THỬ KHẢO NGHIỆM CHẤT MÁU VIỆT
Cũng trong tập bút ký trên, Võ Đình đã khảo nghiệm thật sâu sắc cái nét văn hóa tiềm ẩn trong mạch máu một cách rất chân thực: “Tôi đã lầm tưởng là tôi yêu quê hương và dân tộc tôi qua những danh lam thắng cảnh, qua những áng văn trác tuyệt, những điệu nhạc diễm kiều, những thiên sữ lẫm liệt… Thì ra tôi yêu dân tộc tôi ở chỗ dân tộc tôi nghèo nàn cơ cực. Xơ xác nhọc nhằn bao nhiêu thế kỷ mà quê hương tôi vẫn còn. Nghèo nàn cơ cực suốt tháng mà dân tộc tôi vẫn sống. Sự sống còn này, tôi tin tưởng, có khả năng vượt qua tất cả biến cố, hóa giải tất cả đổi thay. Và cười vào mặt những kẻ như tôi chỉ biết cầm cây cọ trong tay để ca ngợi quê hương dân tộc. Mà quê hương và dân tộc tôi thì cứ sống còn, bất cứ tôi còn đó hay tôi đã đi. Anh phu xe đạp xích lô, chị đàn bà vớt bèo, những người muôn năm cũ…” (trang 236)
Yêu quê hương dân tộc mà lại ở món cà bát dằm nước mắm tỏi do Doãn Quốc Sỹ đãi, ở những cọng rau dền chấm nước ruốc kho tôm ớt của một chị hàng xóm nhà nghèo tỏ tình thương mến ngày về thăm quê. Thì ra sức mạnh và niềm hãnh diện của dân mình nằm ở chỗ ẩn mật quá. Đó là dòng lực tình. Qua bao oan nghiệt, nghèo khổ, đắng cay, đầy đọa, dân mình kiên trì nhất định bám vào dòng sinh lực này, phát nguyên từ Nguồn Tình Miên Viễn làm nên Đạo Trời, mà cũng là căn bản của Đạo Hiếu. Cành cây còn bám vào thân cây, vào gốc rễ, thì còn xanh tươi. Thân cây là ông bà, dòng tộc. Gốc rễ tận cùng phát khởi từ Trời, Nguồn Sức Sống, như ca dao là hơi thở của linh hồn Việt tộc vẫn luôn vang vọng:
Dù ai nói ngược nói xuôi
Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.
Đây chính là chất nhiễm thể di truyền trong máu mỗi người Việt, qua bao ngàn năm, qua bao thế hệ, qua bao thăng trầm, kể cả những lúc bị vùi giập nhất. Chính là chất mầu dung hóa được mọi sự, biến chế được mọi đối nghịch như những dấu nhạc bổng trầm của một bài hát, như những tím xanh đỏ vàng làm nên cầu vồng rực rỡ cuộc đời, như những nhịp điệu vòng lượn của một khúc vũ như được diễn trên những nét nhà mái cong hài hòa nét vuông với nét tròn.
Con mắt thấy này chính là niềm tin của Việt tộc, được kết tụ nơi những truyện thiêng liêng nhất như Hồng Bàng, Bánh Dầy Bánh Chưng, Trầu Cau, Giếng Việt, Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử… và những bài ca dao mộc mạc trải dài minh triết hình thành tâm hồn Việt Nam qua bao đời.
ĐỐ AI QUÉT SẠCH LÁ RỪNG
Đó là giọng hát được vang lên trong phim Ba Mùa, một phim khá nổi tiếng do hãng Mỹ thực hiện diễn tả nét đẹp văn hóa Việt, do một người Mỹ gốc Việt là Tony Bùi làm đạo diễn.
Bốn câu truyện trong phim đan dệt với nhau thật tài tình, được gắn lại bằng một chất keo mầu nhiệm qua bài ca dao như cái hồn ẩn mật của dân tộc làm nền:
Đố ai biết lúa mấy cây
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.
Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.
Bốn câu truyện với sáu bảy nhân vật đều là những cảnh rung cây, như bốn truyện điển hình của cuộc đời Việt nam trong suốt một thế kỷ qua, trong suốt dọc dài lịch sử bi đát của dân mình. Cây cứ bị gió rung hoài, lá cứ rụng mà chẳng ai còn đủ sức quét sạch được lá rừng!
Ông Đào vốn là một nhà thơ có hồn, đẹp trai, nhà giầu. Vậy mà lại bị bệnh phong cùi phải ẩn tránh mọi người, sống đóng kín thầm lặng trong ngôi nhà ngói giữa một hồ sen lớn. Ông cho thuê nhiều nhân công hái hoa sen đưa lên Sài Gòn bán, trong đó có một cô gái nhà quê rất chơn chất mộc mạc tên là Kiến An. Cô gái quê này có nước da ngăm ngăm, thường mặc áo bà ba với dáng vẻ nghèo túng. Cô lam lũ vất vả như những người đàn bà khác cùng hái sen trong hồ để kiếm sống. Nhưng nét hồn nhiên qua đôi mắt trong sáng diễn tả một tâm hồn thật dễ thương như một đóa sen, cũng là nét đẹp và giầu có của trái tim Việt Nam nhẫn nhục giữa bùn lầy qua bao thời đại. Trong những cần cù mồ hôi nhễ nhãi, bài hát ca dao khác lại vang lên:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Cây đời ông Đào bị rung quá mạnh phải quị xuống, ngón tay ông bị rụng dần không còn viết thơ được nữa. Vậy mà bỗng một ngày ông thấy yêu đời, cánh thơ mọc lại cho ông vượt ra khỏi bốn bức tường giam hãm mà thênh thang bay lên cõi trời cao, nhờ nghe được giọng hát ca dao của Kiến An từ hồ sen vẳng vào. Thì ra độ rung cây đã bắt gặp được độ rung tim, một thứ tình thương tinh ròng mở cánh sen tỏa hương nhè nhẹ ít gặp được trong xã hội này, với một niềm cảm thông sâu thẳm vượt qua ngôn ngữ. Chất ca dao qua giọng hát Kiến An được mẹ thổi vào hồn, chuyển vào mạch máu qua tiếng ru ngọt mềm từ lúc còn trong nôi, nay bỗng chạm tới độ rung mầu nhiệm cho chất thơ sống lại: mùa rung cây đã trở thành mùa rung tim, khiến cho nhà thơ mong ước được thả hoa sen xuống dòng sông làm đẹp dòng sông cuộc đời.
Cũng một thứ hoa sen và giọng hát ca dao đó, anh chàng Hải đạp xích lô đã mang được trong tim mình. Anh có thể là một nhà giáo lỡ thời phải làm cái nghề kỳ dị này trong một thành phố ngột ngạt chen sống. Lúc ngồi chờ khách thì anh đọc sách. Suốt ngày phải dầm mưa giãi nắng, anh đúng là hiện thân của hai mùa nóng cháy khô và mùa mưa sũng nước. Cây đời anh cũng bị rung mạnh lắm. Vậy mà tim anh có chất hương sen, đi đeo đuổi một bông hoa dại mọc ven đường là cô gái ăn sương vấy bùn tên Lan với loại tình yêu cũng rất khác lạ: loại tình yêu hoa sen với bông trắng nhị vàng. Thứ tình này đã khiến cho cây Lan đang độ rung bật gốc tìm lại dáng nét tình hoa phượng nở hồi còn làm nữ sinh áo trắng thơ ngây.
Trong lúc lam lũ đạp xích lô, Hải thường bắt gặp một anh chàng người Mỹ ngồi thơ thẩn trước khách sạn như tìm kiếm một điều gì. Thì ra anh ta trước đây đã từng là lính GI ở Việt Nam, nay trở lại tìm đứa con gái lai bị bỏ rơi lại. Mãi rồi anh ta cũng tìm thấy. Anh ta mua một bó hoa sen của Kiến An đưa tặng cho đứa con gái với lời tạ tội. Tim anh ta cũng mang được chất tình hoa sen còn biết rung động.
Chen giữa những câu truyện gắn bó với nhau là hình ảnh một đứa bé thường lầm lũi lội dưới mưa. Nó có tên trong phim là Woody, có thể vì tên nó là Mộc, cũng là một loại cây dại mọc bên đường, là đứa con tượng trưng của cả một dân tộc. Nó tội tình gì mà bị xã hội vất ra ngoài đường, sống nghèo khổ với cái thùng đồ bán diêm quẹt và xâu móc chìa khóa? Vậy mà nó vẫn sống hồn nhiên với cặp mắt thật sáng, vẫn ham mê giấc mộng bình thường thả con thuyền giấy trên dòng nước mưa.
TIẾNG HÁT TỰ LÒNG ĐẤT
Truyện “Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến” của Doãn Quốc Sỹ ở chương bảy đã diễn tả được cái nét ẩn mật của tộc Việt, vẫn lầm lũi sống còn một cách an nhiên dù biết bao đọa đầy bầm dập.
Kha từ Hà Nội về quê giỗ mẹ, ngủ lại nhà chú thím, ban đêm chợt thức giấc nghe được tiếng sáo diều kêu u u như chung kết lại tất cả những mối sầu của tình quê kẻ còn cũng như người khuất, nghe được tiếng chày mau và đều giã gạo ban đêm của người nhà nghèo lối xóm; và nhịp theo tiếng chày đó, một giọng hát cất lên, giọng hát êm tưởng như theo gió từ xa… xa lắm vẳng lại.
“Bước xuống sân ngẩng nhìn trăng hạ tuần giữa cảnh vắng lặng của cảnh vật, Kha đứng lặng như bị chôn chân xuống đất vì chàng chợt nhớ rằng tiếng hát đó, cũng như tiếng sáo diều kia chàng đã được nghe từ lâu lắm, từ ngày chàng còn nhỏ xíu luôn luôn đòi mẹ ẵm lên lòng. Rồi từ đấy vì được nghe luôn nên chàng không hề lưu ý tới những âm thanh và âm điệu đó, cho đến nay bặt một thời gian sáu bảy năm xa cách, tiếng hát đột nhiên xuất hiện vào giờ này để tự tô đậm nét trường cửu của nó. Tiếng hát giọng đò đưa buồn buồn, chơi vơi, xa vắng. Lời không rõ nhưng cảm giác thì như vậy. Tự như thuở nào đến giờ cứ vào giờ thanh vắng đó là tiếng hát nổi lên, tiếng hát như thoát lên tự lòng đất, kể lể nỗi niềm để vừa xoa dịu vừa làm cho thấm thía thêm những sầu hận của những kẻ chợt thức giấc đón nghe nó… Hình như chàng mỉm cười vì trong cái vô cùng cô đơn ấy chàng thấy rõ chiến tranh tàn phá gây biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi là tiếng sáo diều và nhất là tiếng hát kia, Tiếng Hát Tự Lòng Đất, tiếng hát sầu dằng dặc, nhưng là tiếng hát của bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó.”
Đúng vậy. Tiếng hát tự lòng đất cũng chính là giọng hát ca dao của Kiến An trên đầm sen. Nó quyện vào tim ông Đào mang theo linh dược chữa lành. Nó chợt lay động hồn người xa xứ trong một buổi chiều chơi vơi. Cùng diễn tả một niềm tin, vọng lên từ linh hồn Việt tộc vẫn sinh tồn dai dẳng, vẫn lầm lì gan bướng. Nó có sức bật lên tia sáng trong những chao đảo mịt mù. Đó cũng chính là tiếng hát từ trời cao, khi người mình cứ nhất định tin vào một an bài mầu nhiệm từ Trời vượt qua mọi tính toán và nỗ lực thế nhân, nhất định không phải là duy vật biện chứng rồi, như ca dao vẫn thường tuyên dương:
Non kia ai đắp nên cao
Sông kia ai bới ai đào mà sâu.
GIẢI OAN NƠI VIỆT TÍNH
Bá nhân bá tính. Ngay trong cùng một nước đã thấy tính người miền Bắc, miền Trung và miền Nam có nhiều điểm khác nhau rồi, do di truyền qua bao đời, do những biến cố thăng trầm của lịch sử, do địa dư và khí hậu khuôn đúc, do hoàn cảnh kinh tế tạo ra. Mỗi dân tộc lại mang những đặc tính riêng làm nên sắc dân mình, gọi là căn tính, phát khởi từ trong mạch máu.
Có tính tốt thì cũng có tính xấu. Có tính hướng nội thiên về đầu, có tính hướng ngoại thiên về tim. Có tính thiên về trực giác, có tính thiên về cảm quan. Không phải nét văn hóa nào cũng là thuần phong. Chẳng hạn như tục ăn thịt người, tục đa thê, tục đa phu nơi nhiều sắc dân trên thế giới. Nhiều hủ tục mê tín cũng phản tiến hóa lắm chứ.
Môn tính tình học ngày nay đề cao rất kỹ phương pháp Enneagram, chia tính tình con người ra 9 loại. Mỗi số đều do một động lực tiềm ẩn từ trong mạch máu đun đẩy để tìm những giá trị khác nhau do những nỗi sợ khác nhau. Mọi phản ứng và hành động của đời người đều phát khởi từ động lực này dưới lăng kính vô thức. Tiếng thời mới gọi là mặc cảm. Cái hay của phương pháp Enneagram là cho thấy được hướng đi của các loại tính phản ứng dây chuyền như hệ lụy theo mũi tên; đồng thời chỉ cho cách hóa giải.
Căn tính Việt Nam dường như gắn liền với thân mệnh của một dân tộc bị quá nhiều nỗi oan bầm dập và ray rứt dằng dặc trong suốt chiều dài và chiều dầy của lịch sử. Thế nước mình nằm bên cạnh anh chàng Tàu khổng lồ luôn sẵn sàng ăn sống nuốt tươi. Số phận thấp cổ bé miệng cứ phải ráng mà sống còn, mà ngóc đầu lên. Không còn sức đâu mà xây dựng được một công trình gì to lớn, hay một hệ thống tư duy nào rõ nét. Mà có xây được thì cũng bị phá ngay. Vì thế mà sức đề kháng của người mình thật bén nhạy trong lúc bị ăn đòn, trong lúc phải chống đỡ, luôn tìm được lối lách và kiểu thoát. Nhưng cũng vì ăn quá nhiều đòn, chồng chất quá nhiều nỗi oan mà cũng tích vào thân quá nhiều hệ lụy nghiệt ngã, khiến cho thời bình đến thì lại loay hoay hoài cũng vẫn chưa tìm được điểm gì chung mà dựng xây.
Thà rằng như người Bách Việt cổ xưa ở vùng Lĩnh Nam, Quảng Đông Quảng Tây, chịu khuất phục đồng hóa với dân Hán từ phương Bắc tràn xuống chiếm đoạt, thành người Tàu cho xong một bề. Đàng này người mình cứ “cứng đầu,” dựng ải Bắc Quan mà chận lại, và rồi dù có bị cả ngàn năm đô hộ, mình cứ nhất định là mình, nên mới nên nông nỗi này! Rồi nỗi oan từ cả mấy thế kỷ tương tàn phi lý do chính người mình tận tình tạo ra cho nhau, từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Nỗi oan những cái chết tức tưởi do chính anh em phân thây nhau, đầy đọa nhau một cách thành khẩn để xây tháp ngà cho các chủ thuyết đâu đâu. Nỗi oan những thân xác da vàng máu Việt làm mồi cho cá Biển Đông hay cho hải tặc Thái. Nỗi oan tan cửa nát nhà, chạy thục mạng đi ăn nhờ ở đợ khắp các vỉa đường thế giới. Nỗi oan bao nhục nhằn hấng chịu mấy chục năm qua, của lớp người thua thiệt cúi mặt trước đà tiến lên mặt của mọi nước.
NỖI OAN THỊ KÍNH
Nhưng lạ lắm. Những ai nghiên cứu văn hóa Việt đều ngạc nhiên khi thấy người Việt với ngần ấy khổ lụy mà vẫn ít bị điên, vẫn cứ “phây phây”:
làm sao cũng chẳng làm sao,
dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.
Người Việt dường như nâng niu nỗi oan đã vốn như gắn liền với thân mệnh của mình, làm nên một gia sản tinh thần trong một cái nhìn tích cực: dù bất cứ oan nghiệt nào, người mình vẫn có sức chịu đựng được, và vẫn tìm ra cách giải oan. Không thấy bàn tới bác sĩ thần kinh, đi viện tâm lý trị liệu, hay uống thuốc độc tự tử. Truyện Thị Kính là một điển hình. Sở dĩ truyện Thị Kính đã trở thành như một di sản tinh thần của người mình, là vì truyền lại được cách giải oan kỳ diệu. Thị Kính âm thầm chịu đựng trước hết là do niềm tin vào Trời thấu suốt mọi bí ẩn, như ca dao đã từng nói lên:
– Đèn Trời soi xét.
– Ai bảo Trời không có mắt.
– Trời nào có phụ ai đâu.
– Làm ơn ắt hẳn nên ơn
Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ.
Cho dù sau này đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão, có bước vào và phát triển mạnh ở Việt Nam, nhưng niềm tin căn bản vẫn là Trời. Thậm chí người theo đạo Phật cầu khẩn với Phật nhưng rồi cũng phải lên cao hơn nữa là cầu khẩn với Trời, vì thực ra đức Phật cũng chỉ là một người như ta mà đã giác ngộ được con đường giải thoát, còn Trời mới là cùng tận.
Em đi cầu khấn Phật Trời.
Niềm tin này đã là võ khí mạnh nhất để đương đầu với mọi nghịch cảnh, và cắt đứt được vòng xích trói buộc từ đời này qua đời kia. Tiếng thời mới gọi là vòng hệ lụy nghiệt ngã phát sinh do những oan trái này. Khoa Tâm Lý Miền Sâu ngày nay cho thấy ít ra ba hậu quả hệ lụy của người không được giải oan hay chữa khỏi thì sẽ trở thành những hiện tượng:
– Hiện tượng 1: Ngươi bị thương lại đi gây thương tích cho người khác nữa kiểu giận cá băm thớt, giận chó đá mèo, thành cái vòng luẩn quẩn tiếp diễn. Dấu rõ nhất là khó nết, hay cắn cấu, phê bình chỉ trích, đấm đá ăn thua đủ với đời kiểu “vết thù hằn trên lưng ngựa hoang,” phóng chiếu cái bực bội bên trong ra chung quanh. Chuyện chia rẽ trong cộng đồng cũng có thể do những giẫy giụa đáng thương này.
– Hiện tượng 2: Do quá khứ thua thiệt nên phải sinh gỡ gạc bù trừ, kiếm thêm tí danh hão, khoe mẽ chút phù du để che lấp cái mặc cảm hụt hẫng bên trong một cách tội nghiệp, nhiều khi trở nên lố bịch thành cơn nghiện tham sân si không cùng. Những chuyện phân tranh giành giật triền miên giữa dòng họ này với hoàng triều khác, có thể là do những ẩn ức hụt hẫng nên cứ phải ráng mà phồng lên, ai cũng phải làm lãnh tụ đòi mọi người đoàn kết nhất trí đứng sau lưng mình. Rồi mỗi lần như thế lại kéo theo bao nhiêu người vào phía này phía kia dựng cao bảng chính nghĩa mà xâu xé chém giết nhau một cách lãng phí.
– Hiện tượng 3: Bỏ cuộc trốn chạy, cố tìm quên cho khuây khỏa niềm đau xót, bi quan nhìn cuộc sống bằng đôi mắt đeo kính đen với những điệu than ai oán, nhiều khi phát điên hay tự tử vì những phi lý tận cùng: người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.