đã an toàn, chúng tấn công dữ dội hơn trước.→ Đây là nguyên tắc của chiến tranh thiêng liêng: “Ngay khi ngươi nghĩ mình đã bình an, chính lúc đó là nguy hiểm nhất.” “Giữ gìn con tim” (φυλάσσειν τὴν καρδίαν – phylássein tēn kardían) là trung tâm của linh đạo Đông phương – chính là thực hành tỉnh thức (nêpsis): canh chừng từng ý tưởng, từng cảm xúc, để không cho tà niệm bén rễ. Các nhân đức — khiêm nhường, tiết độ, cầu nguyện, sám hối — được xem là “thành lũy của linh hồn”, là tường thành bảo vệ trái tim khỏi quân thù vô hình. Câu “Hãy đứng vững trong lòng kính sợ Thiên Chúa” diễn tả thái độ liên lỉ của người chiêm niệm: không sợ hãi như nô lệ, nhưng kính sợ thánh thiện — sự run rẩy vì tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa. Lời các Thánh Phụ nói: “Khi ngươi thấy bình an đến, hãy canh chừng gấp đôi.” Vì bình an thật chỉ đến từ Chúa, còn bình an giả là mưu kế của kẻ dữ. |
|
|
12. Our teacher Jesus Christ, out of pity for mankind and knowing the utter mercilessness of the demons, severely commands us: ‘Be ready at every hour, for you do not know when the thief will come; do not let him come and find you asleep’ (cf. Matt. 24:42-43). He also says: ‘Take heed, lest your hearts be overwhelmed with debauchery and drunkenness and the cares of this life, and the hour come upon you unawares’ (cf. Luke 21:34). Stand guard, then, over your heart and keep a watch on your senses; and if the remembrance of God dwells peaceably within you, you will catch the thieves when they try to deprive you of it. When a man has an exact knowledge about the nature of thoughts,* he recognizes those which are about to enter and defile him, troubling the intellect with distractions and making it lazy. Those who recognize these evil thoughts for what they are remain undisturbed and continue in prayer to God. |
12. Thầy Chí Thánh của chúng ta là Đức Giêsu Kitô, vì lòng thương xót đối với nhân loại và biết rõ sự tàn nhẫn không chút thương hại của ma quỷ, đã nghiêm khắc truyền dạy chúng ta rằng: “Vậy oanh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu.” (x. Mt 24, 42–43) Ngài lại phán: “Vậy anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới k bất thần chụp xuống đầu anh em,” (x. Lc 21, 34) Vì thế, hãy canh giữ tâm hồn con và giữ mắt canh chừng các giác quan; và nếu ký ức về Thiên Chúa an ngự cách bình an trong lòng con, thì con sẽ nhận ra bọn trộm cướp khi chúng tìm cách cướp mất sự hiện diện ấy. Người nào có sự hiểu biết chính xác về bản chất của các tư tưởng, sẽ nhận ra ngay những ý nghĩ sắp sửa xâm nhập và làm ô uế tâm hồn, làm rối loạn trí tuệ và khiến nó trở nên lười biếng. Còn những ai nhận ra được các ý nghĩ gian ác ấy, biết rõ nguồn gốc và mục đích của chúng, thì vẫn giữ được bình an, và tiếp tục kiên trì cầu nguyện với Thiên Chúa. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Canh giữ tâm hồn” (φυλακὴ τῆς καρδίας – phylakē tēs kardías) là trọng tâm của linh đạo ẩn tu Đông phương: không phải chỉ là cảnh giác đạo đức, mà là tỉnh thức sâu xa, một sự chú tâm liên lỉ trong lòng, để không một tư tưởng nào vào được mà chưa được xét đoán. Đức Kitô ví ma quỷ như kẻ trộm: nó không phá cửa, nhưng lẻn vào qua sự lơ là — khi ta buông thả giác quan, hay mải mê với “các lo lắng của đời này”. “Ký ức về Thiên Chúa” (mneme Theou) là hơi thở của linh hồn cầu nguyện không ngừng. Khi ký ức ấy hiện diện trong tâm, mọi tư tưởng gian ác bị lộ diện; còn khi nó biến mất, linh hồn trở thành thành phố không tường lũy, dễ bị xâm chiếm. “Sự hiểu biết chính xác về bản chất của tư tưởng” chính là ơn phân định (diakrisis) – khả năng nhận ra từng ý tưởng đến từ đâu: từ Thiên Chúa → đem bình an và khiêm nhu, từ con người → trung tính và thoáng qua, từ ma quỷ → xáo trộn, kích động, và làm trí lười cầu nguyện. Khi người cầu nguyện nhận ra được sự xâm nhập ấy ngay từ đầu, và không đối thoại với nó, thì bình an của tâm vẫn được giữ vững, và lời cầu nguyện trở nên lặng lẽ, trong sáng và bền vững. |
|
|
(Philokalia Vol. 1, p.25) 13. Unless a man hates all the activity of this world, he cannot worship God. What then is meant by the worship of God? It means that we have nothing extraneous in our intellect when we are praying to Him: neither sensual pleasure as we bless Him, nor malice as we sing His praise, nor hatred as we exalt Him, nor jealousy to hinder us as we speak to Him and call Him to mind. For all these things are full of darkness; they are a wall imprisoning our wretched soul, and if the soul has them in itself it cannot worship God with purity. They obstruct its ascent and prevent it from meeting God; they hinder it from blessing Him inwardly and praying to Him with sweetness of heart, and so receiving His illumination. As a result the intellect is always shrouded in darkness and cannot advance in holiness, because it does not make the effort to uproot these thoughts by means of spiritual knowledge. |
(Philokalia Vol. 1, p.24) 13. Nếu một người chưa ghét bỏ toàn thể những hoạt động thuộc về thế gian này, thì người ấy không thể thờ phượng Thiên Chúa cách chân thật được. Vậy, “thờ phượng Thiên Chúa” nghĩa là gì? Nghĩa là khi chúng ta cầu nguyện với Ngài, trí tuệ (nous) của ta không còn bị lôi kéo bởi bất cứ điều gì bên ngoài:– Không còn khoái lạc giác quan khi chúc tụng Ngài; – Không còn ác ý khi ca ngợi Ngài; – Không còn hận thù khi tôn vinh Ngài; – Không còn ghen tương ngăn cản ta khi nói với Ngài và nhớ đến Ngài. Vì tất cả những điều đó đều đầy bóng tối; chúng là bức tường giam hãm linh hồn khốn khổ, và nếu linh hồn còn giữ chúng trong mình, thì nó không thể thờ phượng Thiên Chúa cách tinh tuyền. Những thứ ấy chặn đứng bước tiến của linh hồn, ngăn nó gặp gỡ Thiên Chúa, cản trở nó chúc tụng Ngài từ nội tâm, và không để nó cầu nguyện với một trái tim ngọt ngào, nên nó không thể đón nhận ánh sáng thần linh. Kết quả là, trí tuệ vẫn mãi bị bao phủ bởi bóng tối, không thể tiến triển trong sự thánh thiện, vì nó không chịu nỗ lực nhổ bỏ những ý tưởng ấy bằng tri thức thiêng liêng. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Ghét bỏ hoạt động của thế gian” không có nghĩa là khinh rẻ tạo vật, mà là từ bỏ mọi quyến luyến và ảo tưởng khiến tâm trí xa lìa Thiên Chúa. Người cầu nguyện thật không phải sống ngoài thế gian, mà là sống trong thế gian mà không bị thế gian chi phối. “Thờ phượng Thiên Chúa” (latreia tou Theou) trong linh đạo Đông phương không chỉ là cử hành phụng vụ, mà là sự kết hợp toàn thể hữu thể của con người với Thiên Chúa trong thanh khiết của tâm trí. Thờ phượng đích thực là trạng thái trong đó trí tuệ không còn tạp niệm, và mọi năng lực nội tâm đều quy hướng về Đấng Vô hình. Các đam mê như khoái lạc, ác ý, ghen ghét, kiêu ngạo — được Thánh Isaia gọi là “bức tường tối tăm” — vì chúng ngăn cản linh hồn hướng lên, che khuất ánh sáng của Thiên Chúa, khiến con người tự giam mình trong bóng tối nội tâm. “Tri thức thiêng liêng” (gnosis pneumatikē) chính là ơn soi sáng của Thánh Thần, giúp ta nhận ra và nhổ tận gốc các tư tưởng xấu ngay khi chúng vừa chớm nở. Không có sự phân định này, linh hồn sẽ mãi lang thang trong bóng tối của chính mình. 🕯 “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.” (Mt 5, 8) — Sự trong sạch ấy không chỉ là luân lý, mà là tâm trí được thanh luyện khỏi mọi hình ảnh và đam mê, để trở thành gương trong phản chiếu ánh sáng của Ngài. |
|
|
14. When the intellect rescues the soul’s senses from the desires of the flesh and imbues them with dispassion,* the passions shamelessly attack the soul, trying to hold its senses fast in sin; but if the intellect then continually calls upon God in secret, He, seeing all this, will send His help and destroy all the passions at once. |
14. Khi trí tuệ (nous) giải thoát các giác quan của linh hồn khỏi những dục vọng của xác thịt, và thấm nhuần cho chúng tinh thần vô tư dục (apatheia), thì các đam mê sẽ trơ trẽn nổi dậy tấn công linh hồn, cố sức giữ các giác quan trong vòng tội lỗi. Nhưng nếu trí tuệ khi ấy không ngừng âm thầm kêu cầu Thiên Chúa, thì Ngài, Đấng thấy biết mọi sự, sẽ ban ơn trợ giúp, và tiêu diệt toàn bộ các đam mê trong chốc lát. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Trí tuệ giải thoát các giác quan” nghĩa là tâm linh làm chủ thân xác, khiến các giác quan được thanh luyện và phục vụ Thiên Chúa thay vì dục vọng. Đây là tiến trình thánh hoá con người toàn diện: thân xác không bị khinh rẻ, nhưng được thần hoá (theosis) cùng với linh hồn. “Tinh thần vô tư dục” (apatheia) không phải là sự vô cảm, mà là tự do nội tâm khỏi sự lệ thuộc của đam mê — yêu mà không chiếm hữu, hưởng mà không dính mắc, cảm mà không nô lệ. Khi linh hồn đạt tới sự tĩnh lặng này, ma quỷ liền nổi giận; chúng cố khơi dậy dục vọng thể xác để kéo linh hồn trở lại xiềng xích. Đây là cuộc phản công cuối cùng của kẻ thù khi thấy ta sắp được giải thoát. Tuy nhiên, trí tuệ cầu nguyện âm thầm — tức lời cầu trong tâm (hesychia) — có sức mạnh lớn hơn mọi toan tính của ma quỷ. Khi con người kêu cầu Thiên Chúa bằng tâm trong sạch, thì ơn Chúa can thiệp tức thì, tiêu diệt tận gốc đam mê bằng ánh sáng và lửa của Thánh Thần. Đây chính là trạng thái cầu nguyện trong tâm mà các Thánh Phụ gọi là “kêu cầu Danh Chúa Giêsu trong thinh lặng của lòng”: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con, kẻ tội lỗi.” Lời cầu này, khi được thốt lên trong sự hiện diện thầm lặng của tâm, đốt cháy mọi mầm mống tội lỗi và trả lại bình an sâu thẳm cho linh hồn. 🕯 “Hãy ở yên và biết rằng Ta là Thiên Chúa.” (Tv 45, 11) — Khi tâm trí thôi vùng vẫy và núp trong Danh Thánh Chúa, Thánh Thần sẽ chiến đấu thay cho ta, và mọi đam mê sẽ tan biến như khói dưới ánh mặt trời. |
|
|
15. I entreat you not to leave your heart unguarded, so long as you are in the body. Just as a farmer cannot feel confident about the crop growing in his fields, because he does not know what will happen to it before it is stored away in his granary, so a man should not leave his heart unguarded so long as he still has breath in his nostrils. Up to his last breath he cannot know what passion will attack him; so long as he breathes, therefore, he must not leave his heart unguarded, but should at every moment pray to God for His help and mercy. |
15. Tôi khẩn thiết nài xin anh em: đừng bao giờ ngừng canh giữ con tim mình, bao lâu anh em còn ở trong thân xác này. Cũng như người nông dân không thể an tâm về mùa gặt trên cánh đồng của mình, vì ông không biết điều gì sẽ xảy đến với hoa màu trước khi nó được thu vào kho, thì cũng vậy, con người không nên để lòng mình thiếu cảnh giác, bao lâu hơi thở còn trong lỗ mũi. Cho đến hơi thở cuối cùng, người ta không thể biết được đam mê nào sẽ tấn công mình. Vì thế, bao lâu còn sống, hãy luôn canh giữ con tim, và không ngừng cầu xin Thiên Chúa trợ giúp và xót thương. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Thánh Isaia nhấn mạnh đến đức tỉnh thức liên lỉ (νῆψις – nêpsis), cốt lõi của linh đạo Đông phương. “Canh giữ con tim” không phải là một việc nhất thời, mà là hơi thở thiêng liêng của người sống trong cầu nguyện. Cũng như người nông dân không dám tự mãn trước mùa gặt, vì biết rằng một cơn gió, một cơn bão, hay một cơn sâu bệnh có thể hủy hoại tất cả, thì linh hồn cũng không bao giờ được tự mãn trong nhân đức. Kẻ thù vô hình luôn rình rập để tấn công khi ta buông lơi cảnh giác. Thánh nhân nói: “Bao lâu còn hơi thở, đừng để tâm không được canh giữ.” Điều này phản ánh kinh nghiệm sâu sắc của các Thánh Phụ sa mạc: ngay cả khi đã đạt đến sự bình an nội tâm, ma quỷ vẫn tìm cách cám dỗ trong giờ lâm tử — vì thế tỉnh thức cho đến phút cuối là dấu của người đã thật sự sống trong Thần Khí. Lời cầu nguyện liên lỉ — “Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con” — chính là hàng rào thiêng liêng bảo vệ con tim. Khi Danh Thánh Chúa được khắc sâu trong lòng, không một tư tưởng nào có thể lẻn vào mà không bị nhận ra. 🕯 “Hỡi anh em, hãy làm việc cho phần rỗi mình trong niềm kính sợ và run rẩy.” (Pl 2, 12) — Vì không ai an toàn khi còn sống, và sự tỉnh thức cuối cùng là hoa trái của khiêm nhường sâu xa: nhận biết rằng ta cần ơn Chúa trong từng hơi thở. |
|
|
16. He who receives no help when. at war should feel no confidence when at peace. |
16. Kẻ nào không nhận được sự trợ giúp trong lúc giao chiến, thì chớ nên tự tin khi đang ở trong thời bình. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Câu nói ngắn gọn này hàm chứa một chân lý sâu xa về đời sống nội tâm: người nào không tìm đến Thiên Chúa trong lúc bị tấn công bởi đam mê, thử thách hay cám dỗ, thì không thể tin rằng mình an toàn khi tâm hồn đang yên ổn. “Thời chiến” tượng trưng cho khi linh hồn bị ma quỷ và dục vọng tấn công. “Thời bình” là lúc tâm hồn tưởng rằng mình được an ổn, không còn xáo trộn. Thánh Isaia cảnh báo: bình an mà không có ơn Chúa nâng đỡ chỉ là ảo tưởng. Người không biết kêu cầu Chúa trong chiến trận nội tâm — qua cầu nguyện, khiêm nhường, và sám hối — thì ngay cả trong những giây phút yên bình, vẫn đang đứng trên bờ vực sụp đổ, vì sức bình an ấy đến từ tự mãn, chứ không phải từ ân sủng. Trái lại, người đã học được cách nương tựa vào Thiên Chúa trong thử thách, thì ngay cả trong bình an, họ vẫn giữ được sự tỉnh thức, vì họ biết ai là Đấng đã bảo vệ mình. 🕯 “Khi con yếu đuối, chính là lúc con mạnh mẽ.” (2 Cr 12, 10) — Bởi sức mạnh thật của linh hồn không đến từ an toàn, mà đến từ ơn trợ giúp của Thiên Chúa giữa chiến trận. |
|
|
17. When a man severs himself from evil, he gains an exact understanding of all the sins he has committed against God; for he does not see his sins unless he severs himself from them with a feeling of revulsion. Those who have reached this level pray to God with tears, and are filled with shame when they recall their evil love of the passions. Let us therefore pursue the spiritual way with all our strength, and God in His great mercy will help us. And if we have not guarded our hearts as our fathers guarded theirs, at least in obedience to God let us do all we can to keep our bodies sinless, trusting that at this time of spiritual dearth He will grant mercy to us together with His saints. |
17. Khi con người tách mình khỏi sự dữ, họ sẽ đạt tới sự hiểu biết chính xác về mọi tội lỗi mình đã phạm nghịch cùng Thiên Chúa; vì người ta không thể thật sự thấy được tội lỗi của mình, nếu chưa dứt bỏ chúng với một cảm giác ghê tởm sâu xa. Những ai đạt tới mức này sẽ cầu nguyện cùng Thiên Chúa trong nước mắt, và đầy xấu hổ khi nhớ lại lòng mê đắm tội lỗi mà họ đã từng yêu thích. Vì thế, chúng ta hãy dốc toàn sức mình bước đi trên con đường thiêng liêng, và Thiên Chúa, trong lòng thương xót bao la của Ngài, sẽ trợ giúp chúng ta. Và nếu chúng ta chưa gìn giữ con tim như các tổ phụ đã gìn giữ, thì ít ra, trong tinh thần vâng phục Thiên Chúa, chúng ta hãy cố gắng hết sức để giữ thân xác mình khỏi tội lỗi, tin tưởng rằng, trong thời khô cằn thiêng liêng này, Ngài sẽ thương xót chúng ta cùng với các thánh của Ngài. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Tách mình khỏi sự dữ” không chỉ là ngừng phạm tội, mà là đoạn tuyệt tận gốc — cả trong ý hướng, tư tưởng, và cảm xúc. Khi linh hồn thật sự chán ghét tội lỗi, không còn nuối tiếc nó, thì con mắt tâm linh (nous) được mở ra để thấy chính mình. Như người bệnh, khi khỏi sốt, mới biết mình đã từng yếu đến mức nào. “Hiểu biết chính xác về tội lỗi” là ơn soi sáng nội tâm: ánh sáng Thiên Chúa chiếu rọi vào chỗ tối của linh hồn, khiến người ta không tự biện minh nữa, mà rơi lệ vì tình yêu bị xúc phạm. Những người đạt đến nhận thức này không còn sợ hình phạt, mà đau buồn vì đã yêu điều đáng ghét, như Thánh Phêrô đã “ra ngoài và khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,62). Thánh Isaia cho thấy một tinh thần khiêm nhường sâu sắc: nếu chúng ta chưa đạt được sự tỉnh thức của các Thánh Phụ, thì ít nhất hãy giữ gìn thân xác trong sạch, nghĩa là đừng để các hành động bên ngoài phản bội niềm tin bên trong. Cụm từ “thời khô cằn thiêng liêng” (kairos limou pneumatikou) ám chỉ thế hệ yếu đức tin, thời mà ơn sốt sắng hiếm hoi, và lòng sám hối nguội lạnh. Tuy vậy, Thánh Isaia khích lệ: Chúa sẽ thương xót cả những kẻ yếu đuối, nếu họ thành tâm chiến đấu trong khiêm nhu và trung tín. 🕯 “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.” (Tv 51, 19) — Vì Thiên Chúa không đòi hỏi sự hoàn hảo, mà đòi hỏi con tim biết hối hận và kêu cầu lòng thương xót Ngài. |
|
|
(Philokalia, Vol 1, page 26) 18. Once you have begun to seek God with true devotion and with all your heart, then you cannot possibly imagine that you already conform to His will. So long as your conscience reproves you for anything that you have done contrary to nature, you are not yet free: the reproof means that you are still under trial and have not yet been acquitted. But if you find when you are praying that nothing at all accuses you of evil, then you are free and by God’s will have entered into His peace. If you see growing within yourself a good crop, no longer choked by the tares of the evil one; if you find that the demons have reluctantly withdrawn, convinced that it is no use making further attacks on your senses; if ‘a cloud overshadows your tent (cf. Exod. 40:34), and ‘the sun does not bum you by day, nor the moon by night’ (Ps. 121:6); if you find yourself equipped to pitch your tent and keep it as God wishes – if all this has happened, then you have gained the victory with God’s help, and henceforward He will Himself overshadow your tent, for it is His. So long as the contest continues, a man is full of fear and trembling, wondering whether he will win today or be defeated, whether he will win tomorrow or be defeated: the struggle and stress constrict his heart. But when he has attained dispassion, the contest comes to an end; he receives the prize of victory and has no further anxiety about the three that were divided, for now through God they have made peace with one another. These three are the soul, the body and the spirit. When they become one through the energy of the Holy Spirit, they cannot again be separated. Do not think, then, that you have died to sin, so long as you suffer violence, whether waking or sleeping, at the hands of your opponents. For while a man is still competing in the arena, he cannot be sure of victory. |
(Philokalia, Vol 1, page 26) 18. Khi con bắt đầu tìm kiếm Thiên Chúa với lòng sùng kính thật và hết tâm hồn, thì con đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã hoàn toàn hợp với thánh ý Ngài. Bao lâu lương tâm còn trách con về điều gì trái với bản tính tự nhiên, thì con vẫn chưa được tự do; vì lời trách ấy là dấu cho thấy con vẫn còn đang trong cuộc thử luyện, và chưa được tuyên trắng án. Nhưng nếu, khi cầu nguyện, con không thấy điều gì trong lòng lên án mình, thì con đã được tự do, và nhờ thánh ý Thiên Chúa, con đã được đưa vào sự bình an của Ngài. Nếu con thấy trong lòng một mùa gặt tốt lành đang sinh trưởng, không còn bị nghẹt bởi cỏ dại của kẻ ác; nếu con nhận ra rằng các ma quỷ đã miễn cưỡng rút lui, biết rằng chúng không còn lợi gì khi tấn công các giác quan của con nữa; nếu “đám mây bao phủ lều ngươi” (x. Xh 40,34), và *“mặt trời không thiêu đốt ngươi ban ngày, mặt trăng không hại ngươi ban đêm” (Tv 121,6); nếu con nhận thấy mình được chuẩn bị để dựng lều của mình và gìn giữ nó theo ý Thiên Chúa — thì mọi điều ấy cho thấy con đã chiến thắng nhờ ơn trợ giúp của Thiên Chúa, và từ đây, chính Ngài sẽ bao phủ lều của con, vì lều ấy thuộc về Ngài. Bao lâu cuộc chiến còn tiếp diễn, con người vẫn đầy sợ hãi và run rẩy, không biết hôm nay mình sẽ thắng hay bại, ngày mai sẽ chiến thắng hay sa ngã; cuộc vật lộn và căng thẳng ấy bóp nghẹt trái tim. Nhưng khi con đạt tới sự vô tư dục (apatheia), cuộc chiến chấm dứt; con nhận lãnh triều thiên chiến thắng, và không còn lo âu về “ba phần từng bị chia rẽ”, vì nay nhờ Thiên Chúa, chúng đã hoà giải với nhau. Ba phần ấy là: linh hồn, thân xác và thần trí. Khi ba phần này trở nên một trong năng lực của Chúa Thánh Thần, chúng không còn có thể bị chia tách nữa. Vì thế, đừng nghĩ rằng con đã chết đối với tội lỗi, bao lâu con vẫn còn chịu sự tấn công, dù khi thức hay trong giấc ngủ, từ phía kẻ thù của con. Vì khi con người còn đang thi đấu trong đấu trường, họ chưa thể chắc chắn về chiến thắng. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Thánh Isaia mở đầu bằng lời cảnh tỉnh mạnh mẽ chống lại ảo tưởng thiêng liêng (prelest – mê lầm tâm linh): ngay cả khi ta thành tâm tìm Chúa, chớ tưởng rằng mình đã hoàn toàn làm theo ý Ngài. Lương tâm chính là tiếng nói của Thần Khí, nếu nó còn trách, nghĩa là vẫn còn vết thương cần chữa lành. Tự do nội tâm không phải là cảm giác yên bình, mà là tình trạng không còn bị tội lỗi chi phối; nó chỉ đến khi ánh sáng Thiên Chúa bao phủ trọn tâm hồn, và lương tâm ngừng lên án vì không còn chỗ cho điều bất chính. Hình ảnh “lều” (tent) là linh hồn — nơi Thiên Chúa ngự. Khi đám mây (biểu tượng của Thần Khí trong Xh 40,34) bao phủ, nghĩa là linh hồn đã trở thành đền thánh của Thiên Chúa; mặt trời (tượng trưng cho đam mê nóng bỏng) và mặt trăng (biểu tượng của ảo tưởng và tà niệm ban đêm) không còn quyền gây hại nữa. “Sự vô tư dục (apatheia)” không phải là tê liệt cảm xúc, mà là tự do hoàn toàn khỏi đam mê, để linh hồn, thân xác, và thần trí trở nên một nhịp thở trong Chúa Thánh Thần. Đó là sự hoà bình toàn vẹn mà Thánh Isaia gọi là “kết thúc của chiến trận.” Tuy nhiên, Thánh nhân cảnh báo: đừng tưởng mình đã chết cho tội lỗi chừng nào vẫn còn cảm thấy bị tấn công — vì ma quỷ chỉ ngừng khi linh hồn hoàn toàn được thần hoá trong vinh quang. Còn đang chiến đấu, nghĩa là vẫn cần ơn Chúa từng ngày. 🕯 “Và bình an của Thiên Chúa là bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.” (Pl 4, 7) — Bình an thật ấy chỉ đến sau khi chiến trận kết thúc trong lòng, khi ba phần của con người – thân, hồn và thần trí – cùng hát một khúc ca trong Thánh Thần. |
|
|
19. When the intellect grows strong, it makes ready to pursue the love which quenches all bodily passions and which prevents anything contrary to nature from gaining control over the heart. Then the intellect, struggling against what is contrary to nature, separates this from what is in accordance with nature. |
19. Khi trí tuệ (nous) trở nên vững mạnh, nó sẵn sàng bước vào cuộc hành trình tìm kiếm tình yêu, tình yêu có sức dập tắt mọi dục vọng xác thịt, và ngăn chặn mọi điều trái với bản tính khỏi thống trị con tim. Bấy giờ, trí tuệ, trong cuộc chiến chống lại những gì nghịch với bản tính, sẽ phân biệt rõ ràng giữa điều tự nhiên và điều phi tự nhiên, tách biệt sự dữ khỏi điều thiện hảo theo trật tự Thiên Chúa. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Trí tuệ (nous) trở nên vững mạnh” là hình ảnh của linh hồn đã được thanh luyện, không còn bị lôi kéo bởi cảm xúc và tư tưởng hỗn độn. Khi đó, nous có khả năng hướng trọn về Thiên Chúa, như “con mắt trong suốt” mà Chúa Giêsu nói đến: “Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng.” (Mt 6,22) “Tình yêu dập tắt mọi dục vọng xác thịt” chính là tình yêu thiêng liêng (agapē pneumatikē), không đến từ cảm xúc tự nhiên, nhưng từ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tâm. Khi tình yêu này ngự trị, mọi khuynh hướng bất chính đều tan biến, vì lửa của Thần Khí đốt cháy những ham muốn sai lạc. Trong linh đạo Đông phương, “điều tự nhiên” (kata physin) là trạng thái nguyên thủy mà Thiên Chúa đặt để trong con người, nơi trí tuệ làm chủ, linh hồn thuận phục, và thân xác vâng phục trong trật tự hài hoà. Còn “điều trái với bản tính” (para physin) là sự đảo lộn do tội lỗi: khi thân xác thống trị linh hồn, và dục vọng làm chủ lý trí. Do đó, trí tuệ được thanh luyện có nhiệm vụ phân biệt hai trật tự này trong chính bản thân mình — điều gì thuộc về Thiên Chúa, và điều gì thuộc về sự sa ngã. Đây là bước đầu của ơn phân định (diakrisis), vốn là ánh sáng dẫn lối cho sự hoàn thiện thiêng liêng. Cuộc chiến của trí tuệ là hành trình trở về trật tự nguyên thuỷ, khi tình yêu Thiên Chúa trở thành nguyên lý sống, và mọi năng lực của con người được quy hướng về Ngài trong sự bình an. 🕯 “Lửa của tình yêu Thiên Chúa thiêu đốt mọi lửa khác.” — Thánh Isaia cho thấy rằng tình yêu thiêng liêng không chỉ là cảm xúc, mà là năng lực thần linh, giải phóng tâm trí khỏi mọi đam mê, để nó có thể nhìn thấy mọi sự trong ánh sáng của Thiên Chúa. |
|
|
20. Examine yourself daily in the sight of God, and discover which of the passions is in your heart. Cast it out, and so escape His judgment. |
20. Hằng ngày, hãy xét mình trước mặt Thiên Chúa, và hãy nhận ra đam mê nào đang ẩn náu trong lòng con. Hãy trục xuất nó ra khỏi tâm hồn, để thoát khỏi án xét xử của Ngài. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Thánh Isaia dạy về nghệ thuật xét mình nội tâm (ἐξέτασις – exétasis) — một thực hành căn bản của đời sống tỉnh thức. Không phải là xét tội bề ngoài, mà là soi chiếu tâm hồn trước ánh sáng của Thiên Chúa, để nhận ra những đam mê tinh vi còn ẩn sâu bên trong. Cụm từ “trước mặt Thiên Chúa” rất quan trọng: việc xét mình không phải là tự kiểm điểm bằng lý trí, mà là đặt mình trong sự hiện diện của Ngài, trong ánh sáng vừa hiền lành vừa khắt khe của Thần Khí, Đấng “thấu suốt mọi điều, kể cả những điều sâu kín của Thiên Chúa” (1 Cr 2,10). “Khám phá đam mê trong lòng” là công việc suốt đời của người cầu nguyện. Các Thánh Phụ nói rằng: “Ai thấy được tội trong lòng mình, người ấy vĩ đại hơn kẻ làm phép lạ.” Vì chỉ nhờ ánh sáng nội tâm, ta mới nhận ra những chuyển động nhỏ bé nhưng nguy hiểm: kiêu ngạo, phán xét, tự mãn, thèm được người khác ca ngợi… “Hãy trục xuất nó ra khỏi tâm hồn” không có nghĩa là cố gắng bằng sức riêng, mà là đem nó ra trước mặt Thiên Chúa, xưng thú trong khiêm nhường, và xin ơn giải thoát qua cầu nguyện và nước mắt sám hối. Chính ánh sáng của Ngài đuổi bóng tối ra ngoài, chứ không phải ý chí tự lực của ta. Nhờ đó, linh hồn thoát khỏi án xét xử, không phải vì nó vô tội, mà vì nó sống trong sự thật. Ai tự xét mình hằng ngày với tâm khiêm nhu, thì sẽ không bị xét xử trong Ngày của Chúa (1 Cr 11,31–32). 🕯 “Lạy Chúa, xin soi sáng bóng tối trong con.” — Cầu nguyện này là tâm nguyện của người tỉnh thức, người biết rằng ơn cứu độ không hệ tại ở việc không có tội, mà ở sự can đảm để nhìn thẳng vào tội mình trong ánh sáng của Thiên Chúa. |
|
|
21. Be attentive to your heart and watch your enemies, for they are cunning in their malice. In your heart be persuaded of this: it is impossible for a man to achieve good through evil means. That is why our Savior told us to be watchful, saying: ‘Strait is the gate, and narrow is the way that leads to life, and few there are that find it (Matt. 7:14). |
21. Hãy chú ý canh giữ con tim mình, và hãy quan sát kẻ thù của con, vì chúng đầy mưu mô gian xảo trong ác tâm. Trong lòng con, hãy xác tín điều này: con người không thể nào đạt được điều thiện bằng những phương tiện xấu. Chính vì thế, Đấng Cứu Độ của chúng ta đã dạy: “Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.” (Mt 7,14) |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Hãy chăm chú canh giữ con tim” (phylássein tēn kardían) là trọng tâm của linh đạo sa mạc — nghĩa là sống trong sự tỉnh thức liên lỉ, luôn ý thức về những chuyển động nội tâm, để không một ý tưởng hay cảm xúc nào xâm nhập mà chưa được phân định. “Kẻ thù” ở đây không chỉ là ma quỷ, mà còn là các tư tưởng và khuynh hướng sai lạc phát sinh từ lòng mình. Chúng rất tinh vi và quỷ quyệt: đôi khi ngụy trang dưới dáng vẻ của điều thiện, khiến linh hồn tưởng mình đang làm điều tốt, nhưng thực ra đang chiều theo kiêu ngạo, xét đoán, hoặc tự tôn thiêng liêng. Vì vậy, Thánh Isaia cảnh báo: “Không ai có thể đạt được điều thiện bằng phương tiện xấu.” Đây là nguyên tắc căn bản của đời sống tâm linh: Không thể cầu nguyện trong kiêu ngạo mà mong gặp được Thiên Chúa khiêm nhu. Không thể giành chiến thắng thiêng liêng bằng thủ đoạn, xét đoán, hay thù ghét. Không thể làm việc đạo đức để tìm vinh quang cho mình, mà mong được kết hợp với Đấng chịu sỉ nhục trên thập giá. Chính vì thế, Đức Kitô nói: “Cửa hẹp và đường chật” — vì con đường dẫn đến sự sống không chấp nhận thoả hiệp giữa thiện và ác. “Hẹp” là vì chỉ một con tim khiêm nhu và thanh sạch mới có thể đi qua; “chật” là vì phải bỏ lại mọi đam mê, mọi mưu kế, mọi toan tính tự nhiên. Ít người tìm thấy được vì phần lớn muốn đạt tới Thiên Chúa mà vẫn giữ lại chính mình, trong khi con đường thật dẫn đến Ngài chỉ mở ra qua việc chết đi cho chính ý riêng. 🕯 “Con đường dẫn đến Thiên Chúa là con đường của thập giá; ai tìm đường khác sẽ bị lạc.” — Vì vậy, người canh giữ con tim phải luôn nhớ rằng: mưu mô và thiện hảo không bao giờ chung sống được trong cùng một linh hồn. |
|
|
22. Be attentive to yourself, so that nothing destructive can separate you from the love of God. Guard your heart, and do not grow listless and say: ‘How shall I guard it, since I am a sinner?’ For when a man abandons his sins and returns to God, his repentance regenerates him and renews him entirely. |
22. Hãy chú ý vào bản thân, để không điều gì phá hoại có thể tách con ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Hãy canh giữ con tim, và đừng lười biếng mà nói: “Làm sao tôi có thể giữ được lòng mình, bởi tôi là kẻ tội lỗi?” Vì khi con người từ bỏ tội lỗi và trở về cùng Thiên Chúa, sự sám hối chân thật sẽ tái sinh họ, và đổi mới họ hoàn toàn. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Câu mở đầu “Hãy chăm chú vào chính mình” (proséche seautō) là mệnh lệnh cốt lõi của đời sống nội tâm Đông phương. Đây là lời kêu gọi tỉnh thức trọn vẹn, nhắc ta đừng hướng ra ngoài, mà quay vào trong, nơi Thiên Chúa ngự trong thâm sâu của linh hồn. “Không điều gì phá hoại tách con khỏi tình yêu Thiên Chúa” nhắc đến lời Thánh Phaolô: “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rm 8,38–39). Nhưng Thánh Isaia nhấn mạnh: điều duy nhất có thể làm điều đó chính là chính ta — khi chúng ta buông xuôi, bỏ canh giữ tâm hồn. Cơn cám dỗ lớn nhất trong đời sống thiêng liêng không phải là tội lỗi, mà là sự chán nản, tuyệt vọng và tự kết án bản thân, khiến ta ngừng cầu nguyện, ngừng chiến đấu. Vì thế, thánh nhân nói: “Đừng nói: ‘Tôi là kẻ tội lỗi, làm sao giữ được lòng mình?’” — vì tư tưởng ấy đến từ ma quỷ, kẻ muốn ta ngừng cố gắng và chìm trong tự ti. Sám hối chân thật (metanoia) không chỉ là hối tiếc, mà là sự biến đổi bản thể của tâm hồn: một sự tái sinh nội tâm nhờ ân sủng Thánh Thần. Khi con người quay lại với Thiên Chúa bằng lòng thống hối chân thành, họ được đổi mới hoàn toàn — tâm hồn trở nên mảnh đất mới, nơi ơn cứu độ mọc lên như mầm xanh. Như Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Không có tội nào thắng được lòng sám hối; vì nơi nào nước mắt rơi, ở đó Thần Khí đổi mới con người.” 🕯 “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ” (Tv 51,12) — Vì sám hối không chỉ xoá tội, mà làm cho linh hồn được sinh lại từ ánh sáng và bình an của Thiên Chúa. |
|
|
(Philokalia, Vol1, page 27) 23. Holy Scripture speaks everywhere about the guarding of the heart, in both the Old and the New Testaments. David says in the Psalms: ‘0 sons of men, how long will you be heavy of heart?’ (Ps. 4:2. LXX), and again: ‘Their heart is vain’ (Ps. 5:9. LXX); and of those who think futile thoughts, he says: ‘For he has said in his heart, I shall not be moved’ (Ps. 10:6), and: ‘He has said in his heart, God has forgotten’ (Ps. 10:11). A monk should consider the purpose of each text in Scripture, to whom it speaks and on what occasions. He should persevere continually in the ascetic struggle and be on his guard against the provocations of the enemy. Like a pilot steering a boat through the waves, he should hold to his course, guided by grace. Keeping his attention fixed within himself, he should commune with God in stillness, guarding his thoughts from distraction and his intellect from curiosity. |
(Philokalia, Vol1, page 27) 23. Thánh Kinh ở khắp nơi, cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, đều nói đến việc canh giữ con tim. Đavít trong Thánh Vịnh đã nói: “Phàm nhân hỡi, cho đến bao giờ lòng vẫn còn chai đá ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối?” (Tv 4,3), và lại nói: “Lòng họ là hư không.” (Tv 5,9 – LXX). Còn về những kẻ suy tưởng điều phù phiếm, ông nói: “họ còn tự nhủ: “Ta không hề nao núng, chẳng đời nào phải hoạn nạn đâu!”” (Tv 10,6) và: “Nó nhủ thầm: “Thiên Chúa đã quên, Người che mặt, chẳng bao giờ thấy nữa.” (Tv 10,11) Người đan sĩ phải xem xét mục đích của từng đoạn Kinh Thánh, xem lời ấy được nói với ai, và trong hoàn cảnh nào. Người ấy phải kiên trì không ngừng trong cuộc chiến khổ hạnh, và luôn cảnh giác trước những khiêu khích của kẻ thù. Như người hoa tiêu lái con thuyền giữa sóng gió, vị đan sĩ phải giữ vững hướng đi, được ơn thánh soi dẫn và nâng đỡ. Giữ tâm trí mình hướng vào nội tâm, người ấy hiệp thông với Thiên Chúa trong thinh lặng, giữ gìn tư tưởng khỏi tán loạn, và ngăn trí tuệ khỏi tò mò vô ích. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): Thánh Isaia khẳng định rằng việc “giữ con tim” không phải là một sáng kiến tu sĩ, mà là mệnh lệnh của toàn bộ Mạc Khải. Từ các Thánh Vịnh cho đến lời Đức Kitô, Thiên Chúa luôn mời gọi con người hướng về nội tâm, vì chính trong lòng mà Ngài ngự (Lc 17,21). Trong Thánh Vịnh, Đavít vạch ra tình trạng của con tim chưa được thanh luyện: “Nặng nề” vì vướng bận xác thịt; “Hư không” vì bị lấp đầy bởi tư tưởng phù phiếm; “Không lay chuyển” vì tự mãn kiêu ngạo; “Thiên Chúa đã quên” vì mất cảm thức thiêng liêng. — Tất cả đều là dấu hiệu của một tâm hồn chưa biết canh giữ chính mình. Thánh Isaia dạy người đan sĩ (và mọi tín hữu) rằng: đọc Kinh Thánh không phải chỉ để hiểu chữ, mà để soi tâm. Mỗi câu Kinh Thánh là tấm gương phản chiếu nội tâm, vì “Lời Chúa là ngọn đèn soi bước con đi” (Tv 118,105). Hình ảnh người hoa tiêu giữa sóng gió rất đặc trưng cho linh đạo hesychasm: người cầu nguyện giữ vững hướng đi trong thinh lặng, không để sóng gió của tư tưởng và cảm xúc làm chệch đường. Ơn thánh chính là ngọn gió nhẹ hướng con thuyền linh hồn về Thiên Chúa. “Giữ trí khỏi tò mò” là một điều đặc biệt quan trọng trong Philokalia: vì tò mò là sự phân tán của tâm trí, khiến nó mất khả năng chiêm niệm. Thay vì nhìn ra ngoài, người cầu nguyện phải học nhìn vào trong, nơi “ánh sáng của lòng” (phōs tēs kardias) soi chiếu bởi Thánh Thần. 🕯 “Hãy gìn giữ tim con cho thật kỹ, vì từ đó mà sự sống phát sinh.” (Cn 4,23) — Khi con tim được giữ gìn trong thinh lặng, Lời Chúa trở thành hoa tiêu, và ơn thánh trở thành gió lành đưa linh hồn về bến bình an. |
|
|
24. In storms and squalls we need a pilot, and in this present life we need prayer; for we are susceptible to the provocations of our thoughts, both good and bad. If our thought is full of devotion and love of God, it rules over the passions. As hesychasts, we should discriminate between virtue and vice with discretion and watchfulness; and we should know which virtues to practice when in the presence of our brethren and elders and which to pursue when alone. We should know which virtue comes first, and which second or third; which passions attack the soul and which the body, and also which virtues concern the soul and which the body. We should know which virtue pride uses in order to assault the intellect, and which virtue leads to vainglory, wrath or gluttony. For we ought to purify our thoughts from ‘all the self-esteem that exalts itself against the knowledge of God’ (2 Cor. 10:5). |
24. Giữa bão tố và cuồng phong, ta cần có người hoa tiêu; cũng vậy, trong cuộc đời hiện tại, ta cần đến lời cầu nguyện. Vì chúng ta dễ bị lay động bởi những thúc đẩy của tư tưởng, dù là tốt hay xấu. Nếu tư tưởng của ta đầy lòng đạo đức và tình yêu Thiên Chúa, nó sẽ thống trị được các đam mê. Là người thực hành tĩnh nguyện (hesychast), chúng ta phải phân biệt rõ giữa nhân đức và tội lỗi, bằng sự phân định sáng suốt (diakrisis) và tâm tỉnh thức (nêpsis). Chúng ta cần biết nhân đức nào nên thực hành khi ở giữa anh em và bậc trưởng thượng, và nhân đức nào cần nuôi dưỡng khi ở một mình. Chúng ta cũng phải biết trật tự của các nhân đức: nhân đức nào đến trước, nhân đức nào kế tiếp, nhân đức nào thuộc về linh hồn, và nhân đức nào thuộc về thân xác. Cũng vậy, phải biết đam mê nào tấn công linh hồn, đam mê nào tấn công thân xác; biết đức hạnh nào bị kiêu ngạo lợi dụng để đánh lừa trí tuệ, và nhân đức nào dễ trở thành nguồn của hư danh, giận dữ hay tham ăn. Vì chúng ta phải thanh luyện tư tưởng mình khỏi mọi tự tôn, khỏi “mọi sự kiêu ngạo tự tôn lên chống lại sự hiểu biết về Thiên Chúa.” (2 Cr 10,5) |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): “Giữa bão tố và cuồng phong, ta cần hoa tiêu” là hình ảnh của linh hồn giữa những sóng dữ của tư tưởng (logismoi). Lời cầu nguyện là người hoa tiêu, ân sủng là gió, và Thiên Chúa là đích đến. Không có cầu nguyện, linh hồn trôi dạt vô hướng giữa cảm xúc và vọng tưởng. “Những thúc đẩy của tư tưởng, dù tốt hay xấu” — Thánh Isaia chỉ ra rằng ngay cả tư tưởng tốt cũng có thể là cạm bẫy, nếu nó sinh ra từ kiêu ngạo, tự mãn hay hư danh. Vì thế, cần phân định từng ý nghĩ, xem nó đến từ Thần Khí, từ bản năng tự nhiên, hay từ ma quỷ trá hình. Người tĩnh nguyện (hesychast) — tức người sống trong thinh lặng cầu nguyện liên lỉ — không chỉ dừng lại ở việc “làm điều tốt”, mà còn học biết khi nào, ở đâu, và trong tâm thế nào để sống nhân đức. Giữa cộng đoàn: cần khiêm nhu, phục tùng và hiền hoà. Trong cô tịch: cần chuyên tâm cầu nguyện, chay tịnh và sám hối. Đây là phân định cụ thể của bậc trưởng thành thiêng liêng. Thánh nhân còn dạy về trật tự các nhân đức: vì linh đạo không phải là hỗn độn, mà là một hành trình có thứ tự hướng lên Thiên Chúa. Đầu tiên: tiết độ (sōphrosynē) — thanh luyện giác quan. Tiếp đến: khiêm nhường — chữa lành trí tuệ. Sau đó: tình yêu — kết hiệp với Thiên Chúa. Cũng vậy, biết phân biệt đam mê của thân xác (dục vọng, tham ăn, lười biếng) với đam mê của linh hồn (kiêu ngạo, xét đoán, hư danh) là điều thiết yếu. Cảnh báo của thánh nhân rất sâu sắc: “Hãy biết nhân đức nào mà kiêu ngạo lợi dụng để tấn công trí tuệ.” Nghĩa là: ngay trong việc đạo đức, kiêu ngạo vẫn có thể ẩn mình. Người ta có thể cầu nguyện để được khen, nhịn ăn để tự cao, phục vụ để chứng tỏ bản thân — và khi ấy, ma quỷ đã đổi mặt nạ, mặc áo thiên thần. Cuối cùng, “thanh luyện tư tưởng khỏi tự tôn” chính là bảo vệ cửa vào của tâm trí, không để “tôi” chiếm chỗ của “Ngài.” Vì mọi sự tự tôn đều chống lại tri thức về Thiên Chúa, và tri thức thật chỉ sinh ra trong khiêm nhu và vâng phục. 🕯 “Trong cơn bão của tư tưởng, chỉ người biết cầu nguyện trong thinh lặng mới giữ được hướng đi.” — Thánh Isaia nhắc ta rằng: ân sủng là người hoa tiêu, và trí tuệ khiêm nhu là con thuyền duy nhất có thể đi đến bình an của Thiên Chúa. |
|
|
25. The first virtue is detachment, that is, death in relation to every person or thing. This produces the desire for God, and this in turn gives rise to the anger that is in accordance with nature, and that flares up against all the tricks of the enemy. Then the fear of God will establish itself within us, and through this fear love will be made manifest. |
25. Nhân đức thứ nhất là sự ly thoát, nghĩa là một sự chết đối với mọi người và mọi sự. Từ sự ly thoát này, sinh ra lòng khát khao Thiên Chúa, và từ lòng khát khao ấy, nảy sinh “cơn giận tự nhiên” — một ngọn lửa thánh thiện bừng cháy chống lại mọi mưu kế của kẻ thù. Khi đó, lòng kính sợ Thiên Chúa sẽ được thiết lập trong ta, và chính nhờ lòng kính sợ này, tình yêu đích thực sẽ được biểu lộ. |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): 1. “Sự ly thoát” – cội nguồn của mọi nhân đức: Từ Hy Lạp, apatheia (vô tư dục) và aphotismos (tách rời) diễn tả sự giải thoát của tâm khỏi mọi quyến luyến — không phải chối bỏ thế giới, nhưng chết đối với sự chiếm hữu và lệ thuộc. Người đạt tới “sự chết đối với mọi người và mọi sự” không còn yêu theo xác thịt, mà yêu trong Thiên Chúa, nhìn mọi tạo vật như ánh phản chiếu của Ngài, không còn bị chúng ràng buộc. Như các Thánh Phụ dạy: “Ngươi chưa thật sự yêu Thiên Chúa, nếu ngươi còn lệ thuộc vào bất cứ điều gì không phải là Ngài.” 2. Từ ly thoát đến khát khao Thiên Chúa: Khi con tim trống khỏi mọi sự, một khát vọng thiêng liêng tự nhiên xuất hiện — khát khao Đấng Vô Hạn, khát khao được kết hiệp với Thiên Chúa. Đây là lửa nội tâm của người cầu nguyện, khiến họ tìm kiếm Thiên Chúa ngày đêm, không thoả mãn với bất cứ sự gì thụ tạo. Sự khát khao này là bình minh của tình yêu thiêng liêng. Như Thánh Isaac Syri nói: “Khi linh hồn đã từ bỏ thế gian, nó sẽ được lửa khát khao Thiên Chúa đốt cháy không ngừng.” 3. “Cơn giận theo tự nhiên” – ngọn lửa hộ vệ tâm linh: “Cơn giận” ở đây không phải là phẫn nộ trần tục, mà là sức mạnh đạo đức mà Thiên Chúa đặt trong con người để chống lại tội lỗi. Khi được hướng đúng, nó trở thành năng lực bảo vệ tâm hồn, bùng cháy chống lại ma quỷ, đam mê và cám dỗ. Thánh Isaia nói ở đoạn đầu (Philokalia I, §1) rằng: “Không có cơn giận tự nhiên này, con người không thể đạt tới sự thanh sạch.” Chính sức mạnh ấy giúp linh hồn không thỏa hiệp với sự dữ, mà đứng vững trong cuộc chiến thiêng liêng. 4. Từ “sợ Chúa” đến “yêu Chúa”: Khi con người đã được thanh luyện qua chiến đấu, lòng kính sợ Thiên Chúa — tức ý thức sâu xa về sự thánh thiện và hiện diện của Ngài — sẽ định hình trong tâm. Và chính trong lòng kính sợ này, tình yêu được tỏ bày: không còn là sợ hãi hình phạt, mà là sợ xúc phạm đến Tình Yêu, sợ mất đi sự hiện diện của Đấng mình yêu. Khi đó, tình yêu và kính sợ trở thành một, vì cả hai đều phát sinh từ cùng một nguồn: lòng trong sạch. 🕯 “Khi con đã chết cho thế gian, con bắt đầu sống cho Thiên Chúa; khi con sợ làm buồn lòng Ngài, con đã bắt đầu yêu Ngài.” — Thánh Isaia dạy rằng mọi linh đạo chân thật khởi đi từ từ bỏ, nhưng chấm dứt trong tình yêu, vì chỉ nơi tình yêu, nỗi sợ trở thành bình an và sự chết biến thành sự sống. |
|
|
(Philokalia, Vol.1, page 28) 26. At the time of prayer, we should expel from our heart the provocation of each evil thought, rebutting it in a spirit of devotion so that we do not prove to be speaking to God with our lips, while pondering wicked thoughts in our heart. God will not accept from he hesychast a prayer that is turbid and careless, for everywhere Scripture tells us to guard the soul’s organs of perception. If a monk submits his will to the law of God, then his intellect will govern in accordance with this law all that is subordinate to itself. It will direct as it should all the soul’s impulses, especially its incensive power and We have practiced virtue and done what is right, turning our desire towards God and His will, and directing our incensive power, or wrath, against the devil and sin. What then do we still lack? Inward meditation. |
(Philokalia, Vol.1, page 28) 26. Khi cầu nguyện, chúng ta phải xua đuổi khỏi lòng mình mọi sự khích động của tư tưởng xấu, chống trả chúng với lòng sùng kính, để không rơi vào tình trạng nói với Thiên Chúa bằng môi miệng, mà trong lòng lại suy nghĩ điều gian ác. Thiên Chúa sẽ không chấp nhận lời cầu nguyện đục ngầu và cẩu thả của người sống tĩnh nguyện (hesychast), vì trong toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta luôn được dạy phải giữ gìn các cơ quan cảm nhận của linh hồn. Nếu người đan sĩ trao phó ý riêng mình cho luật Thiên Chúa, trí tuệ của họ sẽ điều khiển mọi năng lực thấp hơn mình theo đúng luật ấy. Nó sẽ hướng dẫn các chuyển động của linh hồn, đặc biệt là sức nóng của cơn giận và sức mạnh của dục vọng, vì hai năng lực này đều thuộc quyền cai quản của trí tuệ. Chúng ta đã thực hành nhân đức và làm điều phải, hướng lònh khao khát của mình về Thiên Chúa và thánh ý Ngài, và đem sức nóng của cơn giận mà chống lại ma quỷ và tội lỗi. Vậy, chúng ta còn thiếu điều gì nữa? — Thiếu sự chiêm niệm nội tâm (inward meditation). |
|
Giải thích (theo truyền thống Philokalia): 1. Thanh tẩy tâm trí trong giờ cầu nguyện: Thánh Isaia dạy rằng việc cầu nguyện không thể tách rời khỏi việc giữ tâm (nepsis). Cầu nguyện mà tâm trí còn đầy những hình ảnh và tư tưởng tội lỗi là một hình thức tự lừa dối: môi miệng nói với Thiên Chúa, nhưng lòng nói với ma quỷ. Do đó, “xua đuổi sự khích động của mỗi tư tưởng xấu” nghĩa là dập tắt ngay từ đầu mọi hình bóng hay cảm xúc xuất hiện trong giờ cầu nguyện — không tranh cãi, không phân tích, chỉ đơn giản trở lại với Thánh Danh và hơi thở trong thinh lặng. 3. Khi ý chí thuận phục Luật Thiên Chúa: Khi con người hạ phục ý riêng mình dưới thánh ý Thiên Chúa, thì trí tuệ (nous) — phần cao quý nhất của linh hồn — trở lại vị trí thống trị tự nhiên của nó. Nó trở thành vị vua trong thành nội tâm, và điều khiển đúng đắn hai năng lực mạnh nhất của linh hồn: Dục vọng (epithymia) — biến thành lòng khát khao Thiên Chúa, Giận dữ (thymos) — biến thành sức nóng chống lại tội lỗi và ma quỷ. Đây là trật tự được phục hồi của bản tính nhân linh mà tội lỗi đã làm đảo lộn. Khi trật tự này được thiết lập, linh hồn bắt đầu sống trong bình an nội tại — điều mà các Thánh Phụ gọi là hesychia, “tĩnh lặng thánh.” 4. Đỉnh cao của đời sống nội tâm – Chiêm niệm (Theoria): Sau khi thực hành các nhân đức, hướng lòng về Thiên Chúa, và chiến đấu chống lại ma quỷ, Thánh Isaia nói: “Chúng ta còn thiếu điều gì nữa? — Thiếu sự chiêm niệm nội tâm.” Đây là đỉnh điểm của linh đạo sa mạc: sau hành động là chiêm niệm, sau chiến đấu là an nghỉ trong Thiên Chúa, sau giữ tâm là thấy Ngài trong lòng mình. “Chiêm niệm nội tâm” không phải là suy tư triết học, mà là trạng thái linh hồn được kết hiệp với Thiên Chúa trong thinh lặng, nơi không còn lời, không còn hình ảnh — chỉ còn ánh sáng của Thần Khí soi chiếu tâm hồn. 🕯 “Khi linh hồn đã thắng được mọi tư tưởng, thì lời cầu nguyện trở thành ánh sáng.” — Thánh Isaia dạy rằng: kết thúc của nhân đức là chiêm niệm, và đỉnh cao của cầu nguyện là tĩnh lặng trong Thiên Chúa. |
|
|
27. If some shameful thought is sown in your heart as you are sitting in your cell, watch out. Resist the evil, so that it does not gain control over you. Make every effort to call God to mind, for He is looking at you, and whatever you are thinking in your heart is plainly visible to Him. Say to your soul: ‘If you are afraid of sinners like yourself seeing your sins, how much more should you be afraid of God who notes everything?’ As a result of this warning the fear of God will be revealed in your soul, and if you cleave to Him you will not be shaken bythe passions; for it is written: ‘They that trust in the Lord shall be as Mount Zion; he that dwells in Jerusalem shall never be shaken’ (Ps. 125:1. LXX). Whatever you are doing, remember that God sees all your thoughts, and then you will never sin. To Him be glory through all the ages. Amen. |
27. Nếu khi con ngồi trong tĩnh cốc, một tư tưởng ô uế bị gieo vào lòng con, hãy tỉnh thức! Hãy chống trả sự dữ, để nó không chiếm lấy con. Hãy cố gắng hết sức để nhớ đến Thiên Chúa, vì Ngài đang nhìn con, và mọi điều con nghĩ trong lòng đều hiển nhiên trước mặt Ngài. Hãy nói với linh hồn mình: “Nếu ngươi còn sợ những kẻ tội lỗi như ngươi thấy tội của ngươi, thì huống hồ ngươi phải sợ hơn nữa Đấng Thiên Chúa, Đấng nhìn thấy tất cả mọi sự.” Nhờ lời cảnh tỉnh ấy, lòng kính sợ Thiên Chúa sẽ được tỏ hiện trong linh hồn con; và nếu con bám chặt vào Ngài, con sẽ không bị các đam mê lay chuyển. Vì có lời chép rằng: “Những ai tin cậy vào Chúa thì vững như núi Sion; kẻ ở trong Giêrusalem sẽ không bao giờ lay chuyển.” (Tv 125,1 – LXX) Trong mọi việc con làm, hãy nhớ rằng Thiên Chúa thấy tất cả tư tưởng của con, và khi ấy con sẽ không còn phạm tội. Nguyện chúc vinh quang thuộc về Ngài muôn đời. Amen. |
