TRIẾT LÝ TRUYỀN THỐNG VIỆT TỘC
dọn đường cho
THẦN HỌC VIỆT NAM

Giáo Hội trên con đường rao giảng Tin Mừng luôn luôn muốn thích nghi văn hoá của các dân tộc. Trong lịch sử Truyền Giáo, kinh nghiệm của vụ án Nghi Lễ Trung Hoa đã là một bài học cân não không bao giờ quên được. (*)

(*) Các linh mục Dòng Tên (Jesuits) tiêu biểu là Cha Mateo Ricci (1552-1610) đến Trung Hoa, thích nghi ngay từ ban đầu với văn hoá Hán tộc: ăn mặc đúng kiểu người Tàu, giữ lễ người Hoa, nói năng theo từ ngử người Hoa, tôn trọng nghi thức Tôn Kính Tổ Tiên và Ðức Khổng Tử. Nhờ vậy sau này Vua Khang Hy (1661-1722) chấp nhận cho giảng đạo. Chính nhà Vua đã thủ bút viết hai chữ Hán đại tự KINH THIÊN treo trước cửa chính nhà thờ chính toà Bắc Kinh. Các cha dòng Ðaminh và Phanxicô không chấp nhận, đua nội vụ trình Tòa Thánh. Ðức Giáo Hoàng Clementê XI ra tông huấn Ex Illa die (từ ngày đó) ngày 19 tháng 3, 1715 dứt khoát phủ nhận nghi lễ Trung Hoa. Vua Khang Hy coi đó như một hành động nhục mạ quốc thể Trung Hoa, ra lệnh trục xuất các thừa sai, triệt hạ các thánh đường và cấm người Trung Hoa theo đạo Thiên Chúa. Vụ án kéo dài hơn 200 năm, mãi tới năm 1939 Ðức Piô XI mới ra tông thư Plane Compertum (hiểu biết trọn vẹn) giải toả lệnh cấm từ thời Ðức Giáo Hoàng Clementê XI.

Tại Á Châu năm 1965 các hội đồng Gíám Mục Á Châu nhóm họp tại Philippines đã đặt vấn đề: Phải trở về truyền thống Á Châu. Sau Hội nghị, các Tổng Giám Mục và Giám Mục các nước Ðông Nam Á bắt đầu gửi các sinh viên du học các nước Ấn Ðộ, Ðài Loan và Nhật Bản, để thâu hội truyền thống Á Châu. (*)

(*) Tại Việt Nam Ðức Tổng Giám Mục Saigon đề nghị linh mục Vũ Ðình Trác đi Ðài Loan; Đức Giám Mục Nha Trang trạch cử linh mục Trịnh Thế Hùng; sau đó Tu hội St Sulpice Vĩnh Long cử linh mục Nguyễn Chí Thiết và Quebec , Canada cử cha Vũ dư Khánh, tất cả đều tu học tại đại học Fujen của Ðức Hồng Y Yupin, riêng cha Vũ Dư Khánh học tại đại học Ðài Loan. Dòng Tên sai linh mục Hoàng Sĩ Quý học Ấn Ðộ Giáo tại đại học Sorbone. Dòng Ðaminh sai cha Thiện Cẩm nghiên cứu Phật Giáo tại Sorbone, Paris.

Sau đó vấn đề Thần Học Á Châu xuất hiện với các thần học gia: – Tổng Giám Mục Stanislas Lokuang: Triết lý thực tiễn, trình bày Thiên Chúa Giáo theo chứng từ Khổng giáo và Lão giáo. Taipei: Học sinh thư cục, 1970. Tái bản năm 1981 và 1991 nhan đề sách đổi thành Sĩ Lâm triết học – Thực tiễn thiên. – Kosake Koyama: Water buffalo Theology, nói lên đạo sống thiên nhiên của Zen và nông nghiệp. New York: Maryknoll, 1974. – Choan Seng Song: Christian Mission in Reconstruction an Asian Analysis, chủ trương Thần học quân bình đời sống con người Trung Hoa. Madras: Maryknoll, 1977. – Tissa Balasuriya: “Towards the Liberation of Theology in Asia” trong Virginia Fabella: Asia’s Struggle for Full Humanity: towards a Relevant Theology. Tissa viết theo chứng từ “giải thoát” của Phật Giáo Tích Lan. New York: Maryknoll, 1980. – Jung Young Lee: Minjung Theology: People as the subjects of History. Thần học bình dân hay tiện dân của Hàn Quốc. New York: Maryknoll, 1983. – Moon Hee Suk: Minjung Theology: an old Testament Perspective, Thần học tiên dân của Hàn Quốc. New York: Maryknoll, 1985. – Choan Seng Song: Theology from he womb of Asia, chủ trương Thần học quân bình qua đời sống con người. New York: Maryknoll, 1986. – Virginia Fabella và Sun Ai Lee Park: We dare to Dream. Doing Theology as Asian Women, bênh vực quyền lợi phụ nữ Á Châu qua thần học Kytô giáo. Hong Kong: 1989

Như vậy, ba nước Viễn Ðông: Trung Hoa, Nhật Bổn, Hàn quốc, và nước Tích Lan đã khởi đầu những dòng Thần Học theo truyền thống của họ, còn Việt Nam, một “văn hoá chi bang”, cũng không thể thiếu một dòng Thần học truyền thống của Việt tộc, phù hợp với Thần học Kytô giáo, mà ta mệnh danh là Thần Học Việt Nam. Trong đạo trường chung này, chúng ta cùng bắt tay nhau khởi thảo Thần học Việt Nam. Nói đến vấn đề trọng đại này, chúng ta khởi đầu bằng truyền thống tư tưởng Việt tộc. Chúng tôi long trọng tuyên cáo: chúng ta còn hai ẩn lộ có thể trở về nguồn. Ðó là Tập tài liệu cổ bằng Nho văn: Bách Việt Tiên Hiền Chí vâ Trống Ðồng Việt tộc.