4. Kết luận

Trên đây có thể xem là những phương diện khác nhau của bức tranh toàn cảnh về sự du nhập các lý thuyết văn nghệ phương Tây ở miền Nam. Cùng với điều đó, và có lẽ quan trọng hơn, là đi sâu nghiên cứu những trào lưu tư tưởng với những tác gia của nó, đã được truyền bá, tiếp thu và gây ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau trong đời sống văn học nghệ thuật miền Nam như thế nào. Đó là chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, tiểu thuyết dòng ý thức, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa Marx, lý thuyết tíếp nhận…

Ở đây có hai hiện tượng cần đặc biệt nhấn mạnh. Hiện tượng thứ nhất là chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu gây nhiều ảnh hưởng trái nghịch nhất, được tiếp thu cả từ phía những người khuynh tả lẫn những người khuynh hữu, những người vô thần lẫn những người hữu thần, từng được đề cao hết lời nhưng cũng bị đả kích kịch liệt. Nó đã tác động không chỉ trong lĩnh vực văn học mà cả trong lĩnh vực âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh…

Hiện tượng thứ hai là mỹ học, lý luận – phê bình văn học mác-xít, vượt qua những rào cản của một chế độ kiểm duyệt khắc nghiệt, bằng nhiều cách khác nhau, đã hiện diện và được vận dụng ngay “trong vòng phấn trắng” (chữ của Thế Nguyên) của văn nghệ các đô thị miền Nam. Trong phạm vi đại học miền Nam, chủ nghĩa Marx được nghiên cứu và giảng dạy là một chủ nghĩa Marx đã khúc xạ qua lăng kính học thuật Âu – Mỹ, được coi trọng khai thác khía cạnh nhân bản và thiên về lý thuyết, chủ yếu là các tác phẩm Marx thời trẻ. Một chủ nghĩa Marx như vậy dễ dàng cộng hưởng với tâm thế của những trí thức khuynh tả có khát vọng về độc lập dân tộc và công bằng xã hội.

Tìm hiểu việc quảng bá các lý thuyết văn học phương Tây ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, không thể không đặt câu hỏi: do đâu mà việc truyền bá đó diễn ra mạnh mẽ trong một thời gian không dài như vậy? Tính từ 1930 cho đến 1954, Sài Gòn và một số đô thị miền Nam vẫn nằm trong ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nhưng mặc dù quá trình hiện đại hóa đang diễn ra, sự truyền bá về mặt này vẫn còn sơ sài và hạn hẹp. Nếu chỉ xét trên chủ trương của nhà cầm quyền, thì khó nói là những người cầm quyền như Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm… ít thiện cảm với văn minh phương Tây hơn Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Vậy có lẽ phải tìm câu trả lời từ nguyên nhân trực tiếp.

Theo chúng tôi, việc quảng bá tư tưởng văn học phương Tây sở dĩ mạnh mẽ như vậy trước hết là vì ảnh hưởng của những người truyền bá. Đó là những trí thức du học ở các nước Âu-Mỹ (Pháp, Bỉ, Đức, Hoa Kỳ…) đã thành tài và trở về sau 1954. Họ lần lượt chiếm giữ những vị trí then chốt trong hệ thống nhà trường đại học và các cơ quan văn hóa. Họ cũng mang về một quan niệm và kỹ thuật làm báo, làm xuất bản mới ở phương Tây mà trước đây Nguyễn Văn Vĩnh, Nhất Linh… chỉ mới áp dụng bước đầu. Vì vậy ảnh hưởng của lớp trí thức này có thể nhìn thấy qua hoạt động của các trường đại học và của giới xuất bản, báo chí. Ngược lại, khắng định vai trò của đại học, báo chí và xuất bản trong việc truyền bá tư tưởng phương Tây cũng chính là khẳng định vai trò của lớp trí thức ấy.

Sau hơn 40 năm nhìn lại, một cách tổng quát, có thể nói các lý thuyết văn học phương Tây đã để lại ảnh hưởng không nhỏ trong đời sống tinh thần của xã hội miền Nam. Việc giới thiệu và quảng bá các trào lưu tư tưởng này trong nhà trường đại học và trên sách báo ở miền Nam những năm 1954-1975 diễn ra không đều nhưng là một hoạt động liên tục. Trên thực tế không có một sự thiên lệch giữa tư tưởng phương Tây và tư tưởng phương Đông trong chương trình đào tạo của các trường đại học. Trong các danh mục xuất bản, văn học Âu Mỹ cũng không hoàn toàn áp đảo; mỗi nhà xuất bản có chủ trương riêng về việc chọn đề tài phù hợp với khẩu vị độc giả của mình. Nhưng liên kết lại các công trình xuất bản thành sách và công bố trên báo chí, thì có thể hình dung một bức tranh vừa đa dạng, sinh động, vừa xô bồ, phức tạp về mặt này.

Nhìn chung, ở miền Nam, giáo dục ngày càng nghiêng về ảnh hưởng của nền giáo dục Mỹ, nhưng đời sống văn học vẫn chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng Tây Âu. Dĩ nhiên không phải tất cả trí thức góp phần quảng bá tư tưởng Âu-Mỹ đều đã được đào tạo ở các nước phương Tây, càng không phải tất cả trí thức ở đô thị miền Nam đều mặn nồng với văn học Âu-Mỹ. Nhưng chính là môi trường văn hóa, giáo dục và ngôn ngữ phương Tây đã góp phần quảng diễn ảnh hưởng của tư tưởng văn nghệ Âu-Mỹ. Một người như Nguyễn Hiến Lê, chưa bao giờ đặt chân đến một xứ sở Âu-Mỹ, nhưng nhà trường Pháp-Việt đã tạo cho ông tầm văn hóa để tiếp nhận và phổ biến tinh hoa văn học phương Tây cho độc giả miền Nam.

Chúng ta sẽ nhận thấy một điều thú vị với so sánh sau đây: một số nhà trí thức tài năng trước 1945 như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhất Linh, Phan Khôi, Trương Tửu… đã có công lớn trong việc giới thiệu tư tưởng xã hội và tư tưởng văn nghệ phương Tây, đồng thời trực tiếp thực hành cách làm báo và làm xuất bản tân tiến; nhưng trong số họ hầu như chưa có ai dịch thuật hay biên khảo một công trình bề thế về lý thuyết mỹ học và văn học phương Tây. Trái lại, 30 năm sau, ở miền Nam, nhiều cuốn sách về triết học, mỹ học Âu-Mỹ đã được dịch thuật, biên soạn, trong khi những công trình vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu, phê bình lại xuất hiện hết sức dè dặt và khiêm tốn.          

Qua dịch thuật, nghiên cứu của những học giả miền Nam, các lý thuyết văn học phương Tây vừa có sức hấp dẫn, vừa bộc lộ những hạn chế lịch sử của nó. Tuy việc nghiên cứu ở đây chỉ mới dừng lại ở bình diện lý thuyết và chưa có nhiều thành tựu về mặt vận dụng vào thực tiễn sáng tác, phê bình văn học, nhưng nó có ý nghĩa đặt nền tảng cho quá trình tiếp thu những khuynh hướng quan trọng của tư tưởng trong khoa học nhân văn hiện đại mà mãi đến gần 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc, giới nghiên cứu Việt Nam mới khởi động trở lại.  

Từ 1986 đến nay, những đổi mới trong việc nghiên cứu, đánh giá sự tiếp nhận tư tưởng mỹ học và các lý thuyết văn học phương Tây ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 cung cấp những bài học quý giá có thể vận dụng vào việc ứng xử với những hiện tượng văn học trong hoàn cảnh xã hội miền Nam giai đoạn 1954-1975, một hoàn cảnh đen tối và cực đoan về chính trị mà ngày nay nhìn lại, trong điều kiện hiện đại hóa và hội nhập, cần rất nhiều tinh thần khoan hòa trong đối thoại văn hóa.           

2015-2016

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG


Tài liệu tham khảo

  1. Dolezel, Lubomir., (1990), Occidental Poetics: tradition and progress, University of Nebraska Press.
  2. Fokkema D., Ibsch E., (1995),Theories of Literature in the Twentieth Century, St. Martin Press, New York.
  3. Harland R., (1999),Literary Theory from Plato to Barthes, Macmillan Press Ltd, London.
  4. Jaspers, K., (2003),Ý niệm đại học, Hà Vũ Trọng và Mai Sơn dịch, Nxb. Hồng Đức và Đại học Hoa Sen, TP Hồ Chí Minh.
  5. La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như Phương (đồng chủ biên),(2015) Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài – kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội.
  6. Nguyễn Văn Trung, (1967),Góp phần phê phán giáo dục và đại học, Nxb. Trình Bầy, Sài Gòn.
  7. Niculin N., (2000),Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội.
  8. Thế Nguyên, (1979), “Báo chí và xuất bản miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy”, trong Văn hóa, văn nghệ miền Nam dưới chế độ

Mỹ ngụy, Tập II, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội.

  1. Trần Văn Chánh, (2014), “Giáo dục miền Nam Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Huế, số 7-8.
  2. Võ Phiến, (2000), Văn học miền Nam – Tổng quan, Nxb. Văn Nghệ, California, in lần thứ ba.