3. Vai trò của báo chí và xuất bản
Cùng với đại học, với sự phát triển về số lượng và sự đa dạng về khuynh hướng, báo chí và xuất bản có vai trò hết sức quan trọng trong việc giới thiệu, quảng bá các lý thuyết văn học phương Tây. Trong thế giới báo chí phong phú và phức tạp ở miền Nam, có thể nói đến sự đóng góp của một số tạp chí định kỳ trên lĩnh vực này.
Trong số các tạp chí định kỳ đăng tải những bài nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, có thể chia ra thành hai loại: Loại thứ nhất là những tạp chí có tính chất học thuật do các trường đại học xuất bản, là tiếng nói chính thức của trường đại học đó, hoặc do người từ giới đại học đứng ra thành lập. Loại tạp chí này thường đăng những bài nghiên cứu chuyên sâu, uyên bác, có giá trị học thuật, nên kén chọn độc giả và lưu hành không thật rộng rãi. Trong loại này có thể kể Tạp chí Đại Học của Viện Đại học Huế, do linh mục Cao Văn Luận, Viện trưởng kiêm chủ nhiệm, nơi đăng bài của các giáo sư Nguyễn Văn Trung, Lê Tuyên, Nguyễn Nam Châu…; Tạp chí Tư Tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh, do Thượng tọa Thích Minh Châu làm chủ nhiệm, tập hợp những giáo sư là tu sĩ Phật giáo hay những người cộng tác với viện đại học này: Nguyễn Đăng Thục, Thích Quảng Độ, Bùi Tường Huân, Phạm Công Thiện, Ngô Trọng Anh, Lê Tôn Nghiêm, Tuệ Sỹ, Như Hạnh…; Tạp chí Tri Thức của Viện Đại học Đà Lạt, do linh mục Mai Văn Hùng làm chủ nhiệm, có sự cộng tác của các giáo sư, học giả Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Khắc Dương, Thiện Cẩm, Kim Định, Nguyễn Văn Hòa, Cung Giũ Nguyên, Đỗ Ngọc Long, Nguyễn Bạt Tụy…; Tạp chí Nghiên Cứu Văn Học do linh mục Thanh Lãng làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, có sự cộng tác của các giáo sư ở Đại học Văn khoa Sài Gòn: Nguyễn Văn Trung, Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Khắc Ngữ, Phạm Cao Dương, Nguyễn Trọng Văn… ; Tạp chí Văn Khoa do một nhóm giáo sư Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn chủ trương, do Nguyễn Thiên Thụ làm chủ bút, có sự tham gia của Nguyễn Khuê, Trần Đỗ Dũng, Trần Quang Huy, Trần Trọng San, Nguyễn Văn Sâm…
Loại thứ hai là những tạp chí kết hợp đăng những bài nghiên cứu, lý luận, phê bình với sáng tác văn học. Loại này hầu hết do những nhà văn hay học giả ngoài giới đại học chủ trương. Những bài nghiên cứu, lý luận, phê bình trên các tạp chí này thường gắn liền với thời sự văn học hiện đại, đáp ứng nhu cầu trực tiếp của người sáng tác và công chúng rộng rãi, nên sức phổ biến mạnh và tính khuynh hướng cũng bộc lộ rõ hơn loại thiên về học thuật trên đây.
Trong loại này, có thể chia thành hai tiểu loại. Một là những tạp chí chuyên về văn học nghệ thuật. Đó là Sáng Tạo do Mai Thảo chủ biên; Văn do Nguyễn Đình Vượng làm chủ nhiệm, Trần Phong Giao, Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo lần lượt làm thư ký tòa soạn; Khởi Hành và Thời Tập do Viên Linh chủ biên; Văn Nghệ do Lý Hoàng Phong làm chủ nhiệm; Hiện Đại và Nhà Văn do Nguyên Sa chủ trương; Văn Học do Phan Kim Thịnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; Giữ Thơm Quê Mẹ do Nhất Hạnh làm chủ nhiệm, Trụ Vũ và Hoài Khanh lần lượt làm thư ký tòa soạn…
Tiểu loại thứ hai là những tạp chí liên ngành chính trị, xã hội, văn hóa, văn nghệ, trong đó có đăng những bài nghiên cứu, lý luận, phê bình văn nghệ. Đó là trường hợp Bách Khoa do Hoàng Minh Tuynh rồi Lê Ngộ Châu làm chủ nhiệm, Hành Trình và Đất Nước do Nguyễn Văn Trung làm chủ nhiệm, Lý Chánh Trung làm chủ bút, Trình Bầy do Thế Nguyên làm chủ nhiệm kiêm chủ bút…
Những công trình nghiên cứu, dịch thuật có liên quan đến các lý thuyết văn nghệ phương Tây được các học giả trong và ngoài giới đại học thực hiện, ngoài một số được công bố trên các tạp chí nói trên, phần lớn được xuất bản thành sách. Qua danh mục xuất bản, có thể ghi nhận tính khuynh hướng của những nhà xuất bản có in sách liên quan đến các lý thuyết mỹ học và văn học phương Tây. Khuynh hướng giáo khoa (Trí Đăng, Lửa Thiêng) in sách của Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Văn Xung, Nguyễn Thiên Thụ, Trần Đỗ Dũng, Đặng Phùng Quân… Khuynh hướng hiện đại hóa (Thời Mới, Giao Điểm, Ca Dao) in sách của A. Maurois, A. Camus, K. Jaspers, G. Gusdorf, M. Heidegger, A. Niel, I. Bochenski, F. Challaye, W. Kaufmann, Trần Thái Đỉnh, Tràng Thiên, Đặng Tiến… Khuynh hướng Phật giáo nhập thế (Lá Bối, An Tiêm) in sách của Krishnamurti, S. Freud, M. Heidegger, Nhất Hạnh, Phạm Công Thiện… Khuynh hướng Công giáo dấn thân (Nam Sơn, Trình Bầy) in sách của Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Trần Văn Toàn, Lê Tôn Nghiêm, Nguyên Sa, Đỗ Long Vân, Vũ Đình Lưu, Hoàng Ngọc Biên, Thế Nguyên… Ngoài ra, một số nhà xuất bản khác: Kinh Thi, Tân An, Ra Khơi, Thế Sự, Hồng Đức, Nhị Nùng, Trẻ, Tổ Hợp Gió, Hoàng Đông Phương, Đại Nam Văn Hiến… cũng góp phần nhất định vào việc phổ biến tư tưởng văn nghệ phương Tây.
Ở đây có thể điểm qua một số nhà xuất bản tương đối nổi bật. Nhà xuất bản (Nxb) Thời Mới do Võ Phiến chủ trương, xuất bản một số sách về trào lưu văn học hiện đại như Những trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại của A. Maurois (Bản dịch của Trần Phong Giao, 1964), Văn học Nga-xô hiện đại của Tràng Thiên (1965)… Xuất bản năm 1963, Tiểu thuyết hiện đại của Tràng Thiên là cuốn sách trình bày khá sớm một quan niệm cách tân về xây dựng cốt truyện, nhân vật và kỹ thuật của tiểu thuyết. Tác giả cũng giới thiệu sơ lược phong cách nghệ thuật của năm tiểu thuyết gia có ảnh hưởng quan trọng trong văn học thế kỷ 20: W. Faulkner, C. Simon, T. Capote, A.-R. Grillet, U. Johnson… Chuyên khảo Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh, do Thời Mới in năm 1967, trở thành một hiện tượng xuất bản. Những chương của cuốn sách này đã được công bố trên tạp chí Bách Khoa đầu những năm 1960 với bút hiệu Trần Hương Tử, nhưng khi khởi thảo, tác giả có chủ định xây dựng thành một công trình hệ thống, cân đối. Trong tinh thần đó, cuốn sách giới thiệu một cách hiểu về chủ nghĩa hiện sinh, hai ngành hữu thần và vô thần của nó, sau đó là những tác gia chủ yếu của trào lưu này: Kierkegaard, Nietzsche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre, Heidegger. Mặc dù Trần Thái Đỉnh có khá nhiều định kiến với chủ nghĩa hiện sinh vô thần, chuyên khảo này là một tài liệu tham khảo có giá trị cho đến ngày nay.
Ra mắt cùng thời và có khuynh hướng gần gũi với Nxb Thời Mới, Nxb Giao Điểm của Trần Phong Giao xuất bản, bên cạnh tủ sách sáng tác và dịch thuật, một số sách bàn luận về văn học Pháp và văn học Việt Nam như Sứ mệnh văn nghệ hiện đại của A. Camus (Bản dịch của Trần Phong Giao), Vũ trụ thơ của Đặng Tiến, Chúng ta qua cách viết của Võ Phiến…
Hai nhà xuất bản do các tu sĩ Phật giáo có tinh thần dân tộc sáng lập là Lá Bối và An Tiêm đã cho ra mắt nhiều cuốn sách công phu về triết học và văn học. Lá Bối do Nhất Hạnh và Từ Mẫn chủ trương, xuất bản nhiều sách về tư tưởng triết học và văn học phương Tây, đồng thời với sách về tư tưởng phương Đông, đề cao sự nhập cuộc và hiện đại hóa của Phật giáo. An Tiêm, do Thanh Tuệ chủ trương, cũng gần với khuynh hướng Phật giáo nhập cuộc và hiện đại hóa của Lá Bối, nhưng có phần “phá cách” hơn. Nơi đây ấn hành bản dịch của những công trình có giá trị, như Đường vào hiện sinh của Krishnamurti (Bản dịch của Trúc Thiên, 1969), Văn học thế giới hiện đại của nhiều tác giả (Bản dịch của Bửu Ý, 1973), có cả những công trình nổi tiếng thế giới nhưng chưa hẳn phù hợp với quan điểm Phật giáo thuần thành, như Nghiên cứu phân tâm học của S. Freud (Bản dịch của Vũ Đình Lưu, 1969), Triết lý là gì? của M. Heidegger (Bản dịch của Phạm Công Thiện, 1969).
Những cuốn sách mang tinh thần “phá cách” và “phá chấp” nhất do An Tiêm xuất bản là của Phạm Công Thiện, tức Thích Nguyên Tánh: Hố thẳm của tư tưởng, Im lặng của hố thẳm, đặc biệt là Ý thức mới trong văn nghệ và triết học. Là người có tư duy triết học sâu sắc kết hợp với cảm quan nghệ sĩ tinh tế, vừa được đào tạo quy củ, vừa có tinh thần “nổi loạn” với nhà trường và xã hội, Phạm Công Thiện đã đặt lại nhiều vấn đề tư tưởng và văn hóa, khiến một số thức giả đương thời phiền lòng, nhưng lại cảm hóa và thu hút nhiều độc giả trẻ. Mang tinh thần chủ toàn của đạo học Đông phương, Phạm Công Thiện kết hợp triết học và mỹ học phương Tây với tinh thần Phật giáo. Là những bài viết đăng rải rác trên các tạp chí được tập hợp, những cuốn sách của ông phản ánh “tâm trạng của một người bị giam hãm trong đời sống”, như lời tác giả, nhiều khi chứa đựng những ẩn dụ thi vị của một triết nhân hơn là những luận chứng chặt chẽ của một nhà khoa học.
Trong khi đó, Nam Sơn và Trình Bầy là hai nhà xuất bản quy tụ nhiều trí thức Công giáo khuynh tả dấn thân. Nam Sơn công bố nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc về khoa học xã hội và nhân văn mà ít sáng tác văn học. Hầu hết sách của Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn, Lý Chánh Trung đều thuộc tủ sách Nghiên cứu xã hội của Nxb này, trong đó phổ biến rộng nhất có thể kể: Triết học tổng quát, Đưa vào triết học, Lược khảo văn học (3 tập), Ca tụng thân xác, Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, Hành trình trí thức của Karl Marx, Nhận định (6 tập) của Nguyễn Văn Trung; Hành trình đi vào triết học, Tìm hiểu đời sống xã hội, Xã hội và con người, Tìm hiểu triết học của Karl Marx của Trần Văn Toàn; Tìm về dân tộc, Cách mạng và đạo đức, Ba năm xáo trộn của Lý Chánh Trung…
Thành lập muộn hơn Nxb Nam Sơn, Nxb Trình Bầy do Thế Nguyên đứng tên xin phép, in cả sáng tác và khảo luận, đặc biệt có tủ sách Nghiên cứu triết học do Nguyễn Ngọc Lan điều khiển và tủ sách Nghiên cứu và phê bình văn học do Đỗ Long Vân điều khiển. Tủ sách thứ nhất cho ra đời một số công trình khá độc đáo như Descartes, nhìn từ phương Đông của Nguyên Sa; Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger của Lê Tôn Nghiêm, Luận lý và tư tưởng trong huyền thoại (Đặt lại vấn đề văn minh với C. Lévi-Strauss) của Trần Đỗ Dũng… Tủ sách thứ hai có Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương và Vô Kỵ giữa chúng ta (Hiện tượng Kim Dung) của Đỗ Long Vân, Mấy vấn đề văn nghệ của Lữ Phương, Một bông hồng cho văn nghệ của Nguyên Sa, Ngôn ngữ và thân xác của Nguyễn Văn Trung, Sinh khí và nhịp điệu của Vũ Đình Lưu, Marcel Proust – con người xã hội và Tuyển tập các nhà văn Pháp hiện đại của Hoàng Ngọc Biên … Hoạt động của cả tạp chí và Nxb cùng tên Trình Bầy cho thấy một khuynh hướng trí thức có tinh thần dân chủ – xã hội ở miền Nam, đồng thời rất coi trọng việc học tập tri thức phương Tây.
Nxb Ca Dao do Hoài Khanh sáng lập đã ấn hành một loạt dịch phẩm nghiêm túc và có chất lượng cao: Triết học nhập môn của K. Jaspers (Bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, 1974), Kierkegaard – người chứng của chân lý của G. Gusdorf (Bản dịch của Tôn Thất Hoàng, 1969), Siêu hình học là gì? của M. Heidegger (Bản dịch của Trần Công Tiến, 1974), Những tiếng kêu lớn của chủ nghĩa nhân bản hiện đại của A. Niel (Bản dịch của Mạnh Tường, 1969), Triết học Tây phương hiện đại của I. Bochenski (Bản dịch của Tuệ Sỹ, 1969), Nietzsche – cuộc đời và triết lý của F. Challaye (Bản dịch của Mạnh Tường, 1969), Nghệ thuật, truyền thống và chân lý của W. Kaufmann (Bản dịch của Hoài Khanh, 1967)…
Nxb Lửa Thiêng do một nhóm giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn sáng lập, xuất bản sách sử dụng trong nhà trường đại học. Về tư tưởng phương Tây, có những cuốn Triết học và khoa học, Triết học và văn chương, Chân dung triết gia của Đặng Phùng Quân, Văn học và ngữ học (2 quyển) của Bùi Đức Tịnh, Thẩm mỹ học thông khảo của Nguyễn Văn Xung, Descartes của Trần Đỗ Dũng… Đáng chú ý nhất trong số đó là công trình Thẩm mỹ học thông khảo (1974) của Nguyễn Văn Xung, trình bày mạch lạc một số học thuyết thẩm mỹ phương Tây như thuyết “cái đẹp phi khái niệm” của Kant, thuyết “trực giác và hình tướng” của D. Croce, thuyết “cự ly tâm lý” của Bullough, thuyết “di tình tác dụng” hay “vật ngã đồng nhất” của Lipps, thuyết “nội mô phỏng” của Munsterberg, K. Groos và Vernon Lee. Mặc dù có phần chịu ảnh hưởng từ công trình Tâm lý văn nghệ của Chu Quang Tiềm, cuốn sách của Nguyễn Văn Xung có lẽ là một trong những công trình sớm nhất ở nước ta giới thiệu một cách hệ thống các trường phái mỹ học phương Tây hiện đại, bước đầu vận dụng giải thích một số hiện tượng văn nghệ Việt Nam.
Sự truyền bá tư tưởng mỹ học và văn học phương Tây được nhận diện trực tiếp và rõ ràng nhất qua các công trình dịch thuật và nghiên cứu những nền văn hóa khác nhau: Pháp, Đức, Mỹ… Trong các kênh truyền dẫn tư tưởng phương Tây vào miền Nam, trực tiếp nhất vẫn là kênh dịch thuật. Nhiều công trình nghiên cứu và sáng tác của các tác gia Âu-Mỹ đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt có thể xem là đóng góp rõ rệt nhất của các dịch giả miền Nam. Những năm gần đây, một số dịch phẩm này đã được phép tái bản, trở thành tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu nước ta, chẳng hạn sách của F. Nietzsche, S. Kierkegaard, S. Freud, M. Heidegger, K. Jaspers, J.-P. Sartre, A. Camus, A. Gide, S. de Beauvoir… Các cuốn sách Tổng kết văn học thế kỷ 20 (Bản dịch của Phạm Đình Khiêm, Đại học Huế xb, 1963) và Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học châu Âu thế kỷ 20 (Bản dịch của Vũ Đình Lưu, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb, 1971) của R. Albérès, Văn học thế giới hiện đại (Bản dịch của Bửu Ý, Nxb An Tiêm, 1973) của R. Albérès và các cộng sự, Tiểu thuyết hiện đại (Bản dịch của Dương Thanh Bình, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb, 1971) của D. Brewster và J. A. Burrell cũng là những trường hợp đưa tư tưởng văn học phương Tây đến với công chúng miền Nam bằng con đường dịch thuật. Gần như đồng thời với dịch thuật là các công trình biên khảo, tổng thuật, giới thiệu các trào lưu và tác gia tư tưởng Âu-Mỹ, từ khái quát đến cụ thể. Gần đây có một ít cuốn sách dạng này được tái bản, như sách của Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn, Huỳnh Phan Anh…
Về mặt xuất bản và phát hành, dân số miền Nam giai đoạn 1954-1975 khoảng 20 triệu người, tức là chưa bằng một phần tư hiện nay, nhưng tirage sách khảo cứu lý luận, phê bình trung bình khoảng 2.000, còn tạp chí văn học khoảng 3.000. Cá biệt có trường hợp như cuốn Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh in hai lần, số lượng lên đến 7.000 cuốn.
Tư tưởng văn nghệ hiện đại Âu – Mỹ được phân tích và giới thiệu cặn kẽ trên các trang tạp chí trước khi tập hợp để xuất bản thành sách đã có ảnh hưởng nhất định đến các nhà văn. Cùng với điều đó là việc dịch thuật và quảng bá các tác phẩm văn học cổ điển và hiện đại nước ngoài. Phân tâm học, hiện tượng luận, kỹ thuật dòng ý thức được vận dụng vào việc miêu tả thế giới và con người trong văn xuôi. Những sáng tác thơ, truyện, kịch chịu ảnh hưởng tư tưởng văn nghệ Âu-Mỹ một cách gián tiếp thông qua những hình tượng là những hiện tượng phức tạp và luôn gây tranh cãi. Trường hợp này đang được đánh giá và chọn lọc rất dè dặt, vì khối lượng tác phẩm quá lớn, đòi hỏi một lực lượng nghiên cứu đông đảo. Gần đây, chỉ có một số rất ít tác phẩm thuộc loại này được nhắc đến một cách thận trọng trên báo chí. Ngoài ra, còn có thể nói đến ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của tư tưởng văn nghệ phương Tây trong quan niệm sống và lối sống của một bộ phận công chúng, đòi hỏi cần có sự khảo sát kỹ lưỡng, đặc biệt qua những cuộc điều tra xã hội học.