Thánh Evagrios Ẩn tu (Anh – Việt)

Trích từ tác phẩm Philokalia, Vol. 1, page 29-72

Introductory Note
Ghi chú Dẫn nhập

Evagrios the Solitary, also known as Evagrios Pontikos, was born in 345 or 346, probably at Ibora in Pontus, although according to another opinion he was a native of Iberia (Georgia). A disciple of the Cappadocian Fathers, he was ordained reader by St Basil the Great and deacon by St Gregory the Theologian (Gregory of Nazianzos), and he accompanied the latter to the Council of Constantinople in 381 (the second Ecumenical Council). Evagrios was never ordained priest. After a brief stay in Jerusalem, he went in 383 to Egypt, where he spent the remaining sixteen years of his life. After two years at Nitria, where he became a monk, he moved to the more remote desert of Kellia, dying there in 399. While in Egypt he had as his spiritual father the priest of Kellia, St Makarios of Alexandria, and it is probable that he also knew St Makarios the Egyptian, the priest and spiritual father of Sketis. In the person of these two saints, he came into contact with the first generation of the Desert Fathers and with their spirituality in its purest form.

Thánh Evagrios Ẩn tu, còn được gọi là Evagrios Pontikos, sinh vào khoảng năm 345 hoặc 346, có thể tại Ibora ở vùng Pontus, mặc dù một số nguồn khác cho rằng ông là người Iberia (Gruzia/Georgia). Ông là môn đệ của các Thánh Cappadocia — nhóm bao gồm những nhà thần học vĩ đại như Thánh Basil Cả và Thánh Grêgôriô Nhà Thần Học (Grêgôriô Nazianzos). Evagrios được Thánh Basil Cả phong làm người đọc sách (reader) và Thánh Grêgôriô phong làm phó tế (deacon). Ông đã tháp tùng Thánh Grêgôriô đến Công đồng Constantinopolis năm 381, tức Công đồng Đại kết lần thứ hai của Giáo Hội. Evagrios chưa bao giờ được phong linh mục. Sau một thời gian ngắn ở Giêrusalem, năm 383 ông đến Ai Cập, nơi ông sống ẩn dật 16 năm cuối đời. Ông ở Nitria trong hai năm, nơi ông xuất gia làm tu sĩ, rồi chuyển đến sa mạc Kellia hẻo lánh hơn và qua đời ở đó năm 399. Trong thời gian ở Ai Cập, Evagrios có cha linh hướng là Thánh Makarios thành Alexandria, và rất có thể ông cũng quen biết với Thánh Makarios người Ai Cập, vị linh mục và cha thiêng liêng của vùng Sketis.Qua hai vị thánh này, ông tiếp xúc trực tiếp với thế hệ đầu tiên của các ẩn sĩ sa mạc (Desert Fathers) và hấp thụ tinh thần tu đức nguyên tuyền nhất của họ.

In the numerous writings of Evagrios there may be discerned two tendencies, the one ‘speculative’ and the other ‘practical’. On the ‘speculative’ side he relies heavily upon Origen (c. 185-c. 254), borrowing from him in particular certain theories about the pre-existence of human souls and the apokatastasis or final restoration of all things in Christ. These theories were condemned at the fifth Ecumenical Council (553). On the ‘practical’ side he draws upon the living experience of the Desert Fathers of Egypt, mainly Copts, among whom he spent the last years of his life. He possessed to an exceptional degree the gifts of psychological insight and vivid description, together with the ability to analyze and define with remarkable precision the various stages on the spiritual way. Here his teachings, so far from being condemned, have exercised a decisive influence upon subsequent writers. His disciple St John Cassian, while abandoning the suspect theories that Evagrios derived from Origen, transmitted the ‘practical’ aspect of Evagrios’ teachings to the Latin West. In the Greek East the technical vocabulary devised by Evagriosremained thereafter standard: it can be found, for example, in the writings of St Diadochos of Photiki, St John Klimakos and St Maximos the Confessor, as also within the Syriac tradition, in the Mystic Treatises of St Isaac of Nineveh. The works included by St Nikodimos in the Philokalia all belong to the’practical’ side of Evagrios, and contain little if any trace of suspect speculations.

Trong kho tàng trước tác phong phú của thánh Evagrios, có thể nhận ra hai khuynh hướng rõ rệt: một bên là khuynh hướng “chiêm niệm lý thuyết”, và bên kia là khuynh hướng “thực hành thiêng liêng”. Về phương diện lý thuyết, ngài chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Origen (khoảng năm 185–254), đặc biệt là những quan điểm về tiền hiện hữu của linh hồn con người và giáo lý apokatastasis – tức sự phục hồi sau cùng của muôn vật trong Đức Kitô. Những quan điểm này đã bị lên án tại Công đồng Đại kết thứ năm vào năm 553. Về phương diện thực hành, Evagrios lại dựa vào kinh nghiệm sống động của các Thánh Phụ Sa mạc Ai Cập, phần lớn là người Copt, giữa lòng cộng đoàn mà ngài đã sống những năm cuối đời. Ngài được ban cách đặc biệt ơn thấu hiểu tâm lý, khả năng mô tả sống động, cùng với tài phân tích và định nghĩa chính xác các giai đoạn trên hành trình thiêng liêng. Chính trong lãnh vực này, giáo huấn của ngài không những không bị lên án, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến các thế hệ tác giả linh đạo sau này. Môn đệ của ngài là Thánh Gioan Cassian, tuy đã từ bỏ những giáo thuyết đáng nghi mà Evagrios tiếp nhận từ Origen, nhưng lại truyền đạt phần thực hành trong giáo huấn của Evagrios sang phương Tây Latinh. Còn tại Đông phương Hy Lạp, ngôn ngữ chuyên biệt do Evagrios khai triển đã trở thành chuẩn mực, có thể thấy rõ trong các tác phẩm của Thánh Diadochos thành Photiki, Thánh Gioan Klimakos và Thánh Maximos Người Xưng Tín, cũng như trong truyền thống Syria qua các bản văn huyền nhiệm của Thánh Isaac thành Ninivê. Các tác phẩm được Thánh Nikodimos tuyển chọn đưa vào bộ Philokalia đều thuộc về khuynh hướng thực hành của Evagrios, và hầu như khô ng mang dấu vết nào của những suy tư lý thuyết bị nghi ngờ.

Several of Evagrios’ works have come down under the name of other authors. This is the case with the writing On Prayer, which in the Greek Philokalia is ascribed to Neilos; but recent research has made it plain beyond any reasonable doubt that this is a writing of Evagrios.11 See the studies by I. Hausherr, ‘Le Traite de 1’Oraison d’Evagre Ie Pontique’, in Revue d’Ascetique et lie Mystique, XV (1934), pp. 34-93, 113-70; and Les lefons d’un contempjatif. Le Traite de 1’Oraison d’Evagre Is f antique (Paris, 1960). The Eva-grian authorship of the work On Prayer is accepted by a previous English translator, John Eudes Bamberger, in his introduction to Evagrius Ponticus; The Praktikos; Chapters on Prayer(Cistercian Studies Series, No. 4, Spencer, Mass., 1970 [i.e. 1972])

Một số trước tác của thánh Evagrios đã được truyền lại dưới danh nghĩa của các tác giả khác. Trường hợp này xảy ra với tác phẩm On Prayer (Về Cầu Nguyện), vốn được ghi nhận trong bộ Philokalia tiếng Hy Lạp là của thánh Neilos; tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã chứng minh cách rõ ràng, vượt quá mọi nghi ngờ hợp lý, rằng đây chính là tác phẩm của thánh Evagrios.21 Xem các công trình nghiên cứu của I. Hausherr: Le Traité de l’Oraison d’Évagre le Pontique, đăng trong Revue d’Ascétique et de Mystique, tập XV (1934), trang 34–93, 113–170; và Les leçons d’un contemplatif. Le Traité de l’Oraison d’Évagre le Pontique (Paris, 1960). Tác quyền của Evagrios đối với tác phẩm On Prayer cũng được công nhận bởi dịch giả tiếng Anh trước đó là John Eudes Bamberger, trong phần giới thiệu tác phẩm Evagrius Ponticus: The Praktikos; Chapters on Prayer (Cistercian Studies Series, số 4, Spencer, Mass., 1970 [tức 1972]).

Contents – Nội dung

Outline Teaching on Asceticism and Stillness in the Solitary Life –Philokalia,Vol 1: Page 31
Giáo huấn về đời sống khổ hạnh và an tĩnh của người ẩn tu

Texts on Discrimination in respect of Passions and Thoughts – Philokalia,Vol 1: Page 38
Các Bản Văn về Phân Định Các Tư Tưởng và Đam Mê

Extracts from the Texts on Watchfulness – Philokalia,Vol 1: Page 53
Trích các bản văn về Tỉnh Thức

On Prayer – 153 Texts – Philokalia,Vol 1: Page 55
Về Cầu Nguyện: Một Trăm Năm Mươi Ba Bản Văn