Huỳnh Như Phương
Nguồn: viet-studies.net

1. Dẫn nhập

 Cùng với quá trình hiện đại hóa văn học, Việt Nam đã chứng kiến hoạt động du nhập các lý thuyết văn học phương Tây từ đầu thế kỷ 20 như một nhân tố tác động đến lý luận và sáng tác văn học theo hướng mở cửa và hội nhập với thế giới hiện đại. Hoạt động này diễn biến khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử, chịu sự chi phối của những yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa nhất định. Những năm 1954-1975 là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, khi Việt Nam, do quy định của Hiệp định Genève, bị chia cắt thành hai miền có chế độ chính trị khác nhau. Nếu ở miền Bắc, lý thuyết văn học mác-xít và xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chính thống, thì ở miền Nam các lý thuyết văn học đến từ phương Tây tranh chấp nhau ảnh hưởng và gây ra những tác động đa chiều và đa dạng đến đời sống văn học.

Hiện tượng du nhập các lý thuyết văn học phương Tây trên một mảnh đất Đông Nam Á đang có chiến tranh chỉ có thể cắt nghĩa thấu đáo khi chúng ta xem xét nó trong một bối cảnh rộng hơn: một xã hội phương Đông đã kinh qua hơn nửa thế kỷ tiếp xúc với văn minh phương Tây; một chế độ chính trị muốn lấy mô hình dân chủ phương Tây làm kiểu mẫu; những chủ trương và chính sách văn hóa của những nhà cầm quyền từng được đào tạo trong chính hệ thống Âu-Mỹ.

Nhìn trong một phối cảnh hẹp hơn, có thể lý giải việc du nhập các lý thuyết văn học phương Tây ở miền Nam trong sự tác động và ảnh hưởng của nhà trường đại học và hoạt động báo chí, xuất bản. Nói cách khác, trong những năm 1954-1975, các lý thuyết văn học phương Tây (chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, hiện tượng luận, cấu trúc luận, tiểu thuyết mới, phê bình mới…) được du nhập vào miền Nam qua ba con đường chính: nhà trường đại học, báo chí và xuất bản. Có thể nói qua việc truyền bá tư tưởng văn nghệ Âu-Mỹ, Đại học, báo chí và xuất bản đã tác động đến giới sáng tác, phê bình văn học và trong một phạm vi nhất định, gây ảnh hưởng đến thị hiếu văn học của công chúng.

2. Vai trò của Đại học

 Ở Việt Nam, dưới thời phong kiến, nền giáo dục và khoa cử chịu ảnh hưởng triết lý và học phong Nho giáo. Quốc tử giám là mô hình đại học đầu tiên đào tạo ra những nhân tài cho đất nước theo mẫu người quân tử phương Đông. Cho đến thế kỷ 19, trong khi ở phương Tây mô hình đại học theo kiểu mới như đại học Humboldt đã hình thành, thì ở Việt Nam, nhà trường vẫn nằm trong quỹ đạo truyền thống. Đến cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, cuộc vận động hiện đại hóa từ lĩnh vực kinh tế – xã hội dần dần lan đến các lĩnh vực giáo dục, văn học, báo chí, xuất bản.

Riêng trong lĩnh vực khoa học về văn học, đầu thế kỷ 19 trở về trước ở phương Tây chưa hình thành một đội ngũ những nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình chuyên nghiệp: họ thường là những nhà thơ (như T. Tasso, J. W. Goethe…) hay nhà triết học, mỹ học (như A. Baumgarten, G. Lessing…) bàn về văn học. Đến thế kỷ 19, việc thành lập các khoa Văn học và Khoa học nhân văn đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của đội ngũ nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình chuyên nghiệp đồng thời là các giáo sư chuyên giảng dạy văn học trong nhà trường đại học.

Còn ở Việt Nam, vào những năm 30 thế kỷ 20, nghĩa là khoảng một thế kỷ sau so với phương Tây, nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học chuyên nghiệp mới thực sự ra đời. Và nếu ở phương Tây thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình chuyên nghiệp xuất hiện trong bối cảnh một nền đại học phát triển, thì ở Việt Nam giới này lại được rèn luyện trong môi trường hoạt động văn hóa, báo chí, xuất bản nói chung chứ không phải trực tiếp trong lĩnh vực giáo dục, thậm chí có thể nói ngược lại rằng chính họ làm biến cải tính chất của nền giáo dục.

Nền đại học Việt Nam theo mô hình hiện đại, với một số trí thức được đào tạo ở phương Tây (như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường…) được xây dựng trong bối cảnh cuộc chiến tranh Việt – Pháp (1945-1954), do hoàn cảnh đất nước, chưa kịp làm gì nhiều trong việc tiếp thu các thành tựu lý thuyết mỹ học và văn học phương Tây. Cho đến khi miền Nam Việt Nam có điều kiện tiếp xúc sâu rộng với văn hóa phương Tây vào những năm 1954-1975, thì quy luật hiện đại hóa nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học mới có điều kiện phát huy tác dụng một lần nữa. Có thể nói, sau một thế kỷ, như một quy luật, đại học miền Nam đi theo tinh thần của Đại học Humboldt, và với vai trò của nó, một nền nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học mới từng bước hình thành trên cơ sở tiếp thu nguồn ảnh hưởng phương Tây, đồng thời kế thừa kết quả của những học giả trước Cách mạng Tháng Tám vốn cũng chịu ảnh hưởng của khoa nghiên cứu văn học phương Tây qua con đường của báo chí, xuất bản hơn là của nhà trường.

Như vậy, nói đến sự du nhập các lý thuyết văn học phương Tây ở miền Nam Việt Nam, trước hết cần chú ý vai trò của đại học. Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, Đại hội Giáo dục quốc gia, được tổ chức ở Sài Gòn năm 1958 đề ra ba nguyên tắc “nhân bản, dân tộc và khai phóng”. Nguyên tắc thứ nhất thứ nhất khẳng định mục tiêu phục vụ con người, xem con người là giá trị tối thượng. Nguyên tắc thứ hai chi phối việc giảng dạy, phổ biến văn hóa dân tộc trên nền tảng đạo đức truyền thống, thu hồi chủ quyền quốc gia đối với các cơ sở giáo dục, chuyển ngôn ngữ chính trong giảng dạy từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Nguyên tắc thứ ba hướng nền giáo dục đến con đường tương lai của nhân loại, đề cao việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tiếp cận những thành tựu khoa học hiện đại trên thế giới.

Ba nguyên tắc nói trên gắn liền với chủ trương vừa “bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc”, vừa “tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ, tiếp cận với văn minh thế giới”1Xem Trần Văn Chánh (2014): “Giáo dục miền Nam Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển”, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Huế, số 7-8, tr. 13-14.. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ và chính quyền miền Nam rơi vào tay giới quân sự, ba nguyên tắc trên được tái khẳng định, với một vài điều chỉnh về ngôn từ, trong Đại hội Giáo dục toàn quốc tổ chức tại Sài Gòn năm 1964. Trong cuộc họp báo của Nội các chiến tranh ngày 27-7-1966, Nguyễn Lưu Viên, phó chủ tịch đặc trách văn hóa xã hội, đã đọc diễn văn, nêu rõ: “chánh sách văn hóa giáo dục phải theo định luật của sự phát triển của một nước chậm tiến nông nghiệp mới thu hồi độc lập đang vươn mình để tiến trên con đường phát triển kinh tế, xây dựng dân chủ, mà không mất bản sắc truyền thống của dân tộc, kiến tạo một xã hội tiến bộ mà không mất gốc rễ”2Nguyễn Lưu Viên (1966): Chính sách văn hóa giáo dục, Sài Gòn (không đề Nxb), tr. 5-22.. Tất nhiên đó là những chủ trương trên lý thuyết.

Trong chương trình trung học, ngay từ năm cuối, ở lớp 12 – trước năm 1970 gọi là lớp đệ nhất – học sinh đã bước đầu tiếp xúc khái quát với tư tưởng phương Tây. Học sinh tất cả các chuyên ban phải học hai môn đạo đức học và luận lý học (lô-gích học), riêng học sinh ban C còn học thêm hai môn tâm lý học và siêu hình học. Họ đã làm quen một sách sơ lược với quan niệm của Socrate, Platon, Aristote, Descartes, Kant, Hegel, Durkheim, Comte, Bergson, Freud, Sartre… Đặc biệt, môn tâm lý học dạy những bài có liên quan đến các lý thuyết mỹ học và văn học phương Tây như “Ý thức và vô thức”, “Đau khổ và khoái lạc”, “Cảm xúc”, “Đam mê”, “Cảm giác và tri giác”, “Ảnh tượng và trí tưởng tượng”, “Ký ức và hoài niệm”, “Ngôn ngữ và liên tưởng”…3 Xem Vĩnh Đễ (1971): Tâm lý học 12 CD, Nxb Nam Giao, in lần thứ ba, Sài Gòn.. Nhờ vậy, khi vào học các trường đại học văn khoa, những học sinh này không thấy xa lạ với những triết thuyết phương Tây được trình bày một cách hệ thống và cặn kẽ hơn.

Trên lãnh vực giáo dục đại học, năm 1957, Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại học Huế và Viện Đại học Đà Lạt được thành lập. Ở cả ba viện đại học này đều có trường/ phân khoa đại học Văn khoa, với tư cách là trung tâm nghiên cứu và giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn: triết học, văn chương, lịch sử, tâm lý học, xã hội học… Ở trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, đảm trách việc giảng dạy các chứng chỉ có liên quan đến tư tưởng Âu – Mỹ là những giáo sư nổi tiếng: Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Kiết, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Nguyễn Khắc Hoạch, Đỗ Khánh Hoan…, về sau được tiếp nối bởi những giảng viên trẻ hơn: Trần Đỗ Dũng, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Trọng Văn, Lê Tử Thành, Trương Thị Diệu Lan… Ở trường Đại học Văn khoa Huế, những tên tuổi gắn liền với việc phổ biến tư tưởng Âu – Mỹ có thể kể là Cao Văn Luận, Lâm Ngọc Huỳnh, Lê Thanh Minh Châu, Nguyễn Nam Châu, Lê Tuyên, Nguyễn Ngọc Lan, Bửu Ý, Lê Khắc Cầm… Tạp chí Đại học và Ban tu thư đại học đầu tiên của miền Nam xuất phát từ Viện Đại học Huế.

Hai viện đại học Sài Gòn và Huế là cơ sở đào tạo công lập. Còn Viện Đại học Đà Lạt là cơ sở tư thục thuộc quyền sở hữu của Hội Đại học Đà Lạt mà hội viên là các giám mục thuộc Giáo hội Công giáo Việt Nam, được phép hoạt động từ ngày 8-8-1957 và chính thức thu nhận sinh viên từ đầu năm học 1958-1959. Đại học Đà Lạt có hội đồng quản trị mà chủ tịch đầu tiên là giám mục Nguyễn Văn Bình, viện trưởng đầu tiên là linh mục Nguyễn Văn Lập. Trường Đại học Văn khoa ở đây do linh mục Lê Văn Lý làm khoa trưởng, thu hút sự cộng tác của các giáo sư Nguyễn Thế Anh, Bùi Xuân Bào, Phạm Văn Diêu, Trần Thái Đỉnh, Lê Xuân Khoa, Vũ Khắc Khoan, Bửu Lịch, Trần Trọng San, Nguyễn Sỹ Tế, Lê Thành Trị, Nguyễn Văn Trung, Trần Minh Cẩm (Thiện Cẩm), Trương Bá Cần, Nguyễn Khắc Dương, Phạm Cao Dương, Bửu Dưỡng, Phan Khoang, Lê Hữu Mục, Lê Trung Nhiên, Lý Chánh Trung… Chính nơi đây đã đào tạo những khóa thầy cô giáo dạy triết học đầu tiên cho các trường trung học ở miền Nam. Kỷ yếu của nhà trường còn ghi tên những sinh viên tốt nghiệp sau này trở thành nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học và triết học: Hoàng Ngọc Biên, Vĩnh Đễ, Uông Đại Bằng, Nguyễn Xuân Hoàng, Huỳnh Thanh Tâm (Huỳnh Phan Anh), Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Văn Lục, Trần Đỗ Dũng, Lê Mạnh Thát, Nguyễn Nhật Duật, Võ Văn Điểm (Võ Trường Chinh), Nguyễn Quang Tuyến… Đại học Đà Lạt cho xuất bản tạp chí Tri Thức, công bố một số bài viết giới thiệu các hiện tượng chịu ảnh hưởng khuynh hướng triết học và văn học phương Tây.

Ở Sài Gòn, năm 1964, Khối Ấn Quang thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh do Thượng tọa Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Các phân khoa Phật học, Văn học và Khoa học nhân văn của Viện thu hút nhiều giáo sư nổi tiếng: Thích Mãn Giác, Thích Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện), Lê Mạnh Thát, Ngô Trọng Anh, Kim Định, Lê Tôn Nghiêm… Viện thành lập Ban Tu thư và xuất bản tạp chí Tư Tưởng, đăng nhiều bài nghiên cứu sâu sắc về Thiền học, giáo dục học, hiện tượng luận, cấu trúc luận… Ba năm sau, 1967, như một đối trọng với Khối Ấn Quang, Khối Việt Nam Quốc tự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng thành lập Viện Đại học Phương Nam và Văn khoa là một trong ba phân khoa của Viện.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, năm 1966, Viện Đại học Cần Thơ được thành lập, với bốn phân khoa, trong đó có Văn khoa. Viện ra mắt tạp chí An Bình. Sau đó, những cơ sở đào tạo khác lần lượt ra đời: Viện Đại học Phương Nam (1967), Viện Đại học An Giang (1970) Viện Đại học Cao Đài (1970), Viện Đại học Minh Đức (1970).

Các trường đại học thiên về khoa học xã hội và nhân văn ở miền Nam (như Đại học Văn khoa, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Đà Lạt, Đại học Minh Đức…) chủ yếu tuyển sinh bằng hình thức ghi danh (đăng ký) chứ không qua thi tuyển. Hàng năm ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn có đến gần 1.000 sinh viên theo học các ban Văn chương và Triết học, trong đó nhiều người là viên chức vừa làm vừa học.

Trong việc giới thiệu và quảng bá tư tưởng triết học, mỹ học và văn học phương Tây, có thể khẳng định rằng đại học miền Nam, tập trung là các trường Đại học Văn khoa Sài Gòn và Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn Hạnh, đóng một vai trò rất quan trọng. Trong điều kiện một nền tự trị đại học còn sơ khai và hạn chế, ở các viện đại học, bên cạnh những phân khoa Phật học, Triết học Đông phương thu hút những nhà nghiên cứu về tư tưởng văn học Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản…; các phân khoa Văn học và Triết học Tây phương là tác nhân cho sự ra đời của những công trình nghiên cứu về tư tưởng văn học Âu-Mỹ. Đó cũng là nhu cầu tự thân của một nền đại học theo quỹ đạo giáo dục phương Tây. Thiết kế theo hệ thống chứng chỉ, chương trình đào tạo của các trường đại học Văn khoa hay các phân khoa Khoa học nhân văn đều có những môn học liên quan đến một số lý thuyết triết học và văn học phương Tây hiện đại.

Việc giới thiệu và giảng dạy rộng rãi, đa dạng các khuynh hướng triết học và văn học phương Tây, một mặt thỏa mãn nhu cầu có tính thời thượng của công chúng, mặt khác đáp ứng một đòi hỏi về kiến thức toàn diện mà đại học trang bị cho sinh viên. Trên thực tế, Nguyễn Văn Trung không chỉ nghiên cứu, giảng dạy về chủ nghĩa hiện sinh mà cả về triết học Phật giáo (Biện chứng giải thoát trong Phật giáo), Marx (Nhận diện Marx), Lenin (Bài học cách mạng của Lenin), cấu trúc luận, tiểu thuyết mới… Cũng vậy, Trần Thái Đỉnh còn nghiên cứu, giảng dạy về triết học Descartes, Kant, chủ nghĩa hiện sinh, hiện tượng luận, biện chứng pháp Platon, Hegel, Marx… Lê Tôn Nghiêm còn viết về Socrate, triết học cổ đại và trung đại… Việc phổ biến tư tưởng triết học và văn học Âu-Mỹ trong bối cảnh một nền đại học mới xây dựng muốn cập nhật những thành tựu của văn minh phương Tây là điều dễ hiểu.

Chính môi trường đại học đã tập hợp và đào tạo những nhà nghiên cứu triết học và văn học, góp phần làm xuất hiện những nhà văn, nhà phê bình văn học chịu ảnh hưởng tư tưởng văn học phương Tây, đồng thời tạo điều kiện hình thành một công chúng yêu thích triết học và văn học phương Tây. Nhờ tính độc lập, dù là tương đối, với chính sách của nhà cầm quyền, mà giáo dục đại học ở miền Nam phần nào chứng minh cho nhận định của K. Jaspers: “Nếu trường đại học phục vụ khoa học và học thuật và nếu khoa học và học thuật chỉ có ý nghĩa trong chừng mực chúng là bộ phận của một đời sống trí thức toàn diện, thì đời sống trí thức này chính là huyết mạch của trường đại học”4 K. Jaspers (2003): Ý niệm đại học, Hà Vũ Trọng và Mai Sơn dịch, NXB Hồng Đức và Đại học Hoa Sen, TP Hồ Chí Minh, tr. 5. Bài viết “Những mạch sống tinh thần của đại học” của Lê Tôn Nghiêm in trong sách này vốn là bài giới thiệu tác phẩm Ý niệm đại học của K. Jaspers đã đăng trên tạp chí Tư Tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh số 01, bộ mới, chủ đề “Trước thềm đại học”, tháng 11-1974, tr. 183-189..