3. Như trên đã nói, bản thân chữ Hán, vốn phức tạp, nhiêu khê, nên cứ mãi xa lạ, khó tiếp cận. Nói gì đến chuyện học cho ra học, để được coi là người chữ nghĩa, theo miệng đời. Bởi có chữ, hay chữ, nhiều chữ, hoặc xin chữ, cho chữ, chơi chữ và thờ chữ là chuyện đại sự của cả một đời, một bậc thang giá trị của xã hội. Thậm chí, đó còn là một trong những thói quen văn hoá, một thú vui được coi là bắc bậc nho nhạc của giới “trưởng giả học làm sang”?

Kỳ dư, thảy đều là trò đùa, báng bổ, nôm na mách qué của đám dân đen vô học! Chẳng lạ chi, nhà nghèo xưa chỉ một chữ cắn đôi, ù ù cạc cạc mấy câu tam tự kinh “nhân chi sơ, tính bản thiện.” Nhỡ mắc oan sai, kiện cáo gì, khi phải đến chốn công đường, chỉ chấm mực lăn tay, chứ nghiên bút văn bài gì đâu mà ký với cóp ?

Nói đâu xa, cứ nhìn rộng ra các nước xung quanh mà xem. Sau nhiều phen cải cách xoay xở khá vất vả, nhọc nhằn và tốn phí công sức tiền của – kể cả cuộc đổi mới được mệnh danh là cách mạng đại nhảy vọt – thì chữ viết của mấy nước có chung nền văn hoá với ta như Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc ( gọi là tứ quốc đồng văn) vẫn như còn loay hoay, chưa thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của “cấu trúc tượng hình” ngày xửa ngày xưa. Thực tế là họ cũng muốn La Tinh hoá chữ viết của họ như Quốc ngữ của Việt Nam ta lắm chứ, mà chưa được !

Hoá ra, nhờ cái vốn quý là Quốc ngữ – theo nhận định của Missi, cũng là quan điểm chung của giới chuyên môn – khi áp dụng các mẫu tự La Tinh vào tiếng Việt, giáo sĩ Đắc Lộ đã đưa Việt Nam đi trước thời đại tới 3 thế kỷ.(5)

Trộm nghĩ, ông tổ có công khai sáng ra Quốc ngữ là giáo sĩ Đắc Lộ, có lẽ cũng đã thấy trước một phần nào cái ngày hoàng đạo rạng rỡ bình minh của Quốc ngữ này? Cho nên, dẫu đòi phen bảy nổi ba chìm – hết quản thúc, rình rập, đến cách ly, ngăn cấm, trục xuất – ông vẫn một niềm đau đáu, bồi hồi, hoài tưởng. Cho đến khi hoàn toàn bị cô lập ở ngoại ô thành phố Esfahan của xứ Iran những năm tháng cuối đời, xa mặt, nhưng không cách lòng. Trái tim ông vẫn đập những nhịp đập xót xa, khi thốt lên: “Tôi từ giã xứ Nam bằng thể xác, chứ không phải bằng lòng trí. . . Thật sự, tâm hồn tôi đã để trọn ở nơi ấy và tin tưởng không bao giờ tôi có thể rời khỏi đó.”(6)

Là con cháu mãi mấy trăm năm sau buổi hừng đông Quốc ngữ ấy, ở đây và bây giờ, đúng là lúc cả thế giới cùng sống trong một ngôi nhà chung, chỉ một cái click nhẹ trên bàn phím là mọi chuyện đã phơi mở dưới ánh sáng mặt trời, cùng sánh vai với thế giới văn minh trên mạng lưới của công nghệ thông tin.

Chúng ta tin chắc rằng hơn 90 triệu con dân nước Việt ở khắp năm châu bốn biển đã, đang và mãi mãi nhớ ơn khai sáng của ông.

Nhờ Quốc ngữ, người Việt mình đã vượt thoát khỏi vòng tăm tối nô lệ ngàn năm Bắc thuộc, đã phải ngậm đắng nuốt cay, để vay mượn chữ Tàu làm quốc gia văn tự, trong khi Quốc ngữ của ta đang ở vào thế thượng phong, hiện đại và thuận lợi trăm bề.

Một bên là đất nước-quê hương- dân tộc. Và một bên là Hội thánh tôi yêu. Cả hai cùng chung một gia tài của Mẹ Việt Nam, đó là ngôn ngữ- văn tự. Đó là Quốc ngữ, là phần hồn của một dân tộc. Tiếng ta còn, nước ta còn. So với Hán Nôm, Quốc ngữ rất dễ học, mà đâu có kém phần thâm thuý ?

Chẳng như chữ Nho ta ngày trước
Học mười năm, mới được nên thân
Biết bao đèn sách gian truân
Tới kỳ thi cử, muôn phần, khó thay
( Bài Ca Quốc Ngữ. Lê Khắc Ứng, 1880-1945)

Tham khảo từ nhiều nguồn tư liệu có giá trị chuyên sâu về đề tài này của Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Nghiêm Toản, Hoàng Trọng Miên, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Võ Long Tê, Nguyễn Khắc Xuyên, Lê Ngọc Trụ, Nguyễn Hưng, Nguyễn Hồng, Bùi Đức Sinh, Vũ Văn Kính, Phạm Đình Khiêm, Đỗ Quang Chính, Vũ Đình Trác, Trương Bá Cần, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Thế Thoại, Cao Thế Dung . . . thì câu chuyện Công giáo Việt Nam và Quốc ngữ – cũng là nỗi trăn trở về “con đường tơ lụa của Đức Tin và Văn hoá” – đã rõ, có thể khép lại.

Để kết luận, mời độc giả chia sẻ mối đồng cảm với kẻ viết bài này, khi cùng ngẫm ngợi trích đoạn sau đây của một trong những nhà chuyên khảo uy tín nhất về “Alexandre De Rhodes- Quốc ngữ và Lịch Sử Công giáo ở Việt Nam”.

Để cùng chia sớt chút ngậm ngùi với những người ở mãi đâu đâu, nhưng chỉ vì quá nặng lòng với miền đất này mà đành gửi thân cho đời sông, đời cát, theo sóng nước mênh mông.

“. . . Chữ quốc ngữ ban đầu đúng là do sáng kiến của một nhóm người trong giáo hội đưa ra. . . Nói được chăng là nhóm người đầu tiên mới sáng tạo ra cái ‘thân xác’ chữ quốc ngữ, dù là quan trọng nhất. Nhưng người Việt chúng ta mới là kẻ ‘thổi hồn’ cho thứ chữ này; vì đọc lên, chúng ta mới là người dễ cảm nghiệm được cái ý vị, cái tinh tế của tiếng Việt, đã nghe thấy từ lúc còn nằm trong nôi, với giọng ru êm ả của mẹ mình. Vậy có phải là cường điệu quá không, khi nói: dù có một số người Âu châu thông thạo chữ quốc ngữ. . . chưa chắc các ông đã ‘cảm thức’ nhiều được tiếng Việt, dù có ‘trí thức sâu xa’, có cặn kẽ hơn biết bao nhiêu người Việt. Bởi vì, biết thì khác, mà cảm nghiệm được cũng lại là chuyện khác…”

Những người nước ngoài ấy, nếu bây giờ sống lại thì sẽ phải vô cùng bỡ ngỡ trước cái hiệu quả nó mang lại cho cả một dân tộc, điều mà có lẽ chẳng bao giờ các ông dám mơ tưởng. Các ông đã sống trong đất nước Con Rồng Cháu Tiên, tập ăn tập nói tập sống như người Việt. Cũng nuôi tóc dài quá vai, cũng mặc áo thụng, đi thuyền và ở nhà sàn như nhiều người Việt thời ấy ở xứ “yến sào trầm hương”

Đàng Trong. Nhưng ông Pina bị chết đuối ở vùng biển Hội An lúc vừa 40 tuổi; ông Amaral cũng bị chết đuối nốt trong vịnh Bắc bộ khi được 54 tuổi. Còn ông Đắc Lộ tha thiết gắn bó với người Việt, khi rời bỏ Đàng Trong năm 1645 mà lòng vẫn đau như cắt. . . (7)


Chú Thích :

(1) . Tham khảo Vũ Đình Trác. Công giáo Việt Nam Trong Truyền Thống Văn Hoá Dân Tộc, Thời Điểm, Hoa Kỳ, 1996.

Đặc biệt, qua trao đổi trực tiếp với Bà Bernadette Pauline Lê Kim Ngọc Tuyết – trưởng nữ của giáo sư Lê Ngọc Trụ – tại văn phòng giáo xứ Thánh Phan xi cô Xavie ( nhà thờ Cha Tam) , quận 5 Sài gòn ngày 6. 7. 2010, chúng tôi có thêm một số thông tin mới nhất. Rằng Thầy đã tìm về đạo Chúa năm 1978, nhận Thánh Phê rô làm bổn mạng. Sinh thời, thầy là một tên tuổi lớn trong giới văn chương, học thuật từ 1940 đến 1975: Viết hàng trăm bài về Ngữ học Việt Nam trên các báo chí (1939-1975) ; Giảng dạy chuyên khoa Ngữ Học Việt Nam tại Đại Học Văn Khoa, Đại Học Sư Phạm Sài gòn (1956-1975) ; Chủ Sự Phòng Sưu Tầm và Thư Viện Quốc gia (1961-1964) ; Giám đốc Viện Khảo Cổ (1965-1970) ; Biên Tập Viên của Nhóm Soạn Thảo Từ Điển Bách Khoa Việt Nam (1956) ; Thành Viên Ban Điển Chế Văn Tự (1970) ; Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc bộ môn biên khảo (1961) với tác phẩm về Ngữ học”Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị”. Thầy là bạn thân với các bậc thức giả: Vương Hồng Sển, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Vi Huyền Đắc, Đào Văn Tập, Toan Ánh, Nguyễn Bạt Tuỵ, Thái Văn Kiểm, Thanh Lãng, Lê Thọ Xuân, Đỗ Quang Chính, Nguyễn Khắc Xuyên, Lê Văn Lý, Nghiêm Toản, Đông Hồ, Nguyễn Đăng Thục. . .

(2) A. De Rhodes. Histoire du Royaume de Tunkin, Paris, 1651.

(3) và (6) A. De Rhodes. Divers Voyages et Missions, Paris, 1653.

(4) Huấn Dụ 1659 của Toà Thánh về Truyền giáo tại Việt Nam.

Cùng với biến cố trên, năm 1658, Đức Giáo hoàng Alexandre VII thiết lập 2 giáo phận đầu tiên ở Việt Nam; đồng thời bổ nhiệm 2 Giám mục tiên khởi: Francois Pallu (1626-1684) ở Đàng Ngoài và Pierre de la Motte (1624-1679) ở Đàng Trong.

(5) Tên một tờ báo chuyên về truyền giáo của các linh mục Dòng Tên, đặt toà soạn tại Hà Nội, 1950, do Đức Giám mục Giuse Trịnh Như Khuê làm chủ nhiệm.

(7) Đỗ Quang Chính. Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ, Ra Khơi, Sài gòn 1972 . Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt, 1998 và Tản Mạn Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, 2005; Hai Giám mục Tiên Khởi Ở Đàng Ngoài và Đàng Trong, 2004; Đắc Lộ và Phép Giảng Tám Ngày. . .

Nguồn: conggiaovietnam.net