2. Ngôn ngữ văn tự ấy là chứng từ phản ánh cả một sự thật tỏ tường rằng, các nhà truyền giáo Tây phương (với sự hợp tác của một số người Công giáo bản địa) đích thị là tác giả đã có công đầu trong việc sáng tạo và điển chế chữ Quốc ngữ, thiết lập nền tảng một ngôn ngữ, một văn tự hoàn toàn mới mẻ cho người Việt Nam.
Chưa hẳn triệt để và hoàn hảo, nhưng đã có chuyển dịch, đổi mới. Như một đề nghị, một thay thế cho Hán Nôm, đã hoàn thành vai trò lịch sử của mình.
Đây là lần đầu tiên, như nàng dâu sắp về nhà chồng – qua Phép Giảng Tám Ngày và Tự Điển Việt Bồ La (1651) – Đắc Lộ đã giới thiệu chữ Quốc ngữ làm quà để ra mắt với bà con họ hàng người Việt mình.
Cùng lúc, nó đã được sử dụng làm phương tiện chính thức để ghi ký (theo mẫu tự La Tinh ABC) tiếng nói đời thường ở cửa miệng của người Việt mình, mà trước đây chỉ là những mẫu mã ước lệ hoặc sao chép từ phần thư rập khuôn”hình tượng” rất phức tạp và cố định của Trung quốc. . .
Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói đến một số đóng góp mở đường cho Quốc ngữ từ 1651 đến 1882 của nhiều giám mục, linh mục, thầy giảng, nho sĩ, trí thức, giáo dân, như Alexandre De Rhodes (1651) , Pigneau de Béhaine (1749) , Phelippe Rosario Bỉnh, (1833) , Louis Taberd (1794-1840) , Philliphe Phan Văn Minh (1815-1853) ) , Nguyễn Trường Tộ (1827-1871) , Petrus Ký (1837-1898) , Huỳnh Tịnh Paulus Của (1834-1903) Genibrel (1898) , L. Cadiere (1869-1955) , Henri Maspero, Genibrel (1898) , E. Souvignet, Jacques Dournes. . .
Tóm lại, theo cách nói của Thánh Phao lô thì, dù Do Thái hay Hy Lạp – dù chữ Hán, chữ Nôm hay Quốc ngữ – miễn sao “chúng tôi rao giảng Đức Ki-tô bị đóng đinh”. (1Cr1, 23) .
Ở đây và lúc này, Lời của Thiên Chúa rõ ràng đã nhập thể-nhập thế vào một đất nước và một dân tộc cụ thể, mà Lời của Thiên Chúa không chỉ là ngôn từ, nhưng đã trở thành”xác phàm và ở giữa chúng ta”. (Ga1, 14) .
Càng đọc kỹ và ngẫm ngợi các bản văn, tường trình, thư từ, bút ký, lịch sử, địa dư, kinh sách, lễ nhạc, phụng tự của các giáo đoàn, thừa sai, cũng như của các thầy giảng, các nho sĩ cộng tác trong thời điểm này, ta càng thấy nỗi lòng trăn trở, khát khao cháy bỏng của họ: làm sao tháo gỡ được bức tường ngăn cách, dẹp bỏ cái rào cản bất đồng giữa nói và nghe; làm sao bắc được một nhịp cầu nối kết, liền lạc?
Tức là phải có một ngôn ngữ, một văn tự để nói, để nghe, để viết, để đọc, để ghi chép, để diễn tả, để thông tin, để truyền đạt?
Một trường đoạn gian nan, một con đường tơ lụa để hội nhập Đức Tin vào Văn hoá, nhằm phục vụ cộng đồng dân Chúa Việt Nam, một giáo hội còn non trẻ, những mong sao chân cứng đá mềm, thuận buồm xuôi gió.
Nỗ lực không mệt mỏi ấy, trên thực tế, đã diễn ra xuyên suốt chiều dài lịch sử mấy trăm năm, từ 1651 đến 1882. Nghĩa là từ buổi khai sinh của chữ Quốc ngữ cho đến Nghị Định số 82 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký (1. 1. 1882) về việc bắt buộc dùng Quốc ngữ.
Tự biểt mình chậm chân và đến sau, thậm chí đã quá muộn mằn, bên cạnh Phật, Khổng, Lão và các tín ngưỡng dân gian đã cắm rễ thật sâu trong tâm khảm của người mình, ắt hẳn Công giáo đã phải nhẫn nhịn, tương kế tựu kế, để tìm đường, tồn tại. Đơn giản, bởi người Việt mình lúc ấy còn quá nặng nợ với chữ Hán, với Nho học, với chữ Nôm, văn Nôm. Không dễ gì dứt bỏ, xa rời.
May mắn thay, trước sau, Hán Nôm vẫn là Hán Nôm, một thứ văn hoá kiểu cách, xa lạ, chẳng phải là cơm gạo cần thiết cho bữa ăn độ nhật của người mình. Trong khi ấy, để học ăn học nói thành thạo thứ tiếng nói bản địa, xem ra cũng đã là một chuyện không dễ chút nào, mặc dầu trong con mắt của giáo sĩ Đắc Lộ thì đất nước- dân tộc này đã là miền đất hứa, nửa bước không muốn rời, bởi nó “vừa đẹp, vừa hiền hoà, dễ thương”; còn tiếng nói của họ thì “nghe cứ ríu rít như chim hót. . . “(3)
Chắc hẳn, khi mới đặt chân lên vùng đất xa lắc xa lơ này, các nhà truyền giáo Tây phương đã sớm nhận ra thực tế lịch sử ấy. Thêm vào đó, là kinh nghiệm vừa nhận được còn tươi nguyên từ R. Nobili, Mic. Ruggieri và Nicolo Longbardi trong công cuộc truyền giáo ở Ấn Độ và Trung Hoa đã nhắc nhở họ phải khéo léo và mềm mỏng, nếu không muốn tự chuốc lấy hậu quả về mình.
Bởi vì, tranh thủ được người bình dân, đứng về phía quần chúng lao động, xem ra có phần dễ hơn là phiêu lưu xâm nhập vào cái hoàng triều cương thổ của giai cấp vua chúa, quan quyền, nho sĩ, quý tộc.
Đây cũng là nội dung cơ bản qua Huấn dụ 1659 của Giáo hội tha thiết muốn nhắc nhở hai vị chủ chiên tiên khởi của Đàng Ngoài và Đàng Trong “Đừng tìm cách, tìm lý lẽ để thuyết phục các dân tộc phải thay đổi nghi thức, tập tục và phong hoá của họ, trừ phi điều đó trái ngược hẳn với tôn giáo và luân lý. . . Đừng đem đến cho các dân tộc ấy cái xứ sở của quý vị, mà chỉ đem đức tin, một đức tin không khước từ, cũng không làm tổn thương các nghi thức và tập tục của bất cứ dân tộc nào. Quý vị hãy tìm cách làm quen với những tập tục đó…” (4)