Thánh Evagrios xứ Pontus (Anh – Việt)

Evagrios the Solitary
Texts on Discrimination in Respect of Passions and Thoughts

Evagriô Ẩn Tu –
Các Bản Văn về Phân Định Các Tư Tưởng và Đam Mê

(Philokalia, Vol. 1, Page 38-53)

1. Of the demons opposing us in the practice of the ascetic life, there are three groups who fight in the front line: those entrusted with the appetites of gluttony, those who suggest avaricious thoughts, and those who incite us to seek the esteem of men. All the other demons follow behind and in their turn attack those already wounded by the first three groups. For one does not fall into the power of the demon of unchastity, unless one has first fallen because of gluttony; nor is one’s anger aroused unless one is fighting for food or material possessions or the esteem of men. And one does not escape the demon of dejection, unless one no longer experiences suffering when deprived of these things. Nor will one escape pride, the first offspring of the devil, unless one has banished avarice, the root of all evil, since poverty makes a man humble, according to Solomon (cf. Prov. 10:4. LXX). In short, no one can fall into the power of any demon, unless he has been wounded by those of the front line. That is why the devil suggested these three thoughts to the Savior: first he exhorted Him to turn stones into bread; then he promised Him the whole world, if Christ would fall down and worship him; and thirdly he said that, if our Lord would listen to him, He would be glorified and suffer nothing in falling from the pinnacle of the temple. But our Lord, having shown Himself superior to these temptations, commanded the devil to ‘get behind Him’. In this way He teaches us that it is not possible to drive away the devil, unless we scornfully reject these three thoughts (cf. Matt. 4:1-10).

1. Trong hàng ngũ các ma quỷ chống lại chúng ta trên đường khổ hạnh, có ba đạo binh chủ lực giao chiến ở tiền tuyến: những thần dữ chuyên cai quản lòng ham ăn uống, những kẻ gieo vào ta ý tưởng tham lam của cải, và những kẻ xúi giục ta tìm kiếm sự tán dương và danh tiếng nơi loài người. Tất cả các ma quỷ khác đi theo sau, và từng lượt một, chúng tấn công những ai đã bị thương bởi ba đạo binh đầu tiên này. Bởi lẽ, không ai rơi vào quyền lực của ma quỷ dâm ô, nếu trước đó chưa bị quật ngã bởi lòng ham ăn uống; cũng thế, cơn giận dữ không thể bốc lên, nếu người ấy không đang tranh đấu vì thức ăn, của cải, hay danh dự nơi người đời. Và không ai thoát khỏi thần u sầu, nếu vẫn còn đau khổ khi bị tước mất những thứ đó. Cũng vậy, không ai thoát khỏi kiêu ngạo, — thứ con đầu lòng của ma quỷ — nếu chưa nhổ bỏ tận gốc lòng tham, bởi vì, theo lời Salômôn, “người nghèo trở nên khiêm hạ” (x. Cn 10,4 – LXX). Tóm lại, không ai rơi vào quyền lực của bất cứ ma quỷ nào, nếu chưa trước hết bị thương bởi những kẻ nơi tiền tuyến. Chính vì vậy, ma quỷ đã gợi lên ba tư tưởng ấy để cám dỗ Đấng Cứu Thế: trước hết, hắn xúi Ngài biến đá thành bánh; kế đến, hắn hứa ban cho Ngài toàn thể thế gian, nếu Đức Kitô sấp mình thờ lạy hắn; và sau cùng, hắn bảo rằng nếu Chúa nghe lời hắn, Ngài sẽ được vinh hiển và chẳng hề chịu khổ khi gieo mình từ nóc Đền Thờ xuống. Nhưng Chúa chúng ta, sau khi tỏ ra vượt thắng các cơn cám dỗ ấy, đã truyền cho ma quỷ lui ra sau Ngài. Bằng cách đó, Ngài dạy chúng ta rằng: không thể xua đuổi ma quỷ, nếu ta không khinh chê và dứt khoát loại bỏ ba tư tưởng này (x. Mt 4,1–10).

2. All thoughts inspired by the demons produce within us conceptions of sensory objects; and in this way the intellect, with such conceptions imprinted on it, bears the forms of these objects within itself. So, by recognizing the object presented to it, the intellect knows which demon is approaching. For example, if the face of a person who has done me harm or insulted me appears in my mind, I recognize the demon of rancor approaching. If there is a suggestion of material things or of esteem, again it will be clear which demon is troubling me. In the same way with other thoughts, we can infer from the object appearing in the mind which demon is close at hand, suggesting that object to us. I do not say that all thoughts of such things come from the demons; for when the intellect is activated by man it is its nature to bring forth the images of past events. But all thoughts producing anger or desire in a way that is contrary to nature are caused by demons. For through demonic agitation the intellect mentally commits adultery and becomes incensed. Thus it cannot receive the vision of God, who sets us in order; for the divine splendor only appears to the intellect during prayer, when the intellect is free from conceptions of sensory objects.

2. Mọi tư tưởng do ma quỷ gợi nên đều sinh ra trong ta những hình ảnh của các đối tượng cảm giác, và như thế, trí năng — khi bị in dấu bởi các hình ảnh ấy — mang trong mình những hình thái của các vật thể cảm quan. Nhờ đó, khi nhận ra đối tượng hiện lên trong tâm trí, trí năng có thể biết được loại ma quỷ nào đang đến gần. Ví dụ, nếu khuôn mặt của người đã xúc phạm hay làm hại ta hiện ra trong tâm tưởng, ta nhận ra ma quỷ của lòng oán hận đang tiến lại gần. Nếu trong tâm ta xuất hiện những hình ảnh về của cải vật chất hay danh vọng, thì cũng dễ nhận ra loại quỷ nào đang khuấy động ta. Cũng như vậy với các tư tưởng khác: từ đối tượng được gợi nên trong tâm trí, ta có thể suy ra ma quỷ nào đang ở gần, kẻ đã gieo đối tượng ấy vào trong ta. Tuy nhiên, ta không nói rằng mọi tư tưởng về các đối tượng cảm giác đều xuất phát từ ma quỷ; bởi vì, khi trí năng được con người khơi động, nó có khuynh hướng tự nhiên làm sống lại những hình ảnh của các biến cố đã qua. Nhưng mọi tư tưởng nào khơi dậy nơi ta sự giận dữ hay dục vọng một cách trái tự nhiên, thì ắt là do ma quỷ gây ra. Bởi qua sự khuấy động của ma quỷ, trí năng phạm tội ngoại tình trong tâm hồn và bốc cháy trong cơn thịnh nộ. Như thế, nó không thể lãnh nhận được thị kiến của Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể đặt lại trật tự trong tâm ta; vì vinh quang thần linh chỉ tỏ hiện cho trí năng trong giờ cầu nguyện, khi trí ấy hoàn toàn được giải thoát khỏi mọi hình ảnh của thế giới cảm quan.

3. Man cannot drive away impassioned thoughts unless he watches over his desire and incensive power1Chú thích của người dịch: Incensive power: Đây là một thuật ngữ tu đức khó hiểu, bắt nguồn từ truyền thống Đông phương. Nó chỉ năng lực bốc đồng, phần năng lượng nội tâm có thể dẫn đến giận dữ, phản ứng mạnh mẽ hoặc hành động thiếu suy xét. Trong tiếng Hy Lạp, nó là thymos – một trong ba năng lực của linh hồn theo Evagriô Ponticô: lý trí (logikon), dục vọng (epithymia) và bốc đồng (thymos).. He destroys desire through fasting, vigils and sleeping on the ground, and he tames his incensive power through longsuffering, forbearance, forgiveness and acts of compassion. For with these two passions are connected almost all the demonic thoughts which lead the intellect to disaster and perdition. It is impossible to overcome these passions unless we can rise above attachment to food and possessions, to self-esteem and even to our very body, because it is through the body that the demons often attempt to attack us. It is essential, then, to imitate people who are in danger at sea and throw things overboard because of the violence of the winds and the threatening waves. But here we must be very careful in case we cast things overboard just to be seen doing so by men. For then we shall get the reward we want; but we shall suffer another shipwreck, worse than the first, blown off our course by the contrary wind of the demon of self-esteem. That is why our Lord, instructing the intellect, our helmsman, says in the Gospels: ‘Take heed that you do not give alms in front of others, to be seen by them; for unless you take heed, you will have no reward from your Father in heaven.’ Again, He says: ‘When you pray, you must not be as the hypocrites are: for they love to pray standing in synagogues and at street-corners, so as to be seen by men. Truly I say to you, they get the reward they want. . . . Moreover when you fast, do not put on a gloomy face, like the hypocrites; for they disfigure their faces, so that they may be seen by men to be fasting. Truly I say to you, they get the reward they want’ (cf. Matt. 6: 1-18). Observe how the Physician of souls here corrects our incensive power through acts of compassion, purifies the intellect through prayer, and through fasting withers desire. By means of these virtues the new Adam is formed, made again according to the image of his Creator – an Adam in whom, thanks to dispassion, there is ‘neither male nor female’ and, thanks to singleness of faith, there is ‘neither Greek nor Jew, circumcision nor uncircumcision, barbarian, Scythian, bond nor free; but Christ is all, and in all’ (Gal. 3:28; Col. 3: 10:11).

3. Con người không thể xua đuổi được các tư tưởng đam mê, nếu không canh giữ chặt chẽ hai sức mạnh nội tâm của mình: dục vọng (epithymia) và năng lực bốc đồng (thymos)2Chú thích của người dịch: Incensive power: Đây là một thuật ngữ tu đức khó hiểu, bắt nguồn từ truyền thống Đông phương. Nó chỉ năng lực bốc đồng, phần năng lượng nội tâm có thể dẫn đến giận dữ, phản ứng mạnh mẽ hoặc hành động thiếu suy xét. Trong tiếng Hy Lạp, nó là thymos – một trong ba năng lực của linh hồn theo Evagriô Ponticô: lý trí (logikon), dục vọng (epithymia) và bốc đồng (thymos).. Người ta diệt trừ dục vọng bằng ăn chay, thức tỉnh trong đêm, và ngủ trên đất, còn chế ngự sức nóng của giận dữ bằng lòng kiên nhẫn, bao dung, tha thứ và lòng thương xót. Bởi vì gần như mọi tư tưởng ma quỷ dẫn trí năng đến đổ vỡ và hư mất đều bám rễ vào hai dục tính này. Không thể vượt thắng được các đam mê ấy, nếu ta chưa vươn lên khỏi sự quyến luyến đối với của ăn, của cải, danh vọng, và ngay cả đối với thân xác chính mình; bởi chính qua thân xác, ma quỷ thường tấn công chúng ta cách mạnh mẽ nhất. Do đó, cần phải bắt chước những người đi biển trong cơn bão tố, họ ném mọi vật xuống biển để nhẹ tàu mà thoát nạn, trước sức gió dữ và những đợt sóng đe doạ. Nhưng ở đây, ta phải hết sức thận trọng, kẻo lại ném bỏ mọi sự chỉ để được người đời trông thấy, và như thế, ta nhận ngay phần thưởng trần thế mình mong, nhưng lại mắc một vụ đắm tàu khác còn bi thảm hơn, bị cuốn trôi khỏi hải trình thiêng liêng bởi ngọn gió ngược của ma quỷ kiêu ngạo và tự tôn. Chính vì vậy, Chúa chúng ta, Đấng dạy dỗ trí năng — vị hoa tiêu của linh hồn, đã phán trong Tin Mừng rằng: “Hãy coi chừng, đừng phô trương việc bố thí trước mặt người đời để được họ tán dương; nếu không, anh em sẽ không có phần thưởng nơi Cha trên trời.” Và Ngài còn nói: “Khi cầu nguyện, anh em đừng như bọn giả hình, vì họ thích đứng cầu nguyện trong hội đường và ngoài ngã ba đường phố để được người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: họ đã được phần thưởng rồi…Còn khi ăn chay, đừng làm bộ rầu rĩ như bọn giả hình, vì họ làm cho mặt mày biến sắc để tỏ cho người ta biết họ đang ăn chay. Thầy bảo thật anh em: họ đã được phần thưởng rồi.” (x. Mt 6,1–18) Hãy xem đó, Vị Y Sĩ của các linh hồn: — sửa trị sức nóng của giận dữ bằng lòng thương xót, — thanh luyện trí năng bằng cầu nguyện, — và làm khô cằn dục vọng bằng chay tịnh. Nhờ ba nhân đức này, Ađam mới được hình thành, được tái tạo theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa của mình — một Ađam mà, nhờ vô nhiễm nơi tâm hồn, “không còn đàn ông, cũng chẳng còn đàn bà”; và nhờ đức tin duy nhất, “không còn Hy Lạp hay Do Thái, người cắt bì hay không cắt bì, man rợ hay Scythia3Chú thích của người dịch Scythian (tiếng Hy Lạp: Σκύθης – Skýthēs) là tên gọi một dân tộc du mục cổ đại sống ở vùng thảo nguyên phía bắc Biển Đen, trải dài từ Đông Âu đến Trung Á (ngày nay là Ukraina, Nga, Kazakhstan). “Scythian” tượng trưng cho những dân tộc bị xem là man rợ, xa lạ với văn minh Hy-La, và ở ngoài cộng đoàn giao ước., nô lệ hay tự do; nhưng Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người.” (x. Gl 3,28; Cl 3,10–11)

4. We shall now enquire how, in the fantasies that occur during sleep, the demons imprint shapes and forms on our intellect. Normally the intellect receives these shapes and forms either through the eyes when it is seeing, or through the ears when it is hearing, or through some other sense, or else through the memory, which stirs up and imprints on the intellect things which it has experienced through the body. Now it seems to me that in our sleep, when the activity of our bodily senses is suspended, it is by arousing the memory that the demons make this imprint. But, in that case, how do the demons arouse the memory? Is it through the passions? Clearly this is so, for those in a state of purity and dispassion no longer experience demonic fantasies in sleep. There is also an activity of the memory that is not demonic: it is caused by ourselves or by the angelic powers, and through it we may meet with saints and delight in their company. We should notice in addition that during sleep the memory stirs up, without the body’s participation, those very images which the soul has received in association with the body. This is clear from the fact that we often experience such images during sleep, when the body is at rest.

4. Giờ đây, ta hãy xét xem trong những hình ảnh mộng tưởng xảy ra lúc ngủ, ma quỷ đã in khắc hình dạng và hình thức vào trí năng con người như thế nào. Thông thường, trí năng đón nhận những hình ảnh và hình thức này — hoặc qua đôi mắt khi nhìn, — hoặc qua đôi tai khi nghe, — hay qua các giác quan khác, hoặc qua ký ức, là nơi đánh thức và khắc ghi lại trong trí năng những điều mà thân xác đã từng cảm nghiệm. Vậy thì, trong giấc ngủ, khi các hoạt động của giác quan thể lý ngưng lại, làm sao ma quỷ có thể khắc dấu ấn của mình lên trí năng? Có lẽ, bằng cách khuấy động ký ức, vì chính qua ký ức mà chúng gieo nên những hình tượng trong ta. Nhưng — ta hãy hỏi — bằng cách nào ma quỷ khuấy động ký ức? Phải chăng là qua các dục vọng? Rõ ràng là như thế, bởi vì những ai đã đạt tới thanh khiết và vô nhiễm, thì không còn gặp những mộng tưởng ma quỷ trong giấc ngủ nữa. Tuy nhiên, cũng có một hoạt động của ký ức không do ma quỷ gây ra: đó là do chính ta hoặc do các thiên thần thánh thiện, và nhờ đó, ta có thể gặp gỡ các thánh nhân và được hoan hỷ trong sự hiện diện của họ. Cũng cần lưu ý thêm rằng: trong giấc ngủ, ký ức có thể khơi dậy — không cần sự tham dự của thân xác — chính những hình ảnh mà linh hồn đã ghi nhận trong mối liên hệ với thân xác. Điều này rõ ràng, vì nhiều lần ta vẫn thấy những hình ảnh ấy trong mộng, khi thân xác hoàn toàn nghỉ ngơi và bất động.

Just as it is possible to think of water both while thirsty and while not thirsty, so it is possible to think of gold with greed and without greed. The same applies to other things. Thus if we can discriminate in this way between one kind of fantasy and another, we can then recognize the artfulness of the demons. We should be aware, too, that the demons also use external things to produce fantasies, such as the sound of waves heard at sea.

Cũng như người ta có thể nghĩ đến nước — dù đang khát hay không khát, thì cũng có thể nghĩ đến vàng — với lòng tham lam hoặc không tham lam. Điều ấy cũng tương tự đối với mọi sự khác. Vì thế, nếu ta biết phân định được sự khác biệt giữa các loại mộng tưởng, thì ta có thể nhận ra mưu kế tinh vi của ma quỷ. Cần phải biết rằng, ma quỷ không chỉ dùng ký ức bên trong, mà còn dùng cả những yếu tố bên ngoài để gây nên ảo giác và tưởng tượng, chẳng hạn như tiếng sóng biển vang dội khi ta ở ngoài khơi, để khuấy động tâm trí và gợi nên những hình ảnh huyễn hoặc trong ta.

5. When our incensive power is aroused in a way contrary to nature, it greatly furthers the aim of the demons and is an ally in all their evil designs. Day and night, therefore, they are always trying to provoke it. And when they see it tethered by gentleness, they at once try to set it free on some seemingly just pretext; in this way, when it is violently aroused, they can use it for their shameful purposes. So it must not be aroused either for just or for unjust reasons; and we must not hand a dangerous sword to those too readily incensed to wrath, for it often happens that people become excessively worked up for quite trivial reasons. Tell me, why do you rush into battle so quickly, if you are really above caring about food, possessions and glory? Why keep a watchdog if you have renounced everything? If you do, and it barks and attacks other men, it is clear that there are still some possessions for it to guard. But since I know that wrath is destructive of pure prayer, the fact that you cannot control it shows how far you are from such prayer. I am also surprised that you have forgotten the saints: David who exclaims, ‘Cease from anger, and put aside your wrath’(Ps. 37:8. LXX); and Ecclesiastes who urges us, ‘Remove wrath from your heart, and put away evil from your flesh'(Eccles. 11:10. LXX); while the Apostle commands that always and everywhere men should ‘lift up holy hands, without anger and without quarrelling’ (1 Tim. 2:8). And do we not learn the same from the mysterious and ancient custom of putting dogs out of the house during prayer? This indicates that there should be no wrath in those who pray. ‘Their wine is the wrath of serpents’ (Deut. 32:33. LXX); that is why the Nazarenes abstained from wine.

5. Khi năng lực bốc đồng (thymos) trong lòng con người bị khuấy động một cách trái với bản tính, thì nó trở thành một trợ lực đắc lực cho ma quỷ, và đồng minh trung thành trong mọi mưu đồ gian ác của chúng. Vì thế, ngày cũng như đêm, chúng không ngừng tìm cách khơi dậy nơi ta cơn phẫn nộ. Khi chúng thấy nhiệt khí ấy bị ràng buộc trong sự hiền lành, thì tức khắc chúng tìm cách giải thoát nó, dưới một lý do xem ra chính đáng, để khi nó bùng dậy dữ dội, chúng có thể lợi dụng nó cho những mục đích ô nhục của mình. Do đó, chớ để cơn giận bị kích động, dù là vì lý do chính đáng hay bất chính; và đừng trao cho người dễ nổi nóng một thanh gươm nguy hiểm, bởi không ít lần người ta bị kích động dữ dội chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt. Hãy nói cho tôi biết, nếu anh thực sự đã vượt qua mọi quyến luyến đối với của ăn, của cải và vinh hoa, thì tại sao lại nhanh chóng lao vào chiến đấu như thế? Nếu anh đã từ bỏ hết mọi sự, tại sao còn giữ lại con chó canh nhà? Bởi nếu nó vẫn còn sủa vang và tấn công người khác, điều đó chứng tỏ rằng vẫn còn có thứ gì đó để nó phải canh giữ. Thế nhưng, tôi biết rằng cơn giận phá huỷ cầu nguyện tinh tuyền, và vì anh không thể chế ngự nó, điều đó cho thấy anh còn xa với lời cầu nguyện chân thật. Tôi cũng ngạc nhiên rằng anh đã quên lời của các thánh: Đavít kêu lên: “Hãy chấm dứt cơn giận, hãy rời xa cơn phẫn nộ” (Tv 37,8 – bản LXX). Và Giảng Viên khuyên nhủ: “Hãy loại bỏ cơn giận khỏi lòng ngươi, và hãy xua đuổi điều ác khỏi xác thịt ngươi.” (Gv 11,10 – bản LXX) Còn Thánh Tông Đồ thì truyền dạy: “Mọi nơi, mọi lúc, đàn ông phải giơ tay thánh thiện mà cầu nguyện, không có giận dữ hay cãi cọ.” (1 Tm 2,8) Há chúng ta không học được cùng một bài học ấy từ tập tục thánh xưa — khi người ta đuổi chó ra khỏi nhà trước khi cầu nguyện sao? Điều đó ám chỉ rằng không nên có cơn giận trong tâm hồn của những ai đang cầu nguyện. “Rượu của chúng là cơn thịnh nộ của rắn độc.” (Đnl 32:33 – bản LXX) Chính vì thế, các thánh Nazarêen đã kiêng không uống rượu, để giữ tâm hồn khỏi men giận dữ của loài rắn cổ xưa.

It is needless to insist that we should not worry about clothes or food. The Savior Himself forbids this in the Gospels: ‘Do not worry about what to eat or drink, or about what to wear’ (cf. Matt. 6:25). Such anxiety is a mark of the Gentiles and unbelievers, who reject the providence of the Lord and deny the Creator. An attitude of this kind is entirely wrong for Christians who believe that even two sparrows which are sold for a farthing are under the care of the holy angels (cf. Matt. 10: 29). The demons, however, after arousing impure thoughts, go on to suggest worries of this kind, so that ‘Jesus conveys Himself away’, because of the multitude of concerns in our mind (cf. John 5:13). The divine word can bear no fruit, being choked by our cares. Let us, then, renounce these cares, and throw them down before the Lord, being content with what we have at the moment; and living in poverty and rags, let us day by day rid ourselves of all that fills us with self-esteem. If anyone thinks it shameful to live in rags, he should remember St Paul, who ‘in cold and nakedness’ patiently awaited the ‘crown of righteousness’ (2 Cor. 11:27; 2 Tim. 4:8). The Apostle likened this world to a contest in an arena (cf. 1 Cor. 9:24); how then can someone clothed with anxious thoughts run for ‘the prize of the high calling of God’ (Phil. 3:14), or ‘wrestle against principalities, against powers, against the rulers of the darkness of this world’ (Eph. 6:12)? I do not see how this is possible; for just as a runner is obstructed and weighed down by clothing, so too is the intellect by anxious thoughts – if indeed the saying is true that the intellect is attached to its own treasure; for it is said, ‘where your treasure is, there will your heart be also’ (Matt. 6:21).

Không cần phải nhấn mạnh rằng chúng ta không nên lo lắng về áo mặc hay của ăn. Chính Đấng Cứu Độ đã dạy trong Phúc Âm: “Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn, hay lấy gì mà uống; cũng đừng lo cho thân xác: lấy gì mà mặc” (x. Mt 6,25). Sự ưu tư bận tâm như thế là dấu chỉ của dân ngoại và kẻ vô tín, những người chối bỏ sự quan phòng của Thiên Chúa và phủ nhận Đấng Tạo Hoá. Nhưng điều ấy hoàn toàn xa lạ với những ai mang danh xưng Kitô hữu, vì họ tin rằng ngay cả hai con chim sẻ được bán chỉ một đồng cũng nằm dưới sự chăm sóc của các thiên thần thánh (x. Mt 10,29). Tuy nhiên, ma quỷ, sau khi gây nên trong ta những ý tưởng ô uế, thì lại gợi lên những mối lo lắng trần thế, để cho “Chúa Giêsu lánh khỏi ta”, bởi đám đông những tư tưởng và bận tâm trong tâm trí (x. Ga 5,13). Lời Chúa khi ấy không thể sinh hoa trái, vì bị bóp nghẹt giữa những lo toan của đời này. Vậy nên, chúng ta hãy khước từ những ưu phiền ấy, phó mặc tất cả cho Chúa, bằng lòng với những gì hiện có, và sống trong khó nghèo, áo rách, thanh thoát từng ngày khỏi mọi kiêu ngạo và tự mãn. Nếu ai cho rằng sống trong rách rưới là điều hổ thẹn, hãy nhớ đến Thánh Phaolô, người “chịu lạnh lẽo và trần trụi”, mà vẫn kiên nhẫn đợi chờ “triều thiên công chính” (2 Cr 11,27; 2 Tm 4,8). Vị Tông Đồ ví đời này như một đấu trường (x. 1 Cr 9,24); vậy thì, người chất chứa trong lòng bao mối lo âu làm sao có thể “chạy tới đích để đoạt giải Nước Trời” (Pl 3,14), hay “chiến đấu chống lại các quyền lực, thế lực và bóng tối” (Ep 6,12)? Điều ấy không thể nào được, vì cũng như người lực sĩ bị cản trở khi vướng áo quần, thì trí năng cũng bị đè nặng khi đầy ắp những lo nghĩ. Bởi quả thật, như lời Kinh Thánh nói: “Kho tàng ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó.” (Mt 6,21).

6. Sometimes thoughts are cut off, and sometimes they do the cutting off. Evil thoughts cut off good thoughts, and in turn are cut off by good thoughts. The Holy Spirit therefore notes to which thought we give priority and condemns or approves us accordingly. What I mean is something like this: the thought occurs to me to give hospitality and it is for the Lord’s sake; but when the tempter attacks, this thought is cut off and in its place he suggests giving hospitality for the sake of display. Again, the thought comes to me of giving hospitality so as to appear hospitable in the eyes of others. But this thought in its turn is cut off when a better thought comes, which leads me to practice this virtue for the Lord’s sake and not so as to gain esteem from men.

6. Đôi khi tư tưởng bị cắt đứt, và đôi khi chính nó là kẻ cắt đứt những tư tưởng khác. Tư tưởng xấu cắt đứt tư tưởng lành, và rồi lại bị tư tưởng lành cắt đứt ngược lại. Vì thế, Chúa Thánh Thần quan sát xem chúng ta ưu tiên điều gì trong tâm trí, và căn cứ vào đó mà Ngài chuẩn nhận hay khiển trách. Ý tôi muốn nói như sau: một lúc nào đó, ý nghĩ về việc tiếp đãi khách lạ xuất hiện trong lòng tôi, và tôi muốn thực hiện điều ấy vì Chúa. Nhưng rồi kẻ cám dỗ liền tấn công, và ý nghĩ ấy bị cắt đứt, thay vào đó là một ý tưởng khác — rằng tôi nên tiếp đãi khách để khoe khoang, cho người ta thấy mình quảng đại. Ngược lại, cũng có khi ý nghĩ khoe khoang ấy xuất hiện trước, và chính nó lại bị dập tắt khi một ý nghĩ tốt lành hơn trỗi dậy — đó là làm việc ấy vì Chúa, chứ không phải để tìm lời khen hay tiếng tốt nơi người đời. Như vậy, trong từng khoảnh khắc, trận chiến của các tư tưởng diễn ra trong cõi thâm sâu của tâm hồn, và Chúa Thánh Thần là Đấng phân định, để thấy lòng ta hướng về ai — về Thiên Chúa hay về chính mình.

7. We have learnt, after much observation, to recognize the difference between angelic thoughts, human thoughts, and thoughts that come from demons. Angelic thought is concerned with the true nature of things and with searching out their spiritual essences. For example, why was gold created and scattered like sand in the lower regions of the earth, to be found only with much toil and effort? And how, when found, is it washed in water and committed to the fire, and then put into the hands of craftsmen who fashion it into the candlestick of the tabernacle and the censers and the vessels (cf. Exod. 25:22-39) from which, by the grace of our Savior, the king of Babylon no longer drinks (cf. Dan. 5:2, 3)? A man such as Cleopas brings a heart burning with these mysteries (cf. Luke 24:32). Demonic thought, on the other hand, neither knows nor can know such things. It can only shamelessly suggest the acquisition of physical gold, looking forward to the wealth and glory that will come from this. Finally, human thought neither seeks to acquire gold nor is concerned to know what it symbolizes, but brings before the mind simply the image of gold, without passion or greed. The same principle applies to other things as well.

7. Qua nhiều năm chiêm nghiệm và quan sát, chúng ta học được cách phân biệt ba loại tư tưởng: — tư tưởng thiên thần, — tư tưởng con người, và tư tưởng xuất phát từ ma quỷ. Tư tưởng thiên thần hướng đến bản tính thật của muôn vật, và tìm kiếm ý nghĩa thiêng liêng ẩn sâu trong chúng. Chẳng hạn, người có tư tưởng ấy tự hỏi: vì sao vàng được Thiên Chúa dựng nên, và lại giấu sâu dưới lòng đất như cát bụi, để con người chỉ có thể tìm ra bằng lao nhọc và khổ công? Rồi khi đã được tìm thấy, vàng phải được rửa trong nước, tinh luyện trong lửa, và sau cùng được trao vào tay các nghệ nhân, để họ chế tạo thành chân đèn của Nhà Tạm, chén hương và bình thánh như được ghi chép trong Sách Xuất Hành (x. Xh 25,22–39) — những vật mà, nhờ ân sủng của Đấng Cứu Chuộc, vua Babylon không còn dám uống nữa (x. Đn 5,2–3). Người có tâm hồn như thế, giống như ông Clêôpát trên đường Emmau, mang trong lòng một ngọn lửa bừng cháy trước mầu nhiệm của Thiên Chúa (x. Lc 24,32). Tư tưởng ma quỷ, ngược lại, không hiểu được cũng không thể hiểu những điều ấy; nó chỉ trơ trẽn gợi lên lòng tham muốn, thúc đẩy con người tìm kiếm vàng bạc vật chất, với hy vọng có được của cải và vinh quang thế gian. Còn tư tưởng loài người, thì không tìm cách chiếm hữu vàng, cũng không bận tâm đến ý nghĩa thiêng liêng của nó, nhưng chỉ đơn giản gợi lên hình ảnh vàng trong trí tưởng, không bị ràng buộc bởi tham lam hay dục vọng. Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho mọi sự khác, vì mọi đối tượng trần thế đều có thể được nhìn bằng ba con mắt khác nhau: — thiên thần thì chiêm niệm bản thể và biểu tượng thiêng liêng, — con người thì nhìn cách vô tư và trung dung, — ma quỷ thì nhìn với dục vọng và sự mê hoặc của thế giới này.

8. There is a demon, known as the deluder, who visits the brethren especially at dawn, and leads the intellect about from city to city, from village to village, from house to house, pretending that no passions are aroused through such visits; but then the intellect goes on to meet and talk with old acquaintances at greater length, and so allows its own state to be corrupted by those it encounters. Little by little it falls away from the knowledge of God and holiness, and forgets its calling. Therefore the solitary must watch this demon, noting where he comes from and where he ends up; for this demon does not make this long circuit without purpose and at random, but because he wishes to corrupt the state of the solitary, so that his intellect, over-excited by all this wandering, and intoxicated by its many meetings, may immediately fall prey to the demons of unchastity, anger or dejection – the demons that above all others destroy its inherent brightness.

8. Có một tên quỷ được gọi là kẻ đánh lừa (tà thần mê hoặc), nó thường đến quấy nhiễu các đan sĩ vào lúc rạng đông, và dẫn dắt trí năng lang thang hết nơi này đến nơi khác — từ thành thị đến thôn làng, từ nhà này sang nhà khác — giả bộ rằng những chuyến đi đó vô hại, rằng chúng không làm dấy lên đam mê hay xao động nào. Thế nhưng, trí năng dần dần bị cuốn đi, nó trò chuyện dài lâu với những khuôn mặt quen thuộc trong ký ức, và như thế, trạng thái nội tâm của nó bị hoen ố bởi những gì nó gặp gỡ. Từng chút một, nó xa rời việc nhận biết Thiên Chúa và sự thánh thiện, rồi quên mất ơn gọi của chính mình. Vì vậy, người ẩn tu phải canh chừng tên quỷ này cách tỉnh thức, quan sát xem nó đến từ đâu và kết thúc ở đâu. Bởi lẽ, nó không bao giờ thực hiện những chuyến lang thang ấy một cách ngẫu nhiên hay vô cớ, nhưng với mục đích phá hoại linh hồn của người ẩn tu, để trí năng vốn yên tĩnh được Thiên Chúa gìn giữ bị xáo trộn bởi những cuộc du hành tưởng tượng, bị say sưa bởi những hình ảnh và cuộc gặp gỡ hư ảo, và ngay sau đó, rơi vào tay các thần ô uế của dâm dục, giận dữ và sầu não — những thần dữ vốn hủy hoại hơn hết thảy ánh sáng nội tâm mà Thiên Chúa đã đặt trong linh hồn.

But if we really want to understand the cunning of this demon, we should not be hasty in speaking to him, or tell others what is taking place, how he is compelling us to make these visits in our mind and how he is gradually driving the intellect to its death – for then he will flee from us, as he cannot bear to be seen doing this; and so we shall not grasp any of the things we are anxious to learn. But, instead, we should allow him one more day, or even two, to play out his role, so that we can learn about his deceitfulness in detail; then, mentally rebuking him, we put him to flight. But because during temptation the intellect is clouded and does not see exactly what is happening, do as follows after the demon has withdrawn. Sit down and recall in solitude the things that have happened: where you started and where you went, in what place you were seized by the spirit of unchastity, dejection or anger and how it all happened. Examine these things closely and commit them to memory, so that you will then be ready to expose the demon when he next approaches you. Try to become conscious of the weak spot in yourself which he hid from you, and you will not follow him again. If you wish to enrage him, expose him at once when he reappears, and tell him just where you went first, and where next, and so on. For he becomes very angry and cannot bear the disgrace. And the proof that you spoke to him effectively is that the thoughts he suggested leave you. For he cannot remain in action when he is openly exposed.

Nhưng nếu thật sự chúng ta muốn hiểu trọn mưu chước của tên quỷ này, thì đừng vội vàng đối thoại với nó, cũng đừng nói với người khác những gì đang diễn ra — rằng nó ép buộc chúng ta thực hiện những chuyến “thăm viếng” trong tâm trí, và dần dần xô đẩy trí năng đến chỗ diệt vong. Bởi vì nếu ta phơi bày nó quá sớm, nó sẽ bỏ chạy, — nó không chịu nổi khi bị nhìn thấy lúc đang hành động — và như thế chúng ta sẽ không nắm bắt được điều mình muốn học hỏi. Trái lại, hãy để nó diễn trọn vai của nó thêm một ngày, hay hai ngày nữa, để ta học cho tường tận mọi xảo trá của nó; rồi trong tâm trí, quở trách nó, và xua đuổi nó. Tuy nhiên, vì trong lúc bị cám dỗ trí năng bị u ám và không thấy rõ điều đang xảy ra, hãy làm như sau sau khi quỷ đã rút lui: ngồi xuống trong thinh lặng, nhắc lại từng điều đã xảy ra: ta bắt đầu từ đâu và đã đi đến đâu, ở chỗ nào ta bị thần dâm ô, u sầu hay giận dữ chộp lấy, và mọi sự đã diễn ra thế nào. Xem xét kỹ lưỡng các điều ấy và ghi nhớ, để khi nó trở lại, ta sẵn sàng vạch trần nó. Hãy cố nhận ra trong chính mình điểm yếu mà nó đã che giấu không cho ta thấy, và con sẽ không còn theo nó nữa. Nếu muốn làm nó tức giận, hãy vạch mặt nó ngay tức khắc khi nó xuất hiện, và kể cho nó: ngươi đã dẫn ta đi đâu trước, rồi đến đâu kế đó, và cứ thế. Vì nó nổi giận dữ dội và không chịu nổi sự nhục nhã. Bằng chứng cho thấy con đã nói trúng vào mặt nó, là các tư tưởng nó gợi nên sẽ rời bỏ con. Bởi nó không thể tiếp tục hành động khi đã bị phơi bày công khai.

The defeat of this demon is followed by heavy sleepiness and deadness, together with a feeling of great coldness in the eyelids, countless yawnings, and heaviness in the shoulders. But if you pray intensely all this is dispersed by the Holy Spirit.

Sau khi con quỷ này bị đánh bại, linh hồn rơi vào trạng thái uể oải nặng nề và tê liệt, kèm theo cảm giác lạnh buốt nơi mí mắt, những cơn ngáp không dứt và sự nặng nề nơi đôi vai. Nhưng nếu người tín hữu chuyên tâm cầu nguyện, thì tất cả những điều ấy sẽ được Thánh Thần xua tan.

9. Hatred against the demons contributes greatly to our salvation and helps our growth in holiness. But we do not of ourselves have the power to nourish this hatred into a strong plant, because the pleasure-loving spirits restrict it and encourage the soul again to indulge in its old habitual loves. But this indulgence – or rather this gangrene that is so hard to cure – the Physician of souls heals by abandoning us. For He permits us to undergo some fearful suffering night and day, and then the soul returns again to its original hatred, and learns like David to say to the Lord: ‘I hate them with perfect hatred: I count them my enemies’ (Ps. 139: 22). For a man hates his enemies with perfect hatred when he sins neither in act nor in thought – which is a sign of complete dispassion.

9. Lòng căm ghét đối với ma quỷ là một ân huệ lớn lao góp phần vào ơn cứu độ của chúng ta, và giúp linh hồn tăng trưởng trong sự thánh thiện. Tuy nhiên, chính bản thân con người không có đủ sức để nuôi dưỡng lòng căm ghét này cho đến khi nó trở nên mạnh mẽ như một cây vững chắc, bởi vì các thần ưa khoái lạc luôn ngăn cản và bóp nghẹt tâm hồn, dụ dỗ nó trở lại với những đam mê cũ, với những thói quen yêu thích xác thịt mà nó từng nô lệ. Thế nhưng, bệnh hoại thư thiêng liêng này — sự buông thả khó chữa ấy — Đấng Y Sĩ của các linh hồn chữa lành bằng cách tạm lìa bỏ ta, để ta nếm trải đau khổ ghê gớm ngày đêm. Qua cơn thống khổ ấy, linh hồn được thanh luyện, tỉnh ngộ và trở lại với lòng ghét bỏ ban đầu đối với ma quỷ, rồi học biết cùng với vua Đa-vít mà thưa lên cùng Chúa: “Con ghét chúng bằng một mối hận toàn hảo; con coi chúng là quân thù của con.” (Tv 138[139]:22) Quả thật, con người chỉ ghét kẻ thù mình bằng một mối hận toàn hảo khi không còn phạm tội trong hành vi cũng như trong tư tưởng; và chính điều ấy là dấu chỉ của tâm hồn đã đạt tới trọn vẹn sự vô nhiễm.

10. Now what am I to say about the demon who makes the soul obtuse? For I am afraid to write about him: how, at his approach, the soul departs from its own proper state and strips itself of reverence and the fear of God, no longer regarding sin as sin, or wickedness as wickedness; it looks on judgment and the eternal punishment of hell as mere words; it laughs at the fire which causes the earth to tremble; and, while supposedly confessing God, it has no understanding of His commandments. You may beat your breast as such a soul draws near to sin, but it takes no notice. You recite from the Scripture, yet it is wholly indifferent and will not hear. You point out its shame and disgrace among men, and it ignores you, like a pig that closes its eyes and charges through a fence. This demon gets into the soul by way of long-continuing thoughts of self-esteem; and unless ‘those days are shortened, no flesh will be saved’ (Matt. 24:22).

10. Giờ đây, ta phải nói gì về tên quỷ làm cho linh hồn trở nên ngu muội và trơ lì? Quả thật, ta run sợ khi phải viết về nó: vì khi nó đến gần, linh hồn liền lìa xa trạng thái tự nhiên của mình, và tước bỏ nơi chính nó lòng kính sợ Thiên Chúa. Lúc ấy, nó không còn xem tội lỗi là tội lỗi, sự gian ác chẳng còn là điều gian ác; phán xét và hình phạt đời đời của hoả ngục đối với nó chỉ là những lời nói trống rỗng. Nó cười nhạo ngọn lửa có thể làm cho đất rung chuyển, và dù miệng vẫn tuyên xưng Thiên Chúa, tâm trí nó đã hoàn toàn mù mịt trước các giới răn của Người. Ngươi có thể đấm ngực khi thấy linh hồn ấy sắp sa vào tội, nhưng nó không hề bận tâm. Con đọc Lời Kinh Thánh cho nó nghe, nhưng nó dửng dưng, tai nó không còn biết lắng nghe. Con chỉ cho nó thấy sự ô nhục và khinh bỉ của loài người, nhưng nó chẳng quan tâm, như con heo nhắm mắt mà lao xuyên qua hàng rào. Tên quỷ này xâm nhập linh hồn bằng những tư tưởng tự mãn kéo dài và kiêu ngạo, và nếu như “những ngày ấy không được rút ngắn, thì sẽ chẳng còn xác phàm nào được cứu độ” (Mt 24:22).

This is one of those demons that seldom approach brethren living in a community. The reason is clear: when people round us fall into misfortune, or are afflicted by illness, or are suffering in prison, or meet sudden death, this demon is driven out; for the soul has only to experience even a little compunction or compassion and the callousness caused by the demon is dissolved. We solitaries lack these things, because we live in the wilderness and sickness is rare among us. It was to banish this demon especially that the Lord enjoined us in the Gospels to call on the sick and visit those in prison. For ‘I was sick,’ He says, ‘and you visited Me’ (Matt. 25:36).

Tên quỷ này hiếm khi đến gần những anh em sống đời cộng đoàn, và lý do thật hiển nhiên: khi ta chứng kiến người khác gặp hoạn nạn, hoặc chịu đau khổ vì bệnh tật, hoặc bị tù đày, hoặc chết cách bất ngờ, thì chính cảnh tượng ấy xua đuổi tên quỷ ngu muội này đi, bởi vì chỉ cần linh hồn khẽ chạm đến lòng thống hối hay lòng cảm thương, sự chai cứng mà quỷ gieo vào liền tan biến. Còn chúng ta — những ẩn sĩ — thì không có những dịp ấy, bởi chúng ta sống nơi hoang mạc, và bệnh tật rất hiếm khi xảy ra giữa chúng ta. Chính vì muốn trừ khử loại quỷ này, mà Chúa đã truyền dạy trong Phúc Âm rằng ta phải viếng thăm người đau yếu và thăm viếng kẻ tù đày, vì Người phán: “Ta đau yếu, và các ngươi đã thăm nom Ta.” (Mt 25:36)

But you should know this: if an anchorite falls in with this demon, yet does not admit unchaste thoughts or leave his cell out of listlessness, this means he has received the patience and self-restraint that come from heaven, and is blessed with dispassion. Those, on the other hand, who profess to practice godliness, yet choose to have dealings with people of the world, should be on their guard against this demon. I feel ashamed to say or write more abouthim.

Nhưng hãy biết điều này: nếu một ẩn tu bị tên quỷ này tấn công, mà không để cho mình vướng vào tư tưởng ô uế, cũng không rời khỏi phòng riêng vì sự chán chường, thì người ấy quả đã lãnh nhận sự nhẫn nại và tiết độ đến từ trời, và được chúc phúc trong tâm hồn vô nhiễm. Ngược lại, những ai tự cho là sống đạo đức, mà lại thích giao thiệp với người đời, phải hết sức đề phòng loại quỷ này, vì nó len vào trong dáng vẻ của lòng tốt và sự hoà nhã, rồi làm cho linh hồn nguội lạnh và khinh thường ơn thánh. Ta cảm thấy hổ thẹn khi phải nói thêm về nó, bởi sự ô uế và tàn nhẫn của nó thật khó diễn tả bằng lời.

11. All the demons teach the soul to love pleasure; only the demon of dejection refrains from doing this, since he corrupts the thoughts of those he enters by cutting off every pleasure of the soul and drying it up through dejection, for ‘the bones of the dejected are dried up’ (Prov. 17:22. LXX). Now if this demon attacks only to a moderate degree, he makes the anchorite more resolute; for he encourages him to seek nothing worldly and to shun all pleasures. But when the demon remains for longer, he encourages the soul to give up, or forces it to run away. Even Job was tormented by this demon, and it was because of this that he said: ‘0 that I might lay hands upon myself, or at least ask someone else to do this for me’ (Job 30:24. LXX).

11. Tất cả các loài quỷ đều dạy linh hồn yêu thích khoái lạc, chỉ trừ tên quỷ sầu khổ (u uất) — nó là kẻ duy nhất không gieo vào tâm trí con người sự vui thú nào, vì nó làm hư hoại tư tưởng của kẻ mà nó chiếm lấy, bằng cách cắt đứt mọi niềm vui trong linh hồn, và làm cho linh hồn khô héo vì buồn nản, như Lời Kinh Thánh chép:“Xương cốt của kẻ buồn phiền thì khô cứng.” (Cn 17:22 – Bản LXX) Nếu tên quỷ này chỉ tấn công ở mức độ vừa phải, nó lại trở nên một khí cụ giúp ích cho người ẩn tu, bởi nó khiến người ấy cứng rắn hơn, xa lánh mọi sự thế gian, và từ bỏ các thú vui xác thịt. Nhưng nếu nó lưu lại lâu hơn, thì nó thúc đẩy linh hồn bỏ cuộc, hoặc buộc linh hồn phải chạy trốn khỏi ơn gọi của mình. Ngay cả ông Gióp cũng đã từng bị quỷ sầu khổ hành hạ, và chính vì thế ngài đã than rằng: “Phải chi ta có thể tự đưa tay hại mình, hoặc ít ra có người khác làm điều đó cho ta.” (G 30,24 – Bản LXX)

The symbol of this demon is the viper. When used in moderation for man’s good, its poison is an antidote against that of other venomous creatures, but when taken in excess it kills whoever takes it. It was to this demon that Paul delivered the man at Corinth who had fallen into sin. That is why he quickly wrote again to the Corinthians saying: ‘Confirm your love towards him . . . lest perhaps he should be swallowed up with too great dejection’ (2 Cor. 2:7-8). He knew that this spirit, in troubling men, can also bring about true repentance. It was for this reason that St John the Baptist gave the name ‘progeny of vipers’ to those who were goaded by this spirit to seek refuge in God, saying: ‘Who has warned you to flee from the anger to come? Bring forth fruits, then, that testify to your repentance; and do not think that you can justsay within yourselves. We have Abraham as our father’ (Matt. 3:7-9). But if a man imitates Abraham and leaves his country and kindred (cf. Gen. 12:1), he thereby becomes stronger than this demon.

Biểu tượng của tên quỷ này là con rắn lục. Bởi nọc độc của nó, nếu được dùng vừa phải và đúng cách, thì trở thành thuốc giải cho những nọc độc khác; nhưng nếu uống quá liều, nó sẽ giết chết kẻ sử dụng. Chính vì thế, Thánh Phaolô đã phó nộp người tội lỗi ở Côrintô cho quỷ này, để người ấy chịu thử luyện hầu biết ăn năn. Và vì sợ người ấy chìm đắm quá lâu trong nỗi sầu khổ, thánh nhân đã vội viết thư khác, nói rằng: “Anh em hãy chứng tỏ lòng yêu thương của anh em đối với người ấy, kẻo chăng người ấy bị nuốt mất vì quá sầu khổ.” (2 Cr 2,7–8) Bởi thánh nhân hiểu rõ rằng thần khí này, dù làm cho con người đau khổ, vẫn có thể dẫn họ đến với sự hoán cải chân thật. Cũng vì lý do này, Thánh Gioan Tẩy Giả đã gọi những kẻ bị tinh thần này thúc đẩy chạy đến cùng Thiên Chúa là: “Dòng giống rắn độc, ai đã báo cho các ngươi trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến? Hãy sinh hoa trái xứng với lòng sám hối, đừng tự phụ mà nói: ‘Chúng ta đã có Ápraham là cha.’” (Mt 3:7–9) Nhưng ai noi gương tổ phụ Ápraham, bỏ lại quê hương và thân quyến mình (x. St 12,1), người ấy sẽ trở nên mạnh mẽ hơn quỷ sầu khổ, và thoát khỏi ách nô lệ của nó bằng sức mạnh của lòng tin và lòng cậy trông.

12. He who has mastery over his incensive power has mastery also over the demons. But anyone who is a slave to it is a stranger to the monastic life and to the ways of our Savior, for as David said of the Lord: ‘He will teach the gentle His ways’ (Ps. 25:9). The intellect of the solitary is hard for the demon to catch, for it shelters in the land of gentleness. There is scarcely any other virtue which the demons fear as much as gentleness. Moses possessed this virtue, for he was called ‘very gentle, above all men’ (Num. 12:3). And David showed that it makes men worthy to be remembered by God when he said: ‘Lord, remember David and all his gentleness’ (Ps. 132:1. LXX). And the Savior Himself also enjoined us to imitate Him in His gentleness, saying: ‘Learn from Me; for I am gentle and humble in heart: and you will find rest for your souls’ (Matt. 11:29). Now if a man abstains from food and drink, but becomes incensed to wrath because of evil thoughts, he is like a ship sailing the open sea with a demon for pilot. So we must keep this watchdog under careful control, training him to destroy only the wolves and not to devour the sheep, and to show the greatest gentleness towards all men.

12. Kẻ làm chủ được cơn nóng giận của mình cũng làm chủ được các thần dữ. Nhưng ai để mình làm nô lệ cho cơn giận, thì kẻ ấy xa lạ với đời sống đan tu và với đường lối của Đấng Cứu Thế, vì như Thánh Vịnh đã chép: “Chúa sẽ dạy cho người hiền lành biết đường lối của Người.”(Tv 25,9) Trí tuệ của người ẩn sĩ thật khó để ma quỷ nắm bắt, vì nó ẩn náu trong miền của sự hiền lành. Không có nhân đức nào khác khiến quỷ sợ hãi hơn là đức hiền hoà. Môsê đã sở hữu nhân đức ấy, bởi Kinh Thánh nói rằng: “Ông là người hiền lành hơn hết trong mọi người trên mặt đất.” (Ds 12,3) Đavít cũng cho thấy rằng đức hiền hoà làm cho con người được Thiên Chúa nhớ đến, khi ông cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin nhớ đến Đavít và tất cả sự hiền hoà của Người.” (Tv 132,1 – Bản LXX) Và Chính Đấng Cứu Thế cũng truyền dạy chúng ta noi gương Người trong đức hiền lành, khi phán: “Hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và các con sẽ tìm được bình an cho linh hồn mình.” (Mt 11:29) Nếu một người kiêng ăn và uống, nhưng lại nổi cơn thịnh nộ vì những tư tưởng xấu xa, thì người ấy chẳng khác nào một con thuyền lênh đênh giữa biển khơi với quỷ dữ làm hoa tiêu. Vì thế, chúng ta phải cẩn trọng giữ con chó canh này trong vòng kiểm soát, huấn luyện nó chỉ tiêu diệt những con sói mà không cắn xé chiên lành, và phải tỏ lòng hiền hoà sâu xa đối với mọi người.

13. In the whole range of evil thoughts, none is richer in resources than self-esteem; for it is to be found almost everywhere, and like some cunning traitor in a city it opens the gates to all the demons. So it greatly debases the intellect of the solitary, filling it with many words and notions, and polluting the prayers through which he is trying to heal all the wounds of his soul. All the other demons, when defeated, combine to increase the strength of this evil thought; and through the gateway of self-esteem they all gain entry into the soul, thus making a man’s last state worse than his first (cf. Matt. 12:45). Self-esteem gives rise in turn to pride, which cast down from heaven to earth the highest of the angels, the seal of God’s likeness and the crown of all beauty. So turn quickly away from pride and do not dally with it, in case you surrender your life to others and your substance to the merciless (cf. Prov. 5:9 demon is driven away by intense prayer and by not doing or saying anything that contributes to the sense of your own importance.

13. Trong toàn thể các tư tưởng xấu xa, không có tư tưởng nào gian xảo và khôn khéo hơn lòng tự cao; bởi vì nó hiện diện khắp nơi, và như kẻ phản bội lẩn khuất trong thành, nó mở rộng cánh cửa cho mọi thần dữ bước vào. Tư tưởng tự cao làm hạ thấp trí khôn của người ẩn sĩ, lấp đầy nó bằng những lời nói rỗng tuếch và ý tưởng hão huyền, và làm ô uế lời cầu nguyện, vốn là phương thế nhờ đó linh hồn tìm được sự chữa lành. Khi mọi thần dữ khác bị đánh bại, tất cả chúng lại hợp sức để gia tăng sức mạnh cho tư tưởng tự cao này; và qua cánh cửa của tự cao, mọi quỷ dữ đều lũ lượt tiến vào linh hồn, làm cho tình trạng cuối cùng của con người tệ hại hơn lúc ban đầu, như Lời Chúa đã phán: “Tình trạng sau này của người ấy còn tệ hơn trước.” (Mt 12,45) Tự cao là mẹ sinh ra kiêu ngạo, và kiêu ngạo chính là thứ đã khiến thiên thần cao cả nhất — ấn tín của vẻ đẹp Thiên Chúa — rơi từ trời xuống đất. Vì thế, hãy mau chóng quay lưng khỏi kiêu ngạo, đừng dây dưa với nó, kẻo ngươi nộp sinh mạng mình cho kẻ khác, và phó cả gia nghiệp ngươi vào tay kẻ tàn nhẫn, như Sách Châm ngôn đã cảnh báo (x. Cn 5,9). Loài quỷ này chỉ bị xua đuổi bằng lời cầu nguyện nồng cháy và khiêm tốn, và bằng việc tránh xa mọi hành động hoặc lời nói khiến ngươi cảm thấy mình quan trọng hơn người khác. Vì ở đâu có tự cao, ở đó ân sủng rút lui, và chỉ nơi kẻ khiêm nhường, Thiên Chúa mới ngự trị và ban bình an.

14. When the intellect of the solitary attains some small degree of dispassion, it mounts the horse of self-esteem and immediately rides off into cities, taking its fill of the lavish praise accorded to its repute. But by God’s providence the spirit of unchastity now confronts it and shuts it up in a sty of dissipation. This is to teach it to stay in bed until it is completely recovered and not to act like disobedient patients who, before they are fully cured of their disease, start taking walks and baths and so fall sick again. Let us sit still and keep our attention fixed within ourselves, so that we advance in holiness and resist vice more strongly. Awakened in this way to spiritual knowledge, we shall acquire contemplative insight into many things; and ascending still higher, we shall receive a clearer vision of the light of our Savior.

14. Khi trí tuệ của người ẩn tu đạt được một chút bình thản khỏi đam mê, nó liền cưỡi con ngựa của lòng tự cao và phi nhanh vào giữa các thành phố, tận hưởng sự tán dương phóng túng mà danh tiếng của nó gặt hái được. Nhưng do sự quan phòng của Thiên Chúa, thần dâm ô liền xuất hiện đối diện với nó, và ném nó vào chuồng heo của sự phóng túng — để dạy cho nó biết ở yên trên giường cho đến khi được chữa lành hoàn toàn, chứ không như những bệnh nhân cứng đầu, chưa khỏi bệnh đã vội ra ngoài dạo chơi và tắm rửa, và rồi lại ngã bệnh nặng hơn trước. Vì thế, chúng ta hãy ngồi yên, giữ tâm trí chuyên chú vào nội tâm mình, để càng ngày càng tiến xa hơn trong sự thánh thiện, và chống trả mạnh mẽ hơn các mưu chước của tội lỗi. Khi tâm hồn được thức tỉnh theo cách này đến tri thức thiêng liêng, chúng ta sẽ lãnh nhận sự chiêm nghiệm sâu sắc về nhiều điều mầu nhiệm, và khi tiến cao hơn nữa, chúng ta sẽ được thấy rõ hơn ánh sáng của Đấng Cứu Thế, ánh sáng chiếu soi những ai biết khiêm nhường và an tĩnh trong lòng.

15. I cannot write about all the villainies of the demons; and I feel ashamed to speak about them at length and in detail, for fear of harming the more simple-minded among my readers. But let me tell you about the cunning of the demon of unchastity. When a man has acquired dispassion in the appetitive part of his soul and shameful thoughts cool down within him, this demon at once suggests images of men and women playing with one another, and makes the solitary a spectator of shameful acts and gestures. But this temptation need not be permanent; for intense prayer, a very frugal diet, together with vigils and the development of spiritual contemplation, drive it away like a light cloud. There are times when this cunning demon even touches the flesh, inflaming it to uncontrolled desire; and it devises endless other tricks which need not be described.

15. Ta không thể thuật lại hết mọi mưu chước của ma quỷ, và thật lòng ta hổ thẹn khi phải nói về chúng quá chi tiết, vì sợ rằng những tâm hồn đơn sơ sẽ bị tổn thương khi đọc. Tuy nhiên, hãy nghe ta nói về sự xảo quyệt của thần dâm ô. Khi phần ham muốn trong linh hồn con người đã được thanh luyện, và những tư tưởng ô uế đã nguội dần trong lòng, thì tức khắc quỷ dâm ô liền tấn công, gợi lên trong trí tưởng tượng những hình ảnh đàn ông đàn bà đùa cợt, và biến người ẩn tu thành kẻ chứng kiến những hành vi xấu hổ ấy. Nhưng sự cám dỗ này không kéo dài mãi, vì lời cầu nguyện mãnh liệt, chế độ ăn uống khắc khổ, những đêm canh thức, và sự chiêm niệm thiêng liêng, sẽ xua tan nó như mây nhẹ trước ánh mặt trời. Đôi khi tên quỷ xảo quyệt này còn chạm đến xác thịt, đốt lên trong nó ngọn lửa dục vọng không kềm chế, và bày ra vô vàn mưu kế khác không tiện nói ra.

Our incensive power is also a good defense against this demon. When it is directed against evil thoughts of this kind, such power fills the demon with fear and destroys his designs. And this is the meaning of the statement: ‘Be angry, and do not sin’ (Ps. 4:4). Such anger is a useful medicine for the soul at times of temptation.

Nhưng sức mạnh giận dữ (năng lực bốc đồng – incensive power) trong ta — nếu được hướng về điều thiện — lại là khí giới mạnh mẽ chống lại nó. Khi cơn giận được dồn vào việc chống lại những tư tưởng dâm ô, nó làm cho quỷ run sợ và phá tan âm mưu của hắn. Đó chính là ý nghĩa của Thánh Vịnh: “Hãy nổi giận, nhưng đừng phạm tội.” (Tv 4:4) Cơn giận thánh này, trong lúc bị cám dỗ, là liều thuốc chữa lành cho linh hồn.

The demon of anger employs tactics resembling those of the demon of unchastity. For he suggests images of our parents, friends or kinsmen being gratuitously insulted; and in this way he excites our incensive power, making us say or do something vicious to those who appear in our minds. We must be on our guard against these fantasies and expel them quickly from our mind, for if we dally with them, they will prove a blazing firebrand to us during prayer. People prone to anger are especiallyliable to fall into these temptations; and if they do, then they are far from pure prayer and from the knowledge of ourSavior Jesus Christ.

Còn quỷ giận dữ cũng hành động tương tự như quỷ dâm ô: nó vẽ ra trong trí ta hình ảnh cha mẹ, bạn bè hay thân quyến bị xúc phạm hoặc sỉ nhục cách bất công, rồi kích động sức mạnh phẫn nộ trong ta, thúc đẩy ta nói hay làm điều tàn ác đối với những người ấy trong tâm tưởng. Vì thế, ta phải tỉnh thức, xua đuổi ngay những ảo tưởng này khỏi tâm trí, vì nếu ta lưu giữ chúng lâu, chúng sẽ trở thành than hồng bốc cháy trong giờ cầu nguyện. Những ai dễ nổi nóng rất dễ sa vào cám dỗ này, và nếu bị khuất phục, thì họ còn rất xa với lời cầu nguyện thanh khiết, và xa lìa tri thức cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

16. As sheep to a good shepherd, the Lord has given to man intellections of this present world; for it is written: ‘He has given intellection to the heart of every man’ (cf. Heb. 10:16). To help man He has given him incensive power and desire, so that with the first he may drive away wolflike intellections, while with the second he may lovingly tend the sheep, even though he is often exposed to rains and winds. In addition, God has given man the law, so that he may shepherd the sheep; He has given him green pastures and refreshing water (cf. Ps. 23:2), a psaltery and harp, a rod and staff. In this way he gathers hay from the mountains, and is fed and clothed from his Hock; for it is written, ‘Does anyone feed a Hock and not drink its milk?’ (1 Cor. 9:7). Therefore the solitary ought to guard this Hock night and day, making sure that none of the lambs is caught by wild beasts or falls into the hands of thieves. Should this happen in some valley, he must at once snatch the creature from the mouth ofthe lion or the bear (cf. 1 Sam. 17:35).

16. Như một đàn chiên được trao cho người mục tử hiền lành, Chúa đã ban cho con người khả năng hiểu biết về thế giới hiện tại; vì Thánh Kinh chép rằng: “Người đã ban cho lòng mỗi người sự hiểu biết.” (x. Dt 10,16) Để giúp con người chăm sóc đàn chiên ấy, Thiên Chúa ban cho họ sức mạnh phẫn nộ (incensive power) và lòng ước muốn: — bằng sức mạnh phẫn nộ, con người xua đuổi những tư tưởng sói dữ; — bằng lòng ước muốn, họ chăm sóc đàn chiên bằng tình yêu, cho dù phải chịu gió mưa và khổ nhọc. Ngoài ra, Thiên Chúa còn ban cho con người Lề Luật, để họ biết cách chăn dắt đàn chiên cách khôn ngoan. Người ban cho họ đồng cỏ xanh tươi và suối nước mát lành (x. Tv 23,2), ban cho họ cây đàn và cây trống, gậy và roi, để dẫn dắt và bảo vệ đoàn chiên của mình. Nhờ đó, người mục tử thiêng liêng gom góp cỏ khô từ núi cao, và được nuôi dưỡng cũng như mặc lấy từ chính đàn chiên của mình, vì Thánh Kinh đã nói: “Ai chăn chiên mà không uống sữa của nó?” (1 Cr 9,7) Do đó, người ẩn tu cũng phải canh giữ đàn chiên này ngày đêm, đề phòng không để chiên con nào bị thú dữ bắt đi, hay rơi vào tay kẻ trộm cướp. Và nếu có con nào bị bắt trong thung lũng, người ấy phải lập tức giật nó ra khỏi miệng sư tử hoặc gấu, như Đavít đã từng làm (x. 1 Sm 17,35). Vì linh hồn mỗi người là đàn chiên của Chúa, và trí tuệ của người ẩn sĩ chính là mục tử được Thiên Chúa ủy thác để chăm sóc nó.

What does it mean for the lambs to be caught by wild beasts? It means that when we think about our brother we feed on hatred; when we think about a woman we are moved with shameful lust; when we think about gold and silver we are filled with greed; and likewise when we think about gifts received from God, our mind is gorged with self-esteem. The same happens in the case of other intellections if they are seized by the passions.

Điều ấy — “chiên con bị thú dữ bắt đi” — có nghĩa là gì? Ấy là khi ta nghĩ đến người anh em mình, mà trong lòng lại nuôi dưỡng thù ghét; khi ta nghĩ đến người nữ mà tâm hồn bị khuấy động bởi dục vọng ô uế; khi ta nghĩ đến vàng bạc, thì lòng lại đầy ắp sự tham lam; và ngay cả khi ta nhớ đến những ân huệ Thiên Chúa ban, trí ta lại tự mãn và say mê chính mình trong tự tôn kiêu hãnh. Tương tự, điều ấy cũng xảy ra mọi tư tưởng khác — nếu bị đam mê chiếm đoạt.

We must not only guard this flock by day, but also keep watch at night; for by having fantasies of shameful and evil things we may lose some of the sheep entrusted to us. And this is the meaning of Jacob’s words: ‘I did not bring you a sheep which was caught by wild beasts; I made good of myself the thefts of the day and the thefts of the night. I was parched with heat by day, and chilled with frost by night, and sleep departed from myeyes’ (Gen. 31:39-40. LXX).

Chúng ta không chỉ phải canh giữ đàn chiên vào ban ngày, mà còn phải tỉnh thức suốt đêm; bởi vì chính trong những đêm tối của tâm hồn, những ảo tưởng xấu xa và nhục dục có thể cướp đi những con chiên mà Thiên Chúa đã trao phó cho ta. Đó chính là ý nghĩa của lời tổ phụ Giacóp: “Ta đã không mang đến cho ngươi con chiên nào bị thú dữ bắt đi; ta đã tự chịu bồi thường cho những con bị mất vào ban ngày và ban đêm. Ban ngày ta chịu nắng thiêu đốt, ban đêm ta rét buốt vì sương giá, và giấc ngủ đã rời xa đôi mắt ta.” (St 31:39–40, LXX)

If a certain listlessness overtakes us as a result of our efforts, we should climb a little up the rock of spiritual knowledge and play on the harp, plucking the strings with the skills of such knowledge. Let us pasture our sheep below Mount Sinai, so that the God of our fathers may speak to us, too, out of the bush (cf. Exod. 3) and show us the inner essence of signs and wonders.

Và nếu sự uể oải chán nản vì lao nhọc bắt đầu xâm chiếm chúng ta, thì hãy trèo lên tảng đá của tri thức thiêng liêng, và gảy cây đàn hạc của tâm hồn, rung lên những dây đàn bằng khôn ngoan thiêng liêng mà Thiên Chúa ban. Hãy dẫn đoàn chiên của mình đến đồng cỏ dưới chân núi Sinai, để Thiên Chúa của tổ phụ chúng ta cũng phán với chúng ta từ giữa bụi gai rực cháy (x. Xh 3), và mạc khải cho ta thấy ý nghĩa sâu xa trong các dấu chỉ và kỳ công của Người. Vì ai chăn dắt đàn chiên của linh hồn mình trong ánh sáng của tri thức thần linh, thì chính người ấy cũng sẽ được nghe tiếng Thiên Chúa nói từ trong lửa, và được dẫn vào mầu nhiệm của những sự lạ lùng trong ân sủng Ngài.

17. Our spiritual nature, which had become dead through wickedness, is raised once more by Christ through the contemplation of all the ages of creation. And through the spiritual knowledge that He gives of Himself, the Father raises the soul which has died the death of Christ. And this is the meaning of Paul’s statement: ‘If we have died with Christ, we believe that we shall also live with Him’ (cf. 2 Tim. 2:11).

17. Bản tính thiêng liêng của con người, vốn đã chết trong tội lỗi và sự dữ, được Đức Kitô làm cho sống lại qua việc chiêm ngắm mầu nhiệm của mọi thời đại trong công trình sáng tạo. Và chính nhờ tri thức thiêng liêng — tri thức Người mạc khải về chính mình — Chúa Cha đã cho linh hồn được sống lại, sau khi nó đã cùng chết với Đức Kitô trong mầu nhiệm thập giá. Đó chính là ý nghĩa lời Thánh Phaolô đã nói: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, thì chúng ta cũng tin rằng sẽ cùng sống với Người.” (x. 2 Tm 2:11) (Vì thế, linh hồn được phục sinh trong Đức Kitô, không chỉ thoát khỏi cái chết của tội lỗi, mà còn được nâng lên để chiêm ngưỡng vinh quang của Đấng Tạo Hoá, Đấng ban cho muôn loài sự sống trong Thần Khí của Người.)

18. When the intellect has shed its fallen state and acquired the state of grace, then during prayer it will see its own nature like a sapphire or the color of heaven. In Scripture this is called the realm of God that was seen by the elders on Mount Sinai (cf. Exod. 24:10)

18. Khi trí tuệ của con người đã cởi bỏ tình trạng sa ngã và mặc lấy ân sủng của Thiên Chúa, thì trong giờ cầu nguyện, nó sẽ thấy chính bản tính của mình trong sự trong sáng như ngọc lam (bích ngọc), tựa sắc trời trong vắt. Chính trạng thái sáng láng thiêng liêng ấy được Thánh Kinh gọi là “vương quốc của Thiên Chúa” — điều mà các kỳ lão Israel đã chiêm ngắm trên núi Sinai, khi họ thấy dưới chân Đức Chúa “một khoảng như thể là bệ bằng đá quý xanh biếc, trong sáng như chính bầu trời” (x. Xh 24,10).

19. Of the unclean demons, some tempt man in so far as he is man, while others disturb him in so far as he is a nonrational animal. The first, when they approach us, suggest to us notions of self-esteem, pride, envy or censoriousness, notions by which non-rational animals are not affected; whereas the second, when they approach, arouse incensive power and desire in a manner contrary to nature. For these passions are common to us and to animals, and lie concealed beneath our rational and spiritual nature. Hence the Holy Spirit says of the thoughts that come to men in so far as they are men: ‘I have said, you are gods, and all of you are children of the most High. But you shall die as men, and fall as one of the princes’ (Ps. 82:6-7). But what does He say of the thoughts which stir in men non-rationally? ‘Do not be as the horse and mule, which have no understanding: whose mouth must be controlled with bit and bridle in case they attack you’ (Ps. 32:9). Now if ‘the soul that sins shall die’ (Ezek. 18:4), it is clear that in so far as we die as men we are buried by men, but in so far as we are slain or fall as non-rational animals, we are devoured by vultures and ravens whose young ‘cry’ to the Lord (Ps.147:9) and ‘roll themselves in blood’ (Job 39:30. LXX). ‘He that has ears to hear, let him hear’ (Matt. 11:15).

19. Trong số các thần ô uế, có loại cám dỗ con người như một hữu thể có lý trí, và có loại khuấy động con người theo phần thú tính phi lý. Những thần loại thứ nhất, khi đến gần, gieo vào trí chúng ta những ý tưởng về tự tôn, kiêu hãnh, ghen tị hay xét đoán người khác — những điều mà loài vật vô tri không thể cảm nhận. Còn những thần loại thứ hai, khi tấn công, chúng kích động nơi ta sức nóng của giận dữ và khát vọng, một cách trái với bản tính, bởi những khuynh hướng ấy vừa thuộc về phần người, vừa ẩn sâu trong phần thú tính nơi mỗi người. Vì thế, Chúa Thánh Thần đã phán về những tư tưởng của con người trong tư cách là hữu thể có lý trí: “Ta đã nói: Các ngươi là những vị thần, hết thảy là con của Đấng Tối Cao. Nhưng các ngươi sẽ chết như loài người, sẽ ngã xuống như một trong các thủ lãnh.” (Tv 82,6–7) Còn về những tư tưởng phi lý và bản năng, Ngài lại cảnh báo: “Đừng nên như con ngựa hay con la vô tri, phải dùng hàm thiếc và dây cương mà kiềm chế, kẻo chúng lao vào tấn công ngươi.” (Tv 32,9) Vì “linh hồn nào phạm tội thì sẽ phải chết” (Ed 18,4), nên thật rõ ràng rằng: – khi ta chết như người, ta được chôn bởi người; – nhưng khi ta ngã như loài thú phi lý, ta sẽ bị chim kên kên và quạ đen nuốt xác, những loài mà con non của chúng kêu lên cùng Chúa (Tv 147,9) và lăn mình trong máu người chết (G 39,30, Bản LXX). “Ai có tai để nghe, thì hãy nghe.” (Mt 11,15)

20. When one of the enemy approaches you and wounds you, and you wish to turn his sword back into his own heart (cf. Ps. 37:37:15), then do as follows: analyze in yourself the sinful thought that has wounded you, what it is, what it consists of, and what in it especially afflicts the intellect. Suppose, for instance, that a thought full of avarice is suggested to you. Distinguish between the component elements: the intellect which has accepted the thought, the intellection of gold, gold itself, and the passion of avarice. Then ask: in which of these does the sin consist? Is it the intellect? But how then can the intellect be the image of God? Is it the intellection of gold? But what sensible person would ever say that? Then is gold itself the sin? In that case, why was it created? It follows, then, that the cause of the sin is the fourth element, which is neither an objective reality, nor the intellection of something real, but is a certain noxious pleasure which, once it is freely chosen, compels the intellect to misuse what God has created. It is this pleasure that the law of God commands us to cut off. Now as you investigate the thought in this way and analyze it into its components, it will be destroyed; and the demon will take to flight once your mind is raised to a higher level by this spiritual knowledge.

20. Khi một kẻ thù vô hình đến gần và làm tổn thương bạn, và bạn muốn quay lưỡi gươm của hắn lại đâm vào chính tim hắn (x. Tv 37[36],15), hãy làm như sau: Hãy xét mình cách kỹ lưỡng, tìm hiểu tư tưởng tội lỗi vừa làm bạn bị thương là gì, nó gồm những yếu tố nào, và phần nào trong đó đã đâm vào trí khôn bạn sâu nhất. Giả sử, một ý tưởng tham lam khởi dậy trong bạn. Hãy phân tách nó thành những yếu tố riêng biệt: – Trí khôn đã tiếp nhận ý tưởng ấy, – Hình ảnh hay ý niệm về vàng, – Chính bản thân vàng, – Và dục vọng tham lam nảy sinh từ đó. Giờ hãy hỏi: Tội nằm ở đâu? Phải chăng trí khôn là tội lỗi? – Không thể, vì trí khôn là hình ảnh của Thiên Chúa. Hay tội nằm trong ý niệm về vàng? – Điều đó thật vô lý, vì ý niệm tự nó không mang tội. Vậy tội nằm trong vàng sao? – Nhưng nếu thế, tại sao Thiên Chúa lại dựng nên nó? Vậy thì nguồn gốc của tội không nằm trong ba yếu tố ấy, mà trong yếu tố thứ tư: một khoái cảm độc hại, không phải là vật thể, cũng không phải là tư tưởng về vật thể, nhưng là một sự khoái lạc méo mó của ý chí, khi con người tự do chọn lựa nó, và từ đó khiến trí khôn lạm dụng những điều Thiên Chúa đã tạo dựng. Chính niềm khoái lạc sai trái này là điều Luật Chúa truyền phải cắt bỏ. Khi bạn phân tích và tách bạch tư tưởng theo cách ấy, nó sẽ tự tiêu tan; và tên quỷ gây nên nó sẽ bỏ chạy, vì trí khôn của bạn đã được nâng lên một tầm cao hơn, trong ánh sáng của tri thức thiêng liêng.

But before using his own sword against him, you may choose first to use your sling against him. Then take a stone from your shepherd’s bag and sling it (cf. 1 Sam. 17) by asking these questions: how is it that angels and demons affect our world whereas we do not affect their worlds, for we cannot bring the angels closer to God, and we cannot make the demons more impure? And how was Lucifer, the morning star, cast down to the earth (cf. Isa. 14:12), ‘making the deep boil like a brazen cauldron’ (Job 41:31. LXX), disturbing all by his wickedness and seeking to rule over all? Insight into these things grievously wounds the demon and puts all his troops to flight. But this is possible only for those who have been in some measure purified and gained a certain vision of the inner essences of created things; whereas the impure have no insight into these essences, and even if they have been taught by others how to outwit the enemy they will fail because of the great clouds of dust and the turmoil aroused by their passions at the time of battle. For the enemy’s troops must be made quiet, so that Goliath alone can face our David. In combat with all unclean thoughts, then, let us use these two methods: analysis of the thought attacking us, and the asking of questions about inner essences.

Nhưng trước khi dùng chính gươm của hắn để đâm lại hắn, bạn có thể chọn lấy chiếc ná của mình mà bắn trước. Hãy rút một viên đá từ túi của người mục tử và vung nó bằng dây ná, như Đa-vít đã làm (x. 1 Sm 17), bằng cách tự đặt cho mình những câu hỏi này: Làm sao mà các thiên thần và ma quỷ có thể tác động vào thế giới của con người, còn chúng ta thì không thể ảnh hưởng đến thế giới của họ? Vì chúng ta không thể làm cho các thiên thần đến gần Thiên Chúa hơn, cũng như không thể khiến cho ma quỷ trở nên ô uế hơn. Và vì sao Lucifer, sao mai rạng ngời, đã bị ném xuống đất (x. Is 14,12), “làm sôi sục vực thẳm như vạc đồng đỏ lửa” (x. G 41,31, Bản LXX), khuấy động toàn thể vũ trụ bằng sự dữ của hắn, và tự tôn muốn thống trị muôn loài? Sự hiểu biết nội tâm về những điều này đánh thương nặng tên quỷ và khiến toàn quân của hắn tháo chạy tán loạn. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể nơi những ai đã được thanh luyện, đã đạt đến phần nào thị kiến về bản thể bên trong của muôn vật. Còn những ai vẫn còn uế trược, thì không thể có được sự thông tuệ ấy; và dù có được người khác chỉ dạy cách đối phó, họ vẫn thất bại, bởi vì trong giờ chiến đấu, bụi mù và hỗn loạn của đam mê làm mù loà con mắt tâm linh. Quả thật, đạo binh của kẻ thù cần phải được làm cho lặng yên, để chỉ còn Gô-li-át một mình đối mặt với Đa-vít của chúng ta. Vì thế, trong mọi cuộc chiến chống lại những tư tưởng ô uế, chúng ta phải dùng hai khí giới thiêng liêng này: Giải phẫu nội tâm — tức là phân tích tận gốc tư tưởng đang tấn công ta; Chiêm niệm và tra vấn về bản thể thiêng liêng của tạo vật — để ánh sáng khôn ngoan của Thiên Chúa soi chiếu và đánh tan bóng tối của quỷ dữ.

21. Whenever unclean thoughts have been driven off quickly, we should try to find out why this has happened. Did the enemy fail to overpower us because there was no possibility of the thought especially afflicts the intellect. Suppose, for instance, that a thought full of avarice is suggested to you. Distinguish between the component elements: the intellect which has accepted the thought, the intellection of gold, gold itself, and the passion of avarice. Then ask: in which of these does the sin consist? Is it the intellect? But how then can the intellect be the image of God? Is it the intellection of gold? But what sensible person would ever say that? Then is gold itself the sin? In that case, why was it created? It follows, then, that the cause of the sin is the fourth element, which is neither an objective reality, nor the intellection of something real, but is a certain noxious pleasure which, once it is freely chosen, compels the intellect to misuse what God has created. It is this pleasure that the law of God commands us to cut off. Now as you investigate the thought in this way and analyze it into its components, it will be destroyed; and the demon will take to flight once your mind is raised to a higher level by this spiritual knowledge.

21. Mỗi khi những tư tưởng ô uế bị xua tan cách mau lẹ, chúng ta phải tự xét lại và tìm hiểu nguyên nhân vì sao điều ấy đã xảy ra. Phải chăng kẻ thù không thể thắng chúng ta vì không có cơ hội để hắn xâm nhập? Hay là do ân sủng của Thiên Chúa đã bảo vệ trí khôn ta, khiến tên quỷ bị trục xuất ngay lập tức? Nếu những ý nghĩ tội lỗi bị đánh tan sớm, hãy chú ý mà phân định, để nhận ra điều gì trong tâm ta đã ngăn không cho chúng bén rễ. Có thể là do sự tỉnh thức và chuyên cần cầu nguyện đã giữ cho trí khôn sáng tỏ. Hoặc có thể là do lòng khiêm nhu và hiền lành đã đóng cửa nội tâm, khiến tên quỷ không thể len vào. Cũng có thể là do chúng ta vừa mới chịu đau khổ, nên tâm hồn trở nên mềm mại và thống hối, vì thế ơn Chúa đến gần và xua trừ cám dỗ. Vì mọi chiến thắng nội tâm đều có nguyên nhân thiêng liêng; và biết nguyên nhân ấy là một phần của sự khôn ngoan thiêng liêng. Vậy nên, khi bạn thấy tư tưởng ác bị đẩy lui, đừng chỉ vui mừng, nhưng hãy ngồi lại trong thinh lặng, suy gẫm cách khiêm nhường, và tìm hiểu điều gì trong bạn đã khiến ma quỷ không thể đặt chân vào. Bởi vì người hiểu rõ chiến lược của ân sủng, thì cũng sẽ không sợ mưu chước của quỷ dữ; và người nhận ra nguyên nhân của chiến thắng, sẽ biết cách bảo vệ mình trong những trận chiến sắp tới, với tâm hồn vững vàng nhờ ánh sáng của tri thức thiêng liêng.

22. Whenever unclean thoughts have been driven off quickly, we should try to find out why this has happened. Did the enemy fail to overpower us because there was no possibility of the thought idea of bread persists in a hungry man because of his hunger, and the idea of water in a thirsty man because of his thirst, so ideas of material things and of the shameful thoughts that follow a surfeit of food and drink persist in us because of the passions. The same is true about thoughts of self-esteem and other ideas. It is not possible for an intellect choked by such ideas to appear before God and receive the crown of righteousness. It is through being dragged down by such thoughts that the wretched intellect, like the man in the Gospels, declines the invitation to the supper of the knowledge of God (cf. Luke 14:18); and the man who was bound hand and foot and cast into outer darkness (cf. Matt. 22:13) was clothed in a garment woven of these thoughts, and so was judged by the Lord, who had invited him, not to be worthy of the wedding feast. For the true wedding garment is the dispassion of the deiform soul which has renounced worldly desires. In the texts On Prayer it is explained why dwelling on ideas of sensory objects destroys true knowledge of God.

22. Mỗi khi những tư tưởng ô uế bị xua tan cách mau chóng, chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân của việc ấy. Phải chăng kẻ thù không thể thắng được ta, bởi không còn chỗ cho hắn bám vào trong tâm hồn? Hay là ân sủng của Thiên Chúa đã che chở trí khôn, khiến mọi mưu kế của hắn tan biến như khói trước gió? Quả thật, như ý tưởng về bánh vẫn đọng lại trong người đói vì cơn đói, và ý tưởng về nước còn vang vọng trong kẻ khát vì cơn khát, thì những hình ảnh vật chất, cùng với tư tưởng ô uế nảy sinh sau khi no nê trong ăn uống, cũng bám lấy tâm hồn ta do các đam mê còn tồn tại. Điều tương tự cũng xảy ra với tư tưởng tự cao và mọi hình ảnh khác thuộc về lòng thế tục. Một trí khôn bị nghẹt thở bởi những tư tưởng ấy không thể đứng trước nhan Thiên Chúa, và cũng không thể lãnh được triều thiên công chính. Chính vì bị lôi kéo xuống bởi những tư tưởng ấy, mà trí khôn khốn khổ của con người trở nên giống như kẻ trong Tin Mừng, đã từ chối lời mời dự tiệc của sự hiểu biết Thiên Chúa (x. Lc 14,18). Và người bị trói cả tay chân rồi quăng vào nơi tăm tối bên ngoài (x. Mt 22,13) là hình ảnh của linh hồn bị bao phủ bởi tấm áo dệt nên từ những tư tưởng ô uế ấy. Vì thế, Chúa – Đấng mời gọi con người đến dự tiệc Nước Trời – đã phán xét người ấy không xứng đáng với bàn tiệc hôn lễ. Y phục hôn lễ đích thực chính là tâm hồn mang hình ảnh Thiên Chúa, đã đạt đến vô tư lự và từ bỏ mọi dục vọng trần gian. Trong các bản văn Về Cầu Nguyện, thánh nhân đã giải thích rõ rằng: Việc chúng ta lưu luyến nơi những hình ảnh cảm quan, chính là điều phá hủy sự hiểu biết chân thật về Thiên Chúa, vì trí khôn bị trói buộc vào những hình bóng hư ảo, thì không thể chiêm ngắm ánh sáng vô hình của Ngài.

23. As we stated at the beginning, there are three chief groups of demons opposing us in the practice of the ascetic life, and after them follows the whole army of the enemy. These three groups fight in the front line, and with impure thoughts seduce our souls into wrongdoing. They are the demons set over the appetites of gluttony, those who suggest to us avaricious thoughts, and those who incite US to seek esteem in the eyes of men. If you long for pure prayer, keep guard over your incensive power; and if you desire self-restraint, control your belly, and do not take your fill even of bread and water. Be vigilant in prayer and avoid all rancor. Let the teachings of the Holy Spirit be always with you; and use the virtues as your hands to knock at the doors of Scripture. Then dispassion of heart will arise within you, and during prayer you will see your intellect shine like a star.

23. Như chúng ta đã nói ở phần đầu, có ba đạo quân quỷ dữ chính chống lại chúng ta trong việc thực hành đời sống khổ hạnh, và sau chúng là toàn thể binh đoàn của hoả ngục theo sau. Ba đạo quân ấy đánh ở tiền tuyến, và bằng những tư tưởng ô uế, chúng dụ dỗ linh hồn ta phạm tội. Chúng là: Những quỷ cai quản lòng tham ăn, Những quỷ gieo vào tâm ta tư tưởng tham lam của cải, Và những quỷ khích động ta tìm kiếm danh tiếng nơi loài người. Chính ba thứ này là ngọn giáo đầu tiên xuyên thủng tâm hồn, mở đường cho muôn đạo quỷ khác kéo đến cướp phá linh hồn. Nếu bạn khao khát đạt tới cầu nguyện thanh khiết, hãy giữ chặt dây cương của sức giận dữ (incensive power). Nếu bạn mong được tiết độ, hãy chế ngự dạ dày của mình, đừng ăn no dù chỉ là bánh hay nước. Hãy canh thức trong cầu nguyện, và xa lánh mọi oán hận, để Thánh Thần của Thiên Chúa luôn ở cùng bạn. Hãy dùng các nhân đức như đôi tay, mà gõ vào cánh cửa của Kinh Thánh; vì nhờ nhân đức, ánh sáng mạc khải sẽ được mở ra cho linh hồn bạn. Rồi sự vô tư lự trong tâm hồn sẽ bừng nở như hoa trong sa mạc, và trong lúc cầu nguyện, bạn sẽ thấy trí khôn mình sáng ngời như một vì sao, chiếu rọi trong đêm sâu của thế giới, như ánh sáng của Thiên Chúa soi chiếu linh hồn được thanh luyện.