HỌC VIỆN THÁNH GIUSE DÒNG TÊN

Môn Học: Triết Lý Ấn-Phật
Giáo Sư: Lý Minh Tuấn
Học viên: Gioan Baotixita Nguyễn Cao Thắng
Email: caothang0402@gmail.com
Tháng 10/2024
Gioan Baotixita Nguyễn Cao Thắng
BÀI CUỐI KHÓA TRIẾT ẤN-PHẬT
Cho đời là bể khổ, Phật-giáo có phải là một nền triết-lý bi-quan không? Chứng minh.
Khi Đức Phật chỉ ra khổ-đau (dukkha) là một phần không-thể tránh-khỏi của cuộc sống, nhiều người quan niệm Phật giáo là một nền triết-lý bi-quan. Quả vậy, tuyên-pháp dứt-khoát Khổ-Đế trong vườn Lộc-Uyển nêu-ra tám căn-nguyên đau-khổ, bốn nguyên nhân cố-hữu gắn-liền với kiếp-người và bốn cái lệ-thuộc vào chính-thân ngũ-uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), do đó, hữu thân hữu khổ, thế-gian là một bể-khổ. Tuy nhiên, chỉ dựa vào Khổ-Đế và nhận định triết lý Phật giáo tiêu-cực là một phán-đoán vội-vàng, thiếu toàn-vẹn.
Thứ-nhất và quan-trọng nhất, dù bài tuyên-pháp đầu-tiên là Khổ-Đế (chân lý về nỗi-khổ), nhưng nó là một phần của Tứ-Diệu-Đế. Đức Phật không-những chỉ-ra nỗi-khổ sâu-xa của con-người (Khổ-Đế), ngài còn cho thấy nguyên-nhân của cái khổ (Tập-Đế, khổ là do ái-dục), chấm-dứt cái-khổ (Diệt-Đế, diệt ái-dục) và phương-cách để diệt-khổ (Diệt-Đế, Bát-chánh-đạo). Rõ hơn, Đức Phật nói đời là bể-khổ không phải để con người cam-chịu hay bi-quan về kiếp-người, đích-nhắm ngài muốn là ý-thức sâu-xa về cái-khổ để diệt-khổ chứ không phải sống với cái-khổ ấy. Muốn diệt-khổ, con người cần nhận-biết cái-khổ, biết cái-khổ là tiền-đề để con người đi diệt-khổ chứ không chỉ dừng lại việc tri-kiến nó rồi chấp-nhận mà thôi.
Thứ-hai, dựa theo Tứ-Diệu-Đế, tự con người có khả-năng khiến cuộc-sống hạnh-phúc, khi con người tri-kiến được Khổ-Đế và Tập-Đế, nghiêm-chỉnh thực-hành Bát-Chánh-Đạo sẽ đạt tới cảnh-giới an-lạc Niết-Bàn. Đức Phật từng nói: “Như-Lai đã chứng-ngộ con đường Trung-đạo là con đường đem lại nhãn-quan và tri-kiến và đưa đến an-tịnh, trí-tuệ cao-siêu, giác-ngộ và Niết-Bàn” (Lý Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu, Nhà xuất bản Hồng Đức, trang 588), Niết-Bàn là đích-điểm của người tu Phật. Có thể thấy rõ, Phật-pháp hướng người tu-tập đến một tình-trạng hỉ-hoan, hạnh-phúc chứ không hướng đến một con người tiêu-cực, ưu-phiền. Đức Phật nói rõ: “Niết-Bàn là hạnh-phúc tối-thượng” (Theo Lý Minh Tuấn, Sđd, trang 597). Vậy, liệu triết lý Phật giáo có thể là triết lý bi quan trong khi nó hướng người tu Phật đến cùng đích là một hạnh-phúc tối-thượng chăng?
Cuối cùng, ngay tên gọi “Phật” cũng cho thấy một hàm-ý cao-viễn. “Phật” dùng để chỉ từ “Bouddha” (Phật đà), có nghĩa là giác-giả, là người sau quá-trình tu-tập đã có trí-huệ, hiểu-biết tường-tận chân-tâm (bản-lai-diện-mục của mình), ngộ-ra chân-lý và các hiện- tượng thế-giới, không còn lệ-thuộc vào thế-gian, thoát-ly khỏi ái-dục, kết quả là không còn đau-khổ. Vậy tên gọi “Phật” cốt để chỉ người có sự hiểu-thấu sâu-sắc (giác-ngộ), từ-bỏ thế-gian trần-tục lẫn cái-ngã (vô-ngã) để con người sống ở cõi trần không còn khổ-lụy.
Tóm lại, triết lý Phật-giáo chân-chánh không phải là một triết-thuyết bi-quan yếm-thế, không hướng con người trở-thành những nhân-vị ưu-phiền sầu-muộn, nhưng nó là triết lý cao-sâu chỉ-ra con-đường diệt-khổ vốn cố-hữu trong kiếp-người, từ đấy khai-sinh ra con người thấu-triệt chân-tâm, gạt-bỏ vô-minh, thoát-ly ái-dục và cuối cùng được hưởng-lạc Niết-Bàn.
Theo các đạo-sĩ Ấn, trong Vêda có mặc-khải. Mặc-khải là gì? Cho ví-dụ trong Vêda.
Theo quan niệm truyền-thống Ấn-Độ, Vêda là do sự mặc-khải của Brahmâ (Đấng Sáng-tạo). Vêda có nghĩa là Biết (tri-thức), có nguồn-gốc tâm-linh, được viết ra bởi các Rishi (bậc đạo-sĩ thấu-thị) thông qua những trải-nghiệm thiêng-liêng mà họ có được. Mặc khải chỉ việc tiết lộ những chân-lý thiêng-liêng và tri-thức tôn-giáo từ thần-linh đến con-người. Vì vậy, khi nói “Vêda là do sự mặc-khải của Brahmâ” có thể hiểu là: những chân-lý thiêng-liêng và tri-thức thần-linh được Đấng Sáng-tạo tỏ-lộ cho con người (cụ thể là qua các Rishi), những người có khả năng lãnh-hội. Vêda không phải do con-người sáng-tác mà là kết-quả của sự tỏ-lộ từ Thượng-đế, và vì vậy chúng có giá-trị tuyệt-đối và không thể thay-đổi.
Mặc-khải trong Vêda không chỉ đơn thuần là những văn-bản tôn-giáo mà còn là sự thể-hiện của chân-lý vĩnh-cửu. Các bộ Vêda (Rig-Vêda, Sama-Vêda, Yajur-Vêda và Atharva-Vêda) mang những nội dung khác nhau, đều thể hiện sự mặc khải, chứa-đựng các quy-tắc, nghi-lễ, tri-thức về vũ-trụ, và triết-lý sống, nhằm hướng dẫn con người trong việc kết-nối với thần-linh và hiểu rõ hơn về bản-thân và thế-giới xung-quanh. Mỗi bộ Vêda thường được chia thành bốn phần, trong đó có Upanishad (Áo-nghĩa thư). Trong các Upanishad, có mặc-khải uyên-áo về Brahman và Atman.
Danh từ Brahman dùng để chỉ-thị Nguyên-lý sáng-tạo hay Thực-tại tối-cao, một Thực-tại khách-quan ở ngoài và trổi-vượt trên con-người, nhưng đồng thời, Thực-tại ấy cũng có tính-chất nội-tại chủ-quan ở trong tâm-hồn con-người. Trong Ấn-giáo, danh-hiệu Ishvara (Thượng-đế) hay Prajapati (Đấng Toàn-nhất) dùng để chỉ một Đấng Tối-cao Hữu-ngã, còn khi dùng danh hiệu Brahman dùng để chỉ một Thực-tại tối-cao Vô-ngã mà con-người có thể kết-hiệp. Nhận thức được Brahman không phải do trí-tuệ mà do mặc-khải của Brahman nơi con-người (Theo Lý Minh Tuấn, Sđd, trang 437). Atman (tự-ngã) là thực-thể nội-tại trong mỗi cá-nhân, theo quan niệm của Công-giáo, Atman đó là linh-hồn tinh-tuyền, theo Phật-giáo là bản-lai-diện-mục. Atman thì siêu-hình, là nguồn sống linh-thiêng và đồng-tính với Brahman. Atman và Brahman là một, nếu bất đắc dĩ nói theo lý-trí con-người, Brahman là Thực-tại siêu-hình ở dạng toàn thể, Atman là Thực-tại siêu-hình ở dạng cá-thể. Atman là Brahman ở trạng-thái tiềm-tại trong vạn-vật, đặc biệt là trong cá-thể con-người, niềm tin ấy được thu gọn trong công-thức: TAT TVAM ASI- Cái ấy là ngươi. “Cái ấy” trong đại công-thức này chính là Atman, là Brahman ở dạng tiềm-tại.
Cao điểm là khi Atman đồng nhất với Brahman, khi tự-ngã nơi nội-tại con-người đồng-nhất được với Thực-tại tối-cao vĩnh-hằng. Đau khổ là khi Atman xa-rời Brahman, bị chôn-vùi ở đáy-sâu tâm-thức, còn hạnh phúc là khi được nên-một trọn-vẹn với Brahman, vì chỉ khi ở trong Brahman mới có an-lạc đích-thực. Khi con người không nhìn nhận chân-lý TAT TVAM ASI, lòng-người hướng về hiện-tượng-giới, về những thứ mộng-ảnh (Mâya) thì chừng đó con-người cứ khao-khát khôn-nguôi hạnh-phúc, vì những đối-vật ở thế-gian tạm bợ không thể khỏa-lấp khát-vọng vô-biên nơi con-người.
Có thể thấy mặc-khải trong thánh-điển Vêda được người Ấn-Độ quan-niệm là sự tỏ-lộ của Đấng Sáng-tạo (Brahman) cho các Rishi. Một mặc khải điển hình là mối tương quan giữa Braham và Atman trong Upanishad. Hiệp nhất Brahman và Atman là hạnh-phúc tối-cùng, còn sự cách-ly Atman và Brahman gây ra đau-khổ cho con người.
Nguồn: https://sjjs.edu.vn/