. l ê đ ì n h b ả n g .

1. Đối với những ai muốn tìm hiểu hoặc nghiên cứu về Công giáo ở Việt Nam, có một điều khá thú vị, đến ngạc nhiên, đó là thấy rất rõ bước đi của lịch sử truyền giáo luôn nhịp nhàng với quá trình hình thành-phát triển của ngôn ngữ – văn tự.

Khởi đi từ Chữ Hán, đến chữ Nôm và Quốc ngữ. Có kế thừa, chuyển giao, kinh điển. Có khai phá, thích nghi, hội nhập. Và có cả sáng tạo, thăm dò, chuyển động, kết nối. Hệt như xu thế của lịch sử và văn học truyền thống nước ta: Hán văn, Quốc âm và Quốc ngữ.

Nói như thế, có nghĩa là, Đức Tin đã được diễn tả, loan truyền; được đón nhận, được cộng sinh, cộng nghiệp, tiếp biến và thăng hoa ở miền đất này và với dân tộc thân yêu này bằng nhiều cung cách, ở nhiều mức độ, tầng bậc, nơi chốn khác nhau.

Vắn vỏi chỉ vài trăm năm thôi, mà bén giọt thông đồng, ra tấm, ra món hẳn hoi. Trong đó, rõ nét hơn cả, là dấu ấn của ngôn ngữ và văn tự – cụ thể là Quốc Ngữ – đã để lại nơi cửa miệng, trong ký ức, hoài niệm, trên sách vở, tư liệu và đặc biệt nằm sâu thẳm nơi các tầng bậc tâm thức u trầm của mỗi người.

Không phải chỉ là di sản, mà mãi mãi tồn tại như một hiện thực sinh động cứ mỗi ngày một cập nhật, phong phú, đa dạng, đáp ứng được mọi yêu cầu cấp thiết của thời đại đang lao về phía trước.

Xin tạm gọi đó là “tính chất Công giáo”, là “ngôn ngữ nhà đạo”, một cõi rất riêng, không lẫn vào đâu được, mà hễ cứ nhìn/nghe/ đọc tới là y như nhận ra ngay là của người bên đạo, là của xứ đạo, nhà thờ ở buổi ban đầu.

Nhưng qua chuyển biến của thời gian và cuộc sống, ngôn ngữ – văn tự ấy đã từng bước, vượt ra khỏi xứ đạo – nhà thờ, để trở thành tiếng nói và chữ viết chung của dân tộc.

Vâng, chính lúc ấy, Đức Tin- hiểu theo ý nghĩa thuần tuý của tín lý và thần học Ky tô giáo – đã trở thành Niềm Tin và Lòng Tin, vì đã thấm đẫm vào hồn cốt, máu thịt, chứ không chỉ ở ngoài đầu môi chót lưỡi.

Nó vừa là tín điều, trói buộc khắt khe; lại vừa là ân sủng, phúc đức, hạnh nguyện và hiến dâng, không tài nào đong đếm, cân đo được.

Nó đã là của ăn thánh thiêng để nuôi sống và nuôi sống dồi dào những người con Chúa Việt Nam xuyên suốt dòng lịch sử đón nhận Tin Mừng, đặc biệt trong những thời đoạn nghiệt ngã nhất của cấm cách, bão giông đầy máu lửa, hận thù. Như dụ ngôn hạt giống gieo vào lòng đất, phải hư đi để trổ sinh bông lúa trĩu vàng. Như hạt cải bé tí ti kia, gặp mưa thuận gió hoà, nảy ngọn xanh ngành, cho chim trời rủ nhau về nương bóng. Nhờ đó, ta tìm lại được những mầm chồi đã ương gieo, phát nguyên từ nguồn cố cựu Hán Nôm. Ta cũng gặt hái được hoa quả đầu mùa vừa nứt nụ, còn chân chất ruộng vườn của Quốc ngữ phôi thai, như một thể nghiệm. Con thuyền văn hoá ấy mang tên Hán Nôm- Quốc ngữ, đã”tải đạo”, đã vượt qua muôn trùng đại dương, đã dong ruổi, bồng bềnh khắp sông ngòi, kinh rạch, vạn chài Việt Nam. Đã lặn ngòi ngoi nước, chân lấm tay bùn trên đồng cạn đồng sâu của châu thổ sông Hồng, sông Cửu, sông Hàn, sông Hương. Để rồi, chạy cùng đường không khỏi nắng. Đã cập bến, đã neo đậu, đã lên bờ và đã nhận nơi này làm quê hương. Đây là cuộc hành trình của khai hoang, vỡ đất và dựng nghiệp. Mà đã gọi là khai hoang và mở cõi thì xét cho cùng, không thể tránh được một số hệ quả tất yếu, có thể là hoang sơ, vụng dại; biết đâu là thiếu sót, nhọc nhằn; đôi khi còn là va vấp, liều lĩnh, phiêu lưu nữa là đàng khác?

Nhưng phải thành thật nhìn nhận rằng, đây là lần đầu tiên, toàn bộ tiếng nói dân dã, thuần thành, tự nhiên theo quán tính, bẩm sinh và cha truyền con nối của người mình bao đời nay đã được đưa vào bài bản, khuôn phép, hệ thống nhất định theo mẫu tự La Tinh ABC.

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Cái khó khăn ban đầu, tưởng như tuyệt vọng, là làm sao chọn được mẫu tự nào để ghi nhận, để lồng vào mỗi âm phát ra theo đúng khẩu hình của người mình?

Để khi mở miệng thành tiếng thì mỗi tiếng phát ra thành lời uốn lượn theo cửa miệng (dù là âm môi, răng, lưỡi, nướu hay âm mũi, họng, óc, bụng. . . ) . Âm thanh ấy vang lên, thành tiếng nói có ý nghĩa, có luyến láy, ngân nga, có cung giọng bổng trầm, tiết nhịp của âm nhạc, có vần điệu bằng trắc, đối đăng của thi phú, có ví von của ngữ nghĩa ViệtNam.

Viết đến đây, xin lỗi quý độc giả, cho phép tôi thay mặt rất nhiều anh chị em môn sinh để tưởng niệm giáo sư Lê Ngọc Trụ, thầy dạy chúng tôi môn Ngữ học Việt Nam tại trường Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Sài gòn những năm 1960. (1) Âm thanh ấy – như từng câu chữ trong giảng khoá tâm huyết và khổ công của thầy đã truyền thụ – là “từ”, là “ngôn” để nghe, để nói; là “tự”, là “ngữ” để viết thành “chữ” và ghép lại thành “từ ngữ” hay “ngôn từ” để biểu cảm, trao đổi, chuyện trò, thông tin, chuyển tải, giao tiếp, ứng xử.

Và ở một lĩnh vực khác, từ ngữ ấy đi vào văn bản của văn hoá, nghệ thuật; trở thành tác phẩm, thành tư liệu, sách báo thuộc nhiều thể loại, mang nhiều nội dung khác nhau như : văn, thơ, kinh, kịch, truyện, hịch, chiếu, biểu, cáo. . .

Chữ và nghĩa vừa là xác, vừa là hồn, vừa mô tả cái cụ thể vật chất, lại vừa khái quát hoá những gì trừu tượng, vô ảnh vô hình. Thi ngôn chí / ý tại ngôn ngoại.

Riêng ở đặc điểm này, trộm nghĩ, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre De Rhodes 1593-1660) là một trong những nhà truyền giáo Tây phương đầu tiên – với trái tim nhạy cảm và đầu óc tinh tế của một nhà ngữ học – đã sớm nhận ra “tiếng Việt” rất giàu nhạc tính. . . Trong khi tiếng Tàu chỉ có 5 giọng, thì tiếng Việt có tới 6 giọng, rất phù hợp với các dấu nhạc Do, Re, Mi, Fa, Sol, La” của phương Tây.(2)

Không lạ gì, thi thoảng đó đây, vẫn có đấy ít nhiều cảm giác ngượng nghịu, lơ lớ, pha trộn khiến lạ tai lạ mắt khi ta nghe/đọc một số từ ngữ còn mang hơi hướm ngoại văn, từ gốc La Tinh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp.

Nhưng nên công bằng mà hiểu cho rằng, đa phần những ngôn ngữ văn tự ở dạng ấy lại là ngôn ngữ văn tự đặc thù của kinh sách lễ nhạc của giáo hội, mà ta thường gọi là “ngôn ngữ nhà đạo” hoặc “văn nhà thờ – thơ nhà đạo”.

Dễ hiểu thôi, ở thời điểm còn chạng vạng, tranh sáng tranh tối ấy – như đứa trẻ tập nói và học vần – làm sao có thể tròn vành, rõ chữ và chuẩn mực như ý muốn được?

Ngôn ngữ có đời sống nội tại của nó, chưa kể ảnh hưởng khách quan từ mọi phía. Tức là phải chuyển động, va chạm, phức hợp, thêm bớt, vay mượn, để đãi cát tìm vàng.

Thành thử ra, mấy trăm năm rồi, ta cứ như còn thoảng nghe chút dư vang lạ lẫm, hương xa, nhưng rặt mùi đạo trong câu hát vè, có xuất xứ ngay sau khi con tàu truyền giáo của Đắc Lộ bị bão dạt vào cửa bể Thanh Hoá.

Ngạc nhiên chưa, hôm ấy đúng vào ngày lễ mừng kính Thánh Giuse 19. 3. 1627, mở đầu trang giáo sử ở xứ Đàng Ngoài:

Thứ nhất, đền thánh Pha-pha
Thứ nhì, Cửa Bạng, thứ ba Thần Phù. . .

Và đây nữa, rõ ràng có một hợp âm hai chiều, vừa mang giai điệu bình ca La Tinh, lại vừa rộn ràng cung giọng dân nhạc Việt Nam :

Các thầy đọc tiếng La Tinh
Các cô con gái thưa kinh dịu dàng.