Thánh Evagrios xứ Pontus (Anh – Việt)

Evagrios the Solitary
On Prayer: One Hundred and Fifty-
Three Texts

Thánh Evagrios Ẩn tu
Về Cầu Nguyện: Một Trăm Năm Mươi Ba Bản Văn

(Philokalia, Vol.1, page 57-72)

Prologue
Lời mở đầu

When suffering from the fever of unclean passions, my intellect afflicted with shameful thoughts, I have often been restored to health by your letters, as I used to be by the counsel of our great guide and teacher. This is not to be wondered at, since like the blessed Jacob you have earned a rich inheritance. Through your efforts to win Rachel you have been given Leah (cf. Gen. 29: 25), and now you seek to be given Rachel also, since you have labored a further seven years for her sake.

Khi tôi chịu đựng cơn sốt của những đam mê ô uế, và trí năng của tôi bị dày vò bởi những tư tưởng hổ thẹn, tôi đã nhiều lần được chữa lành bởi những bức thư của bạn, cũng như trước kia tôi đã từng được chữa lành nhờ lời khuyên của vị đại sư phụ và người hướng dẫn của chúng ta. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên, vì giống như tổ phụ Giacóp được chúc phúc, bạn cũng đã nhận lãnh một cơ nghiệp phong phú: bởi vì đã lao công để chiếm được Rachel, bạn đã được ban cho Leah (x. St 29,25); và giờ đây, bạn lại còn khao khát được ban cho cả Rachel, vì bạn đã phục vụ thêm bảy năm nữa vì nàng.

For myself, I cannot deny that although I have worked hard all night I have caught nothing. Yet at your suggestion I have again let down the nets, and I have made a large catch. They are not big fish, but there are a hundred and fifty-three of them (cf. John 21:11). These, as you requested, I am sending you in a creel of love, in the form of a hundred and fifty-three texts.

Phần tôi, tôi không thể chối rằng, mặc dù đã làm việc suốt đêm, tôi chẳng bắt được gì cả. Thế nhưng, theo lời khuyên của bạn, tôi lại thả lưới một lần nữa, và đã thu được một mẻ cá lớn. Đó không phải là những con cá to, nhưng có một trăm năm mươi ba con (x. Ga 21,11). Những con cá ấy, như bạn đã xin, tôi gửi đến bạn trong chiếc giỏ của tình yêu, dưới hình thức một trăm năm mươi ba bản văn.

I am delighted to find you so eager for texts on prayer – eager not simply for those written on paper with ink but also for those which are fixed in the intellect through love and generosity. But since ‘all things go in pairs, one complementing the other’, as the wise Jesus puts it (Eccles. 42:24), please accept the letter and understand its spirit, since every written word presupposes the intellect: for where there is no intellect there is no written word. The way of prayer is also twofold: it comprises practice of the virtues and contemplation. The same applies to numbers: literally they are quantities, but they can also signify qualities

Tôi rất vui mừng khi thấy bạn khao khát những bản văn về cầu nguyện — không chỉ những bản được viết bằng mực trên giấy, mà còn những bản được khắc sâu trong trí tuệ bằng tình yêu và lòng quảng đại. Vì như Đức Khôn Ngoan đã nói, “Mọi sự đều có đôi, mỗi điều bổ túc cho điều kia” (Hc 42,24), nên xin bạn đón nhận bức thư này và hiểu lấy tinh thần của nó: bởi vì mọi lời viết ra đều giả định có trí năng, và nơi nào không có trí năng, thì cũng không có lời được viết. Con đường cầu nguyện cũng mang hai chiều kích: nó bao gồm việc thực hành các nhân đức và chiêm niệm. Điều này cũng tương tự như các con số: về mặt hiển nhiên, chúng biểu thị số lượng, nhưng ẩn sâu bên trong, chúng cũng biểu thị phẩm chất.

I have divided this discourse on prayer into one hundred and fifty-three texts. In this way I send you an evangelical feast, so that you may delight in a symbolical number that combines a triangular with a hexagonal figure.1 The triangle indicates spiritual knowledge of the Trinity, the hexagon indicates the ordered creation of the world in six days. The number one hundred is square, while the number fifty-three is triangular and spherical; for twenty-eight is triangular, and twenty-five is spherical, five times five being twenty-five. In this way, you have a square figure to express the fourfold nature of the virtues, and also a spherical number, twenty-five, which by form represents the cyclic movement of time and so indicates true knowledge of this present age. For week follows week and month follows month, and time revolves from year to year, and season follows season, as we see from the movement of the sun and moon, of spring and summer, and so on. The triangle can signify knowledge of the Holy Trinity. Or you can regard the total sum, one hundred and fifty-three, as triangular and so signifying respectively the practice of the virtues, contemplation of the divine in nature, and theology or spiritual knowledge of God; faith, hope and love (cf. 1 Cor. 13:13); or gold, silver and precious stones (cf. 1 Cor. 3:12). So much, then, for this number.

Tôi đã phân chia bài suy niệm về cầu nguyện này thành một trăm năm mươi ba đoạn. Như thế, tôi gửi đến bạn một bữa tiệc Tin Mừng, để bạn có thể vui hưởng con số biểu tượng kết hợp giữa hình tam giác và hình lục giác1Con số 153 gợi nhớ đến mẻ cá lớn mà thánh Phêrô và các Tông Đồ đã bắt được (x. Ga 21,11). Trong đoạn này, thánh Evagrios sử dụng biểu tượng số học vốn rất phổ biến trong thế giới cổ đại và trung cổ: i. Số tam giác là tổng của một chuỗi số liên tiếp bắt đầu từ số 1. Ví dụ: 3 (=1+2), 6 (=1+2+3), và 10 (=1+2+3+4) đều là số tam giác. iiii. Số vuông được hình thành bằng cách cộng các số lẻ liên tiếp, bắt đầu từ 1 và bỏ qua một số mỗi lần. Ví dụ: 4 (=1+3), 9 (=1+3+5), và 16 (=1+3+5+7) là các số vuông. iii. Số ngũ giác được tạo ra bằng cách bỏ qua hai số mỗi lần: 1+4+7+10…; còn số lục giác thì bỏ qua ba số mỗi lần: 1+5+9+13… iv. Số tròn hoặc số cầu là số mà khi nhân với chính nó, chữ số cuối cùng của kết quả vẫn là chính nó. Ví dụ: 5 × 5 = 25; 6 × 6 = 36. Áp dụng vào con số 153, thánh Evagrios kết luận: a. 153 là số tam giác, vì nó là tổng của tất cả các số từ 1 đến 17. b. Nó là số lục giác, vì nó là tổng của dãy số 1+5+9+13… cho đến 33. c. Nó là tổng của 100 (một số vuông) và 53; trong đó 53 lại là tổng của 28 (một số tam giác: =1+2+3+4+5+6+7) và 25 (một số tròn: =5 × 5).. Hình tam giác biểu thị tri thức thiêng liêng về Ba Ngôi Thiên Chúa; hình lục giác biểu thị công trình tạo dựng có trật tự trong sáu ngày. Con số một trăm là số vuông, trong khi năm mươi ba là số tam giác và số cầu: vì hai mươi tám là số tam giác, còn hai mươi lăm là số cầu, bởi năm nhân năm là hai mươi lăm. Như vậy, bạn có hình vuông để diễn tả bản chất bốn chiều của các nhân đức, và cũng có số cầu là hai mươi lăm, vốn biểu thị bằng hình thức chuyển động tuần hoàn của thời gian, qua đó chỉ về tri thức chân thật về thời đại hiện tại. Bởi tuần nối tiếp tuần, tháng nối tiếp tháng, thời gian xoay vòng từ năm này sang năm khác, và mùa nối tiếp mùa, như ta thấy qua chuyển động của mặt trời và mặt trăng, của mùa xuân và mùa hạ, v.v. Hình tam giác có thể biểu thị sự hiểu biết về Ba Ngôi Thiên Chúa. Hoặc bạn cũng có thể xem tổng số một trăm năm mươi ba như một con số tam giác, và như thế nó biểu thị lần lượt: việc thực hành các nhân đức, chiêm niệm về Thiên Chúa qua công trình tạo dựng, và thần học hay tri thức thiêng liêng về Thiên Chúa; tức là đức tin, đức cậy và đức mến (x. 1 Cr 13,13); hoặc vàng, bạc và đá quý (x. 1 Cr 3,12). Như thế, ta đã nói đủ về con số này.

Do not despise the humble appearance of these texts, for you know how to be content with much or little (cf. Phil. 4:12). You will recall how Christ did not reject the widow’s mites (cf. Mark 12:44), but accepted them as greater than the rich gifts of many others. Showing in this way charity and love towards your true brethren, pray for one who is sick that he may ‘take up his bed’ and walk (Mark 2 :11) by the grace of Christ. Amen.

Đừng khinh thường hình thức đơn sơ của những bản văn này, vì bạn biết cách sống mãn nguyện trong cảnh nhiều cũng như trong cảnh ít (x. Pl 4,12). Bạn hãy nhớ lại rằng Đức Kitô đã không khước từ hai đồng tiền nhỏ của bà goá (x. Mc 12,44), nhưng đã đón nhận chúng như của lễ lớn hơn mọi tặng phẩm của người giàu. Vì vậy, bạn hãy tỏ lòng bác ái và yêu thương đối với anh em đích thực của mình, và cầu nguyện cho kẻ đau yếu này, để nhờ ân sủng của Đức Kitô, người ấy có thể “đứng dậy, vác lấy chõng của mình mà đi” (x. Mc 2,11). Amen.

1. Should one wish to make incense, one will mingle, according to the Law, fragrant gum, cassia, aromatic shell and myrrh in equal amounts (cf. Exod. 30:34). These are the four virtues. With their full and balanced development, the intellect will be safe from betrayal. 1. Nếu ai muốn chế tạo hương trầm, thì theo Luật, người ấy phải pha trộn nhựa thơm, hương quế (cassia), vỏ thơm (aromatic shell) và mộc dược (myrrh) với lượng bằng nhau (x. Xh 30,34). Đó là hình ảnh của bốn nhân đức chính yếu. Khi bốn nhân đức ấy được phát triển đầy đủ và quân bình, trí tuệ (nous) sẽ được an toàn, không bị phản bội bởi các đam mê hay sự lệch lạc nội tâm.
2. When the soul has been purified through the keeping of all the commandments, it makes the intellect steadfast and able to receive the state needed for prayer. 2. Khi linh hồn đã được thanh luyện bằng cách giữ trọn mọi giới răn, nó sẽ làm cho trí tuệ trở nên kiên định, và đủ khả năng đón nhận trạng thái cần thiết cho việc cầu nguyện.
3. Prayer is communion of the intellect with God. What state, then, does the intellect need so that it can reach out to its Lord without deflection and commune with Him without intermediary? 3. Cầu nguyện là sự hiệp thông của trí tuệ (nous) với Thiên Chúa. Vậy thì, trạng thái nào là cần thiết cho trí tuệ, để nó có thể vươn lên cùng Chúa của mình, không bị lệch lạc, và hiệp thông với Ngài một cách trực tiếp, không qua trung gian?

4. When Moses tried to draw near to the burning bush he was forbidden to approach until he had loosed his sandals from his feet (cf. Exod. 3:5). If, then, you wish to behold and commune with Him who is beyond sense-perception and beyond concept, you must free yourself from every impassioned

thought.

Khi Môsê muốn đến gần bụi cây đang cháy, ông bị ngăn lại, vì chưa cởi dép khỏi chân (x. Xh 3,5). Cũng vậy, nếu bạn muốn chiêm ngắm và hiệp thông với Đấng vượt trên mọi cảm giác và mọi khái niệm, thì bạn phải giải thoát chính mình khỏi mọi tư tưởng đam mê.
5. First pray for the gift of tears, so that through sorrowing you may tame what is savage in your soul. And havingconfessed your transgressions to the Lord, you will obtain forgiveness from Him. 5. Trước hết, hãy cầu xin ơn được đổ lệ, để nhờ nỗi sầu khổ thánh thiện, bạn có thể thuần phục phần dữ dằn trong linh hồn mình. Và khi bạn xưng thú tội lỗi mình với Chúa, bạn sẽ lãnh được ơn tha thứ từ Ngài.
6. Pray with tears and all you ask will be heard. For the Lord rejoices greatly when you pray with tears. 6. Hãy cầu nguyện trong nước mắt, và mọi điều bạn xin sẽ được lắng nghe. Vì Chúa rất hoan hỉ khi Ngài thấy bạn cầu nguyện trong nước mắt.
7. If you do shed tears during your prayer, do not exalt yourself, thinking you are better than others. For your prayer has received help so that you can confess your sins readily and make your peace with the Lord through your tears. Therefore do not turn the remedy for passions into a passion, and so again provoke to anger Him who has given you this grace. 7. Nếu trong khi cầu nguyện bạn được ơn rơi lệ, đừng tự cao, nghĩ rằng mình tốt hơn người khác. Vì lời cầu nguyện của bạn đã được nâng đỡ, để bạn có thể dễ dàng thú nhận tội lỗi mình, và làm hoà cùng Chúa nhờ những giọt lệ ấy. Vì thế, đừng biến phương dược chữa trị đam mê thành chính một đam mê, kẻo lại chọc giận Đấng đã ban cho bạn ân huệ ấy.
8. Many people, shedding tears for their sins, forget what tears are for, and so in their folly go astray. 8. Nhiều người đã rơi lệ vì tội lỗi mình, rồi lại quên mất ý nghĩa của nước mắt, và vì sự ngu muội của họ, họ lạc lối trên đường sám hối.
9. Persevere with patience in your prayer, and repulse the cares and doubts that arise within you. They disturb and trouble you, and so slacken the intensity of your prayer. 9. Hãy kiên trì nhẫn nại trong cầu nguyện, và xua đuổi những mối lo và hoài nghi nảy sinh trong lòng bạn. Vì chúng gây xao động và rối loạn, làm suy yếu sức mạnh và sự chuyên tâm của lời cầu nguyện.
10. When the demons see you truly eager to pray, they suggest an imaginary need for various things, and then stir up your remembrance of these things, inciting the intellect to go after them; and when it fails to find them, it becomes very depressed and miserable. And when the intellect is at prayer, the demons keep filling it with the thought of these things, so that it tries to discover more about them and thus loses the fruitfulness of its prayer. 10. Khi ma quỷ thấy bạn thật lòng khao khát cầu nguyện, chúng sẽ gợi cho bạn những nhu cầu tưởng tượng, rồi khơi dậy trong bạn ký ức về những điều ấy, xúi giục trí tuệ (nous) chạy theo chúng. Và khi trí tuệ không tìm thấy điều mong muốn, nó trở nên phiền muộn và sầu não. Ngay cả khi trí tuệ đang cầu nguyện, bọn quỷ vẫn liên tục gieo vào nó những ý tưởng ấy, để lôi nó ra khỏi sự tập trung, làm cho nó tìm hiểu thêm về những điều trần thế, và như thế, mất đi hoa trái thiêng liêng của lời cầu nguyện.
11. Try to make your intellect deaf and dumb during prayer; you will then be able to pray. 11. Hãy làm cho trí tuệ (nous) của bạn trở nên điếc và câm trong khi cầu nguyện; như thế, bạn mới thật sự có thể cầu nguyện.
12. Whenever a temptation or a feeling of contentiousness comes over you, immediately arousing you to anger or to some senseless word, remember your prayer and how you will be judged about it, and at once the disorderly movement within you will subside. 12. Bất cứ khi nào cám dỗ hay ý muốn tranh cãi, chống đối xâm chiếm tâm hồn bạn, kích động bạn nổi giận hoặc thốt ra lời vô ích, hãy ngay lập tức nhớ đến lời cầu nguyện của bạn, và nghĩ đến việc bạn sẽ bị xét xử về điều đó. Ngay khi ấy, chuyển động hỗn loạn trong tâm hồn bạn sẽ lắng xuống.
13. Whatever you do to avenge yourself against a brother who has done you a wrong will prove a stumbling-block to you during prayer. 13. Bất cứ điều gì bạn làm để báo thù người anh em đã làm hại bạn, điều đó sẽ trở nên chướng ngại cho bạn trong khi cầu nguyện.
14. Prayer is the flower of gentleness and of freedom from anger. 14. Cầu nguyện là bông hoa của sự hiền hoà và của tâm hồn không còn giận dữ.
15. Prayer is the fruit of joy and thankfulness. 15. Cầu nguyện là hoa trái của niềm vui và lòng biết ơn.
16. Prayer is the remedy for gloom and despondency. 16. Cầu nguyện là phương dược chữa trị nỗi buồn sầu và tâm trạng chán nản.
17. ‘Go and sell all you have and give to the poor’ (Matt. 19:21); and ‘deny yourself, taking up your cross’ (Matt. 16: 24). You will then be free from distraction when you pray.

17. “Hãy đi và bán tất cả những gì ngươi có và phân phát cho người nghèo” (Mt 19,21);

và: “Hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Khi làm như thế, bạn sẽ được tự do khỏi mọi xao lãng khi cầu nguyện.

18. If you wish to pray as you should, deny yourself all the time, and when any kind of affliction troubles you, meditate on prayer. 18. Nếu bạn muốn cầu nguyện như phải lẽ, hãy liên lỉ từ bỏ chính mình. Và khi bất cứ đau khổ nào đến làm bạn phiền não, hãy hướng tâm hồn về cầu nguyện mà chiêm niệm.
19. If you endure something painful out of love for wisdom, you will find the fruit of this during prayer. 19. Nếu bạn chịu đựng điều gì đau đớn vì lòng yêu mến khôn ngoan, bạn sẽ tìm thấy hoa trái của điều đó trong khi cầu nguyện.
20. If you desire to pray as you ought, do not grieve anyone; otherwise you ‘run in vain’ (Phil. 2:16). 20. Nếu bạn muốn cầu nguyện như phải lẽ, đừng làm ai buồn phiền; nếu không, bạn sẽ “chạy cách vô ích” (Pl 2,16).
21. ‘Leave your gift before the altar; first go away and be reconciled with your brother’ (Matt. 5:24), and when you return you will pray without disturbance. For rancor darkens the intellect of one who prays, and extinguishes the light of his prayers 21. “Hãy để lễ vật của ngươi trước bàn thờ; trước hết, hãy đi làm hoà với người anh em mình” (Mt 5,24), và khi ngươi trở lại, ngươi sẽ cầu nguyện mà không bị xao động. Vì hận thù làm tối tăm trí tuệ của người cầu nguyện, và dập tắt ánh sáng phát ra từ lời cầu nguyện của họ.
22. Those who store up grievances and rancor in themselves are like people who draw water and pour it into a cask full of holes. 22. Những ai tích trữ oán hận và hằn thù trong lòng, thì giống như người múc nước mà đổ vào một thùng rò rỉ.
23. If you patiently accept what comes, you will always pray with joy. 23. Nếu bạn kiên nhẫn đón nhận mọi sự xảy đến, bạn sẽ luôn luôn cầu nguyện trong niềm vui.
24. When you pray as you should, thoughts will come to you which make you feel that you have a real right to be angry. But anger with your neighbor is never right. If you search you will find that things can always be arranged without anger. So do all you can not to break out into anger. 24. Khi bạn cầu nguyện như phải lẽ, sẽ có những ý nghĩ đến với bạn, làm cho bạn cảm thấy rằng mình có lý để giận dữ. Nhưng giận dữ với tha nhân thì không bao giờ là đúng. Nếu bạn chịu khó tìm kiếm, bạn sẽ thấy rằng mọi sự đều có thể giải quyết mà không cần nổi giận. Vì thế, hãy làm mọi điều có thể để không bộc phát cơn giận.
25. Take care that, while appearing to cure someone else, you yourself do not remain uncured, in this way thwartingyour prayer. 25. Hãy cẩn trọng, kẻo khi có vẻ như bạn đang chữa lành cho người khác, chính bạn lại vẫn chưa được chữa lành, và bằng cách ấy, bạn làm cho lời cầu nguyện của mình trở nên vô hiệu.
26. If you are sparing with your anger you will yourself be spared, and you will show your good sense and will be one of those who pray. 26. Nếu bạn biết tiết chế cơn giận, bạn cũng sẽ được Thiên Chúa dung thứ, và bạn sẽ tỏ ra là người có lương tri, thuộc về những kẻ biết cầu nguyện thật.
27. If you arm yourself against anger, then you will never succumb to any kind of desire. Desire provides fuel for anger, and anger disturbs spiritual vision, disrupting the state of prayer. 27. Nếu bạn trang bị chính mình chống lại cơn giận, thì bạn sẽ không bao giờ bị khuất phục bởi bất cứ thứ dục vọng nào. Bởi dục vọng chính là nhiên liệu nuôi giận dữ, và cơn giận làm rối loạn cái nhìn thiêng liêng, phá vỡ trạng thái nội tâm của cầu nguyện.
28. Do not pray only with outward forms and gestures, but with reverence and awe try to make your intellect conscious of spiritual prayer. 28. Đừng chỉ cầu nguyện bằng hình thức bên ngoài, với những cử chỉ và nghi thức, nhưng hãy với lòng tôn kính và kính sợ, làm cho trí tuệ (nous) ý thức được sự hiện diện của lời cầu nguyện thiêng liêng.
29. Sometimes as soon as you start to pray, you pray well; at other times, in spite of great exertion, you do not reach your goal. This is to make you exert yourself still more, so that, having gained the gift of prayer, you keep it safe. 29. Đôi khi, vừa khởi sự cầu nguyện, bạn đã cầu nguyện cách dễ dàng và tốt đẹp; nhưng những lúc khác, dù cố gắng rất nhiều, bạn vẫn không đạt được mục đích. Điều đó xảy ra là để thúc giục bạn cố gắng hơn nữa, hầu khi đã lĩnh nhận được ân ban của cầu nguyện, bạn sẽ biết gìn giữ nó cách cẩn trọng.
30. When an angel comes to us, all who trouble us withdraw at once; then the intellect is completely calm and prays soundly. But at other times, when the attacks of the demons are particularly strong, the intellect does not have a moment’s respite. This is because it is weakened by the passions to which it has succumbed in the past. But if it goes on searching, it will find; and if it knocks, the door will be opened (cf. Matt. 7:8). 30. Khi một thiên thần đến với chúng ta, mọi kẻ quấy rối liền rút lui ngay lập tức; khi ấy, trí tuệ trở nên hoàn toàn an tĩnh, và cầu nguyện một cách trong sáng, vững vàng. Nhưng vào những lúc khác, khi các cuộc tấn công của ma quỷ trở nên dữ dội đặc biệt, trí tuệ không có lấy một khoảnh khắc nghỉ ngơi. Điều đó là vì trí tuệ đã bị yếu đi bởi những đam mê mà trước đây nó từng chiều theo. Tuy nhiên, nếu nó tiếp tục tìm kiếm, nó sẽ tìm thấy; và nếu nó kiên trì gõ cửa, cửa sẽ được mở cho nó (x. Mt 7,8).
31. Do not pray for the fulfillment of your wishes, for they may not accord with the will of God. But pray as you have been taught, saying: Thy will be done in me (cf. Luke 22:42). Always entreat Him in this way – that His will be done. For He desires what is good and profitable for you, whereas you do not always ask for this. Đừng cầu xin cho điều bạn mong muốn được thành tựu, vì có thể điều đó không phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Nhưng hãy cầu nguyện như bạn đã được dạy: “Xin cho ý Cha được nên trọn nơi con” (x. Lc 22,42). Luôn luôn khẩn cầu như thế này — rằng ý muốn của Người được thực hiện. Bởi vì Người muốn điều tốt lành và lợi ích cho bạn, trong khi bạn không phải lúc nào cũng xin điều ấy.
32. Often when I have prayed I have asked for what I thought was good, and persisted in my petition, stupidly importuning the will of God, and not leaving it to Him to arrange things as He knows is best for me. But when I have obtained what I asked for, I have been very sorry that I did not ask for the will of God to be done; because the thing turned out not to be as I had thought. 32. Nhiều khi, khi cầu nguyện, tôi đã xin điều mà tôi cho là tốt, và cố chấp nài xin, ngu xuẩn ép buộc ý Thiên Chúa, không để Người an bài theo cách mà Người biết là tốt hơn cho tôi. Nhưng khi tôi đã được điều mình xin, tôi vô cùng hối tiếc vì đã không cầu xin cho ý Chúa được nên, bởi vì mọi sự lại không diễn ra như tôi đã nghĩ.
33. What is good, except God? Then let us leave to Him everything that concerns us and all will be well. For He who is good is naturally also a giver of good gifts. 33. Cái gì là tốt lành, nếu không phải là chính Thiên Chúa? Vậy hãy phó thác cho Người mọi điều liên quan đến ta, và mọi sự sẽ tốt đẹp, vì Đấng thiện hảo tự nhiên cũng là Đấng ban phát những điều tốt lành.
34. Do not be distressed if you do not at once receive from God what you ask. He wishes to give you something better – to make you persevere in your prayer. For what is better than to enjoy the love of God and to be in communion with Him? 34. Đừng buồn phiền nếu bạn không nhận được ngay từ Thiên Chúa điều bạn cầu xin. Người muốn ban cho bạn điều tốt hơn, đó là khiến bạn bền đỗ trong cầu nguyện. Vì có gì tốt hơn là được hưởng tình yêu của Thiên Chúa và ở trong hiệp thông với Người?
35. Undistracted prayer is the highest intellection of the intellect. 35. Cầu nguyện không bị phân tán là sự chiêm niệm cao nhất của trí tuệ.
36. Prayer is the ascent of the intellect to God. 36. Cầu nguyện là sự thăng vượt của trí tuệ hướng về Thiên Chúa.
37. If you long for prayer, renounce all to gain all. 37. Nếu bạn khao khát cầu nguyện, hãy từ bỏ tất cả, để được tất cả.
38. Pray first for the purification of the passions; secondly, for deliverance from ignorance and forgetfulness; and thirdly, for deliverance from all temptation, trial and dereliction. 38. Khi cầu nguyện, trước hết hãy cầu xin cho sự thanh luyện khỏi các đam mê; thứ đến, hãy xin ơn được giải thoát khỏi vô minh và quên lãng; và sau cùng, xin được thoát khỏi mọi cám dỗ, thử thách và sự bị bỏ rơi.
39. In your prayer seek only righteousness and the kingdom of God, that is, virtue and spiritual knowledge; andeverything else ‘will be given to you’ (Matt. 6:33). 39.Trong cầu nguyện, hãy chỉ tìm kiếm công chính và Nước Thiên Chúa, nghĩa là, đức hạnh và tri thức thiêng liêng; và mọi sự khác “sẽ được ban cho bạn thêm” (Mt 6,33).
40. It is right to pray not only for your own purification, but also for that of all your fellow men, and so to imitate the angels. 40. Thật phải lẽ khi cầu nguyện không chỉ cho sự thanh tẩy của riêng bạn, mà còn cho mọi anh em đồng loại, để bạn được nên giống các thiên thần.
41. See whether you stand truly before God in your prayer, or are overcome by the desire for human praise, using prolonged prayer as a disguise. 41. Hãy xem xét xem liệu bạn có thật sự đứng trước mặt Thiên Chúa khi cầu nguyện, hay bị chi phối bởi lòng ham muốn được người đời khen ngợi, dùng những lời cầu nguyện dài dòng như một vỏ bọc giả hình.
42. Whether you pray with brethren or alone, try to pray not simply as a routine, but with conscious awareness of your prayer. 42. Dù bạn cầu nguyện chung với anh em hay một mình, hãy cố gắng đừng cầu nguyện như một thói quen máy móc, nhưng hãy tỉnh thức và ý thức rõ về chính hành vi cầu nguyện của mình.
43. Conscious awareness of prayer is concentration accompanied by reverence, compunction and distress of soul as it confesses its sins with inward sorrow. 43. Ý thức khi cầu nguyện là sự tập trung đi kèm với lòng tôn kính, với tâm hồn tan nát và đau thương, khi linh hồn thú nhận tội lỗi mình bằng nỗi sầu muộn nội tâm.
44. If your intellect is still distracted during prayer, you do not yet know what it is to pray as a monk; but your prayer is still worldly, embellishing the outer tabernacle 44. Nếu trí tuệ của bạn vẫn còn bị phân tán khi cầu nguyện, thì bạn chưa biết cầu nguyện như một đan sĩ; bởi lời cầu của bạn vẫn còn thuộc về thế gian, chỉ là trang hoàng cho ngôi đền bên ngoài.
45. When you pray, keep close watch on your memory, so that it does not distract you with recollections of your past. But make yourself aware that you are standing before God. For by nature the intellect is apt to be carried away by memories during prayer. 45. Khi cầu nguyện, hãy canh giữ ký ức của bạn, đừng để nó làm bạn xao lãng bằng những hồi tưởng quá khứ. Hãy ý thức rằng bạn đang đứng trước mặt Thiên Chúa. Bởi tự bản chất, trí tuệ rất dễ bị cuốn đi bởi ký ức trong khi cầu nguyện.
46. While you are praying, the memory brings before you fantasies either of past things, or of recent concerns, or of the face of someone who has irritated you. 46. Khi bạn đang cầu nguyện, ký ức sẽ đem đến cho bạn những hình ảnh hão huyền — hoặc về những chuyện đã qua, hoặc về những bận tâm hiện tại, hoặc về gương mặt của người đã khiến bạn bực bội.
47. The demon is very envious of us when we pray, and uses every kind of trick to thwart our purpose. Therefore he is always using our memory to stir up thoughts of various things and our flesh to arouse the passions, in order to obstruct our way of ascent to God. 47. Tên quỷ rất ghen tức với chúng ta khi ta cầu nguyện, và dùng mọi mưu chước để phá hoại mục đích của ta. Nó khơi dậy ký ức để gợi ra muôn vàn ý nghĩ, và kích động xác thịt để thức dậy các đam mê, hầu ngăn cản con đường linh hồn hướng thượng về Thiên Chúa.
48. When after many attempts the cunning demon fails to hinder the prayer of the righteous man, he slackens his efforts a little, and then gets his own back when the man has finished praying. Either he provokes the man to anger, and so destroys the good effects of the prayer, or else he excites him to senseless pleasure, and so degrades his intellect. 48. Khi sau nhiều lần tấn công mà không thể cản trở được lời cầu nguyện của người công chính, tên quỷ xảo quyệt liền giảm bớt sức ép một chút, rồi trả thù ngay sau khi người ấy cầu nguyện xong. Hoặc nó khiến người ấy nổi giận, để phá hủy hoa trái tốt lành của lời cầu, hoặc nó gợi nên niềm khoái cảm vô nghĩa, để làm hạ thấp trí tuệ của người ấy.
49. Having prayed as you should, expect the demon to attack you; so stand on guard, ready to protect the fruits of your prayer. For this from the start has been your appointed task: to cultivate and to protect (cf. Gen. 2:15). Therefore, having cultivated, do not leave the fruits unprotected; otherwise you will gain nothing from your prayer. 49. Sau khi đã cầu nguyện đúng đắn, hãy sẵn sàng chờ đón sự tấn công của quỷ dữ. Vì thế, hãy đứng canh chừng, để bảo vệ hoa trái của lời cầu nguyện. Bởi ngay từ đầu, nhiệm vụ được trao cho bạn là “canh tác và giữ gìn” (x. St 2,15). Vậy, sau khi đã canh tác, đừng để hoa trái bị bỏ mặc không được gìn giữ, kẻo bạn chẳng thu được gì từ lời cầu nguyện của mình.
50. The warfare between us and the demons is waged solely on account of spiritual prayer. For prayer is extremely hateful and offensive to them, whereas it leads us to salvation and peace. 50. Cuộc chiến giữa chúng ta và ma quỷ chỉ xoay quanh một điều duy nhất: lời cầu nguyện thiêng liêng. Bởi vì cầu nguyện là điều ghê tởm và đáng sợ đối với chúng, trong khi chính cầu nguyện lại đem cho chúng ta ơn cứu độ và bình an.
51. What is it that the demons wish to excite in us? Gluttony, unchastity, avarice, anger, rancor, and the rest of the passions, so that the intellect grows coarse and cannot pray as it ought. For when the passions are aroused in the non-rational part of our nature, they do not allow the intellect to function properly. 51. Điều mà ma quỷ muốn khơi dậy trong ta là gì? Là tham ăn, dâm dục, tham lam, giận dữ, oán hận, và mọi thứ đam mê khác — để trí tuệ (nous) trở nên thô kệch và không thể cầu nguyện như phải lẽ. Vì khi các đam mê bị khuấy động trong phần vô lý của bản tính con người, chúng không cho phép trí tuệ hoạt động đúng chức năng của nó.
52. We practice the virtues in order to achieve contemplation of the inner essences (logoi) of created things, and from this we pass to contemplation of the Logos who gives them their being; and He manifests Himself when we are in the state of prayer 52. Chúng ta thực hành các nhân đức để đạt đến chiêm niệm về bản thể nội tại (logoi) của các tạo vật; và từ đó, vượt qua để chiêm niệm Ngôi Lời (Logos), Đấng ban cho chúng hiện hữu. Và Ngài tự tỏ mình ra cho chúng ta khi linh hồn ở trong trạng thái cầu nguyện.
53. The state of prayer is one of dispassion, which by virtue of the most intense love transports to the noetic realm the intellect that longs for wisdom. 53. Trạng thái cầu nguyện là tình trạng vô nhiễm (apatheia), nhờ tình yêu mãnh liệt nhất mà trí tuệ khao khát khôn ngoan được đưa lên cõi thuần linh (noetic realm).
54. He who wishes to pray truly must not only control his incensive power and his desire, but must also free himself from every impassioned thought. 54. Ai muốn cầu nguyện thật sự, không chỉ phải chế ngự sức nóng của giận dữ và ham muốn của lòng dục, mà còn phải giải thoát mình khỏi mọi ý nghĩ mang đam mê.
55. He who loves God is always communing with Him as his Father, repulsing every impassioned thought. 55. Ai yêu mến Thiên Chúa thì luôn hiệp thông với Ngài như với Cha mình, và xua đuổi mọi ý nghĩ mang đam mê.
56. One who has attained dispassion has not necessarily achieved pure prayer. For he may still be occupied with thoughts which, though dispassionate, distract him and keep him far from God. 56. Người đã đạt đến vô nhiễm (apatheia) chưa hẳn đã đạt đến cầu nguyện thuần khiết. Bởi vì, người ấy vẫn còn có thể bị chiếm giữ bởi những tư tưởng tuy vô nhiễm, nhưng lại khiến trí tuệ bị phân tán và xa cách Thiên Chúa.
57. When the intellect no longer dallies with dispassionate thoughts about various things, it has not necessarily reached the realm of prayer; for it may still be contemplating the inner essences of these things. And though such contemplation is dispassionate, yet since it is of created things, it impresses their forms upon the intellect and keeps it away from God. 57. Khi trí tuệ không còn vui thích với những tư tưởng vô nhiễm về các sự vật, điều đó chưa có nghĩa nó đã đạt đến cảnh giới cầu nguyện. Bởi vì nó có thể vẫn đang chiêm niệm bản thể nội tại (logoi) của các tạo vật. Và dù việc chiêm niệm ấy là vô nhiễm, nhưng vì nó vẫn thuộc về những thực tại được tạo thành, nên các hình ảnh của chúng vẫn in dấu nơi trí tuệ, và giữ nó xa cách Thiên Chúa.
58. If the intellect has not risen above the contemplation of the created world, it has not yet beheld the realm of Godperfectly. For it may be occupied with the knowledge of intelligible things and so involved in their multiplicity. 58. Nếu trí tuệ chưa vượt lên khỏi sự chiêm niệm thế giới tạo thành, nó chưa chiêm ngắm hoàn toàn cảnh giới của Thiên Chúa. Bởi vì nó vẫn còn bận rộn với tri thức về những thực tại khả tri, và vì thế bị vướng vào sự đa tạp của chúng.
59. If you wish to pray, you have need of God, ‘who gives prayer to him who prays’ (1 Sam. 2:9. LXX). Invoke Him, then, saying: ‘Hallowed be Thy name, Thy kingdom come’ (Matt. 6:9-10) – that is, the Holy Spirit and Thy onlybegotten Son. For so He taught us, saying: ‘Worship the Father in spirit and in truth’ (John 4: 24). 59. Nếu bạn muốn cầu nguyện, bạn cần đến chính Thiên Chúa, Đấng “ban lời cầu nguyện cho kẻ biết cầu nguyện” (1 Sm 2,9 – Bản LXX). Vì thế, hãy khẩn cầu Người, mà nói rằng: “Nguyện Danh Cha được hiển thánh, Nước Cha trị đến” (Mt 6,9–10), tức là Thánh Thần và Con Một của Cha. Vì chính Người đã dạy ta rằng: “Hãy thờ phượng Cha trong Thần Khí và trong Chân Lý” (Ga 4,24).
60. He who prays in spirit and in truth is no longer dependent on created things when honoring the Creator, but praises Him for and in Himself. 60. Ai cầu nguyện trong Thần Khí và trong Chân Lý thì không còn lệ thuộc vào những thụ tạo khi tôn vinh Đấng Tạo Hoá, nhưng ngợi khen Người nơi chính Người và vì chính Người.
61. If you are a theologian, you will pray truly. And if you pray truly, you are a theologian. 61. Nếu bạn là một nhà thần học (theologos), bạn sẽ cầu nguyện cách chân thật. Và nếu bạn cầu nguyện cách chân thật, bạn là một nhà thần học.
62. When your intellect in its great longing for God gradually withdraws from the flesh and turns away from all thoughts that have their source in your sense-perception, memory or soul-body temperament, and when it becomes full of reverence and joy, then you may conclude that you are close to the frontiers of prayer. 62. Khi trí tuệ của bạn, vì lòng khao khát mãnh liệt hướng về Thiên Chúa, dần dần rút khỏi xác thịt, và quay lưng lại với mọi tư tưởng phát sinh từ cảm giác, ký ức, hay khuynh hướng tâm – thể, và khi nó tràn đầy niềm tôn kính và hoan lạc, bấy giờ bạn có thể nhận ra rằng mình đang ở gần biên giới của cầu nguyện.
63. The Holy Spirit, out of compassion for our weakness, comes to us even when we are impure. And if only He finds our intellect truly praying to Him, He enters it and puts to flight the whole array of thoughts and ideas circling within it, and He arouses it to a longing for spiritual prayer 63. Thánh Thần, vì lòng thương xót trước sự yếu đuối của chúng ta, vẫn đến với ta ngay cả khi ta còn nhơ bẩn. Và nếu Ngài tìm thấy trí tuệ ta đang thật lòng cầu nguyện, Ngài liền ngự vào trong đó, và xua đuổi toàn bộ đoàn quân tư tưởng và hình ảnh đang vây quanh, rồi khơi dậy trong nó niềm khao khát đối với cầu nguyện thiêng liêng.
64. While all else produces thoughts, ideas and speculations in the intellect through changes in the body, the Lord does the opposite: by entering the intellect. He fills it with whatever knowledge He wishes; and through the intellect He calms the uncontrolled impulses in the body. 64. Mọi thực tại khác đều sinh ra tư tưởng, hình ảnh và suy luận trong trí tuệ qua những biến động của thân xác. Nhưng Chúa thì ngược lại: Khi Ngài đi vào trong trí tuệ, Ngài đổ đầy nó bằng bất cứ tri thức nào Ngài muốn ban, và qua trí tuệ, Ngài làm lắng dịu những chuyển động vô trật tự trong thân xác.
65. Whoever loves true prayer and yet becomes angry or resentful is his own enemy. He is like a man who wants to see clearly and yet inflicts damage on his own eyes. 65. Ai yêu mến cầu nguyện chân thật, mà lại giận dữ hoặc oán hận, thì tự mình trở thành kẻ thù của chính mình. Người ấy giống như kẻ muốn nhìn thấy rõ ràng, nhưng lại tự làm tổn thương đôi mắt của mình.
66. If you long to pray, do nothing that is opposed to prayer, so that God may draw near and be with you. 66. Nếu bạn khao khát cầu nguyện, đừng làm điều gì trái nghịch với cầu nguyện, để Thiên Chúa có thể đến gần bạn và ở cùng bạn.
67. When you are praying, do not shape within yourself any image of the Deity, and do not let your intellect be stamped with the impress of any form; but approach the Immaterial in an immaterial manner, and then you will understand. 67. Khi bạn cầu nguyện, đừng tạo ra trong lòng mình bất cứ hình ảnh nào về Thiên Tính, và đừng để trí tuệ in khắc dấu ấn của bất kỳ hình dạng nào. Hãy tiếp cận Đấng Vô Hình theo cách vô hình, và bấy giờ bạn sẽ hiểu.
68. Be on your guard against the tricks of the demons. While you are praying purely and calmly, sometimes they suddenly bring before you some strange and alien form, making you imagine in your conceit that the Deity is there. They are trying to persuade you that the object suddenly disclosed to you is the Deity, whereas the Deity does not possess quantity and form. 68. Hãy cảnh giác trước mưu kế của ma quỷ. Khi bạn đang cầu nguyện cách khiết tịnh và yên tĩnh, chúng đôi khi đột nhiên đem đến trước bạn một hình dạng lạ lùng và xa lạ, khiến bạn tưởng lầm rằng đó là sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúng muốn thuyết phục bạn rằng hình ảnh vừa hiện ra chính là Thiên Tính, trong khi Thiên Tính không có hình dạng, cũng không bị giới hạn bởi kích thước.
69. When the jealous demon fails to stir up our memory during prayer, he disturbs the soul-body temperament, so as to form some strange fantasy in the intellect. Since your intellect is usually preoccupied with thoughts it is easily diverted: instead of pursuing immaterial and formless knowledge, it is deceived, mistaking smoke for light. 69. Khi tên quỷ ghen tương không thể khuấy động ký ức ta trong lúc cầu nguyện, nó sẽ gây xáo trộn thể – hồn của ta, để tạo ra một ảo tưởng kỳ lạ trong trí tuệ. Bởi vì trí tuệ vốn quen bị lôi kéo bởi tư tưởng, nên nó dễ bị đánh lạc hướng: thay vì tìm kiếm tri thức vô hình và vô dạng, nó lại bị lừa, tưởng khói là ánh sáng.
70. Stand on guard and protect your intellect from thoughts while you pray. Then your intellect will complete its prayer and continue in the tranquility that is natural to it. In this way He who has compassion on the ignorant will come to you, and you will receive the blessed gift of prayer. 70. Hãy canh giữ và bảo vệ tâm trí khỏi các ý tưởng khi cầu nguyện. Bấy giờ tâm trí sẽ hoàn tất lời cầu của mình, và tiếp tục ở trong sự bình an tự nhiên của nó. Và khi ấy, Đấng xót thương kẻ ngu muội sẽ đến với bạn, và bạn sẽ lãnh nhận phúc lành của ơn cầu nguyện.
71. You cannot attain pure prayer while entangled in material things and agitated by constant cares. For prayer means the shedding of thoughts. 71. Bạn không thể đạt đến cầu nguyện thuần khiết khi còn vướng bận vào những sự vật vật chất và bị khuấy động bởi những lo toan không ngừng. Bởi vì, cầu nguyện chính là sự trút bỏ mọi tư tưởng.
72. A man who is tied up cannot run. Nor can the intellect that is a slave to passion perceive the realm of spiritual prayer. For it is dragged about by impassioned thoughts and cannot stay still. 72. Người bị trói thì không thể chạy được. Cũng vậy, trí tuệ làm nô lệ cho đam mê không thể nhận biết cảnh giới của cầu nguyện thiêng liêng. Bởi vì nó bị kéo lê bởi những tư tưởng đầy đam mê tính và không thể an định.
73. When the. intellect attains prayer that is pure and free from passion, the demons attack no longer with sinister thoughts but with thoughts of what is good. For they suggest to it an illusion of God’s glory in a form pleasing to the senses, so as to make it think that it has realized the final aim of prayer. A man who possesses spiritual knowledge has said that this illusion results from the passion of self-esteem and from the demon’s touch on a certain area of the brain. 73. Khi trí tuệ đạt tới cầu nguyện thuần khiết và vô nhiễm, ma quỷ không còn tấn công bằng tư tưởng xấu xa nữa, nhưng bằng những tư tưởng “tốt đẹp”. Ma quỷ gợi ra cho trí tuệ một ảo ảnh về vinh quang của Thiên Chúa dưới một hình thức dễ chịu cho giác quan, nhằm làm cho ta tưởng rằng đã đạt tới cùng đích của cầu nguyện. Một người đầy tri thức thiêng liêng đã nói rằng ảo giác này phát sinh từ đam mê tự cao và từ sự đụng chạm của quỷ nơi một vùng nào đó của não.
74. I think that the demon, by touching this area, changes the light surrounding the intellect as he likes. In this way he uses the passion of self-esteem to stir up in the intellect a thought which fatuously attributes form and location to divine and principial knowledge. Not being disturbed by impure and carnal passions, but supposing itself to be in a state of purity, the intellect imagines that there is no longer any adverse energy within it. It then mistakes for a divine manifestation the appearance produced in it by the demon, who cunningly manipulates the brain and converts the light surrounding the intellect into a form, as we have described.

74. Tôi nghĩ rằng, khi con quỷ chạm vào vùng ấy, nó có thể thay đổi ánh sáng bao quanh trí tuệ tùy ý nó. Nhờ đó, nó lợi dụng đam mê tự cao, khuấy động trong trí tuệ một ý tưởng

ngạo mạn cho rằng tri thức thần linh và nguyên lý có hình dạng và vị trí cụ thể. Không còn bị khuấy động bởi những đam mê nhục thể hay bất tịnh, và tưởng rằng mình đã đạt đến sự thanh sạch, trí tuệ bèn tưởng lầm rằng trong ta không còn hoạt động đối nghịch nào nữa. Và ta coi là mạc khải thần linh chính hình ảnh do ma quỷ tạo ra trong ta, khi tên quỷ khéo léo thao túng não bộ, biến đổi ánh sáng quanh trí tuệ thành một hình tướng, như đã mô tả.

75. When the angel of God comes to us, with his presence alone he puts an end to all adverse energy within the intellect and makes its light energize without illusion. 75. Khi thiên thần của Thiên Chúa đến với chúng ta, chỉ bằng sự hiện diện của ngài thôi, ngài đã chấm dứt mọi hoạt động đối nghịch trong trí tuệ, và làm cho ánh sáng của trí tuệ vận hành cách chân thật, không còn ảo tưởng.
76. The statement in the Apocalypse that the angel brought incense and offered it with the prayers of the saints (cf.Rev. 8:3) refers, I think, to this grace which is energized through the angel. For it instills knowledge of true prayer, so that the intellect stands firm, free from all agitation, listlessness and negligence. 76. Trong Khải Huyền có chép rằng “Thiên thần mang hương thơm và dâng lên cùng với lời cầu nguyện của các thánh” (x. Kh 8,3), theo tôi, chỉ về ân sủng được hoạt hoá qua thiên thần. Vì chính nhờ ân sủng này mà trí tuệ được ban tri thức về cầu nguyện chân thật, để nó đứng vững, thoát khỏi mọi xao động, uể oải và biếng nhác.
77. The bowls of incense which the twenty-four elders offered are said to be the prayers of the saints. By a bowl should be understood friendship with God or perfect spiritual love, whereby prayer is energized in spirit and in truth. 77. Những chén hương mà hai mươi bốn kỳ lão dâng lên, được nói là “những lời cầu của các thánh.” Chén ở đây nên được hiểu là tình bạn với Thiên Chúa, hoặc là tình yêu thiêng liêng hoàn hảo, nhờ đó cầu nguyện được hoạt hoá trong Thần Khí và trong chân lý.
78. When you think that you do not need tears for your sins during prayer, reflect on this: you should always be in God, and yet you are still far from Him. Then you will weep with greater feeling. 78. Khi bạn nghĩ rằng mình không còn cần nước mắt ăn năn trong cầu nguyện, hãy suy gẫm điều này: bạn lẽ ra phải luôn ở trong Thiên Chúa, nhưng thực tế, bạn vẫn còn xa Ngài. Và nhờ đó, bạn sẽ khóc với lòng thống hối sâu xa hơn.
79. Surely, when you do realize where you are, you will gladly sorrow and, like Isaiah, will reproach yourself because, being unclean, and dwelling in the midst of an unclean people – that is, of enemies – you dare to stand before the Lord of hosts (cf. Isa. 6:5) 79. Khi bạn ý thức được mình đang ở đâu, bạn sẽ vui lòng buồn sầu, và như ngôn sứ Isaia, bạn sẽ trách chính mình rằng: “Khốn thân tôi, vì tôi là kẻ ô uế môi miệng, và tôi sống giữa một dân tộc ô uế; thế mà tôi dám đứng trước mặt Đức Chúa các đạo binh.” (x. Is 6,5)
80. If you pray truly, you will gain great assurance; angels will come to you as they came to Daniel, and they will illuminate you with knowledge of the inner essences of created things (cf. Dan. 2:19). 80. Nếu bạn cầu nguyện cách chân thật, bạn sẽ được đầy lòng tin tưởng; Các thiên thần sẽ đến với bạn như đã đến với Đanien, và họ sẽ soi sáng bạn bằng tri thức về các bản thể nội tại (logoi) của muôn vật (x. Đn 2:19).
81. Know that the holy angels encourage us to pray and stand beside us, rejoicing and praying for us (cf. Tobit 12:12). Therefore, if we are negligent and admit thoughts from the enemy, we greatly provoke the angels. For while they struggle hard on our behalf we do not even take the trouble to pray to God for ourselves, but we despise their services to us and, abandoning their Lord and God, we consort with unclean demons 81. Hãy biết rằng các thiên thần thánh thiện khuyến khích chúng ta cầu nguyện, và đứng bên cạnh chúng ta, vui mừng và cầu nguyện cho chúng ta (x. Tb 12,12). Vì thế, nếu ta biếng nhác và để cho tư tưởng của kẻ thù xâm nhập, ta gây xúc phạm lớn lao cho các thiên thần. Bởi trong khi họ ra sức chiến đấu vì ta, thì ta không thèm cầu nguyện cho chính mình, coi thường sự phục vụ của họ, và rời bỏ Chúa của họ, Thiên Chúa của chúng ta, để giao du với các thần ô uế.
82. Pray gently and calmly, sing with understanding and rhythm; then you will soar like a young eagle high in the heavens. 82. Hãy cầu nguyện cách hiền hoà và điềm tĩnh, hãy hát Thánh Vịnh với trí hiểu và tiết độ; bấy giờ bạn sẽ bay lên như đại bàng non, vút cao trong các tầng trời.
83. Psalmody calms the passions and curbs the uncontrolled impulses in the body; and prayer enables the intellect to activate its own energy. 83. Việc hát Thánh Vịnh làm dịu các đam mê và chế ngự những xung động không kiểm soát trong thân xác; Còn cầu nguyện giúp trí tuệ khơi dậy năng lực riêng của nó.
84. Prayer is the energy which accords with the dignity of the intellect; it is the intellect’s true and highest activity. 84. Cầu nguyện là năng lực hoạt động tương xứng với phẩm giá của trí tuệ; đó là hoạt động chân thật và cao cả nhất của trí tuệ.
85. Psalmody appertains to the wisdom of the world of multiplicity; prayer is the prelude to the immaterial knowledge of the One. 85. Hát Thánh Vịnh thuộc về minh triết của thế giới đa tạp; Còn cầu nguyện là khúc dạo đầu cho tri thức vô hình của Đấng Duy Nhất.
86. Spiritual knowledge has great beauty: it is the helpmate of prayer, awakening the noetic power of the intellect to contemplation of divine knowledge. 86. Tri thức thiêng liêng có vẻ đẹp cao quý tuyệt vời: nó là người bạn đồng hành của cầu nguyện, đánh thức năng lực thiêng liêng (noetic power) của trí tuệ để chiêm niệm tri thức thần linh.
87. If you have not yet received the gift of prayer or psalmody, persevere patiently and you will receive it. 87. Nếu bạn chưa nhận được ơn cầu nguyện hay ơn hát Thánh Vịnh, hãy kiên trì nhẫn nại, rồi bạn sẽ được lãnh nhận.
88. ‘And He spake a parable to them to this end, that men ought always to pray, and not to lose heart.’ So do not lose heart and despair because you have not yet received the gift of prayer. You will receive it later. In the same parable we read: ‘Though I do not fear God, or man’s opinion, yet because this widow troubles me, I will vindicate her.’ Similarly, God will speedily vindicate those who cry to Him day and night (cf. Luke 18:1-8). Take heart, then, and persevere diligently in holy prayer. 88. “Chúa Giêsu kể cho họ một dụ ngôn, để dạy rằng người ta phải luôn cầu nguyện, không được nản lòng.” (x.Lc 18:1) Vì thế, đừng nản chí hay thất vọng nếu bạn chưa nhận được ơn cầu nguyện. Bạn sẽ được nhận, nhưng sau này. Trong cùng dụ ngôn ấy, ta đọc thấy: “Dù ta không kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng nể người đời, nhưng vì bà go á này quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ minh oan cho bà.” (Lc 18:4–5) Cũng vậy, Thiên Chúa sẽ mau chóng bênh vực những ai kêu cầu Ngài ngày đêm. (Lc 18:7–8) Vậy hãy can đảm, và bền bỉ trong cầu nguyện thánh thiện.
89. You should wish for your affairs to turn out, not as you think best, but according to God’s will. Then you will be undisturbed and thankful in your prayer. 89. Bạn nên ước mong cho mọi việc xảy ra, không theo ý bạn, nhưng theo ý Thiên Chúa. Bấy giờ, bạn sẽ được bình an và biết ơn trong khi cầu nguyện.
90. Even if you think you are with God, be on your guard against the demon of unchastity. For he is very wily andjealous: he tries to outwit the activity and watchfulness of your intellect and to draw it away from God, when it stands before Him with reverence and fear. 90. Ngay cả khi bạn nghĩ rằng mình đang ở cùng Thiên Chúa, hãy tỉnh thức chống lại thần dâm ô (demon of unchastity). Vì hắn xảo quyệt và ghen tuông, hắn tìm cách đánh lừa hoạt động và sự cảnh giác của trí tuệ, và lôi kéo nó rời xa Thiên Chúa, ngay khi trí tuệ đang đứng trước Ngài trong kính sợ và run rẩy.
91. If you cultivate prayer, be ready for the attacks of demons and endure them resolutely; for they will come at you like wild beasts and maltreat your whole body 91. Nếu bạn chuyên tâm trau luyện cầu nguyện, hãy sẵn sàng đón nhận các cuộc tấn công của ma quỷ, và kiên vững chịu đựng, bởi vì chúng sẽ lao đến như thú dữ, và hành hạ toàn thân bạn.

92. Prepare yourself like an experienced fighter, and even if you see a sudden apparition do not be shaken; and should you see a sword drawn against you, or a torch thrust into your face, do not be alarmed. Should you see even some loathsome and bloody figure, do not panic; but stand fast, boldly affirming your faith, and you will

be more resolute in confronting your enemies

92. Hãy chuẩn bị như một chiến sĩ dày dạn kinh nghiệm. Ngay cả khi bạn thấy một hình bóng bất ngờ, đừng dao động. Nếu bạn thấy một thanh gươm rút ra chống lại mình, hay một ngọn đuốc chĩa thẳng vào mặt, đừng sợ hãi. Ngay cả khi bạn thấy một hình thù ghê tởm, đẫm máu, đừng hoảng loạn, nhưng hãy đứng vững, tuyên xưng mạnh mẽ đức tin, và bạn sẽ kiên cường hơn khi đối diện kẻ thù.
93. He who bears distress patiently will attain joy, and he who endures the repulsive will know delight. 93. Ai kiên nhẫn chịu đựng gian khổ sẽ đạt đến niềm vui. Ai bền lòng chịu đựng điều ghê tởm sẽ biết đến sự khoái lạc thiêng liêng.
94. Take care that the crafty demons do not deceive you with some vision; be on your guard, turn to prayer and ask God to show you if the intellection comes from Him and, if it does not, to dispel the illusion at once. Do not be afraid, for if you pray fervently to God, the demons will retreat, lashed by His unseen power. 94. Hãy cẩn thận, kẻo ma quỷ xảo quyệt đánh lừa bạn bằng một thị kiến. Hãy tỉnh thức, hướng lòng về cầu nguyện, và xin Thiên Chúa tỏ cho bạn biết liệu trí tưởng ấy có đến từ Ngài hay không; và nếu không, xin Ngài xoá tan ảo giác ấy ngay. Đừng sợ hãi, vì nếu bạn tha thiết cầu nguyện cùng Thiên Chúa, ma quỷ sẽ rút lui, bị quật ngã bởi quyền năng vô hình của Ngài.
95. You should be aware of this trick: at times the demons split into two groups; and when you call for help against one group, the other will come in the guise of angels and drive away the first, so that you are deceived into believing that they are truly angels. 95. Hãy biết đến mưu chước này của ma quỷ: đôi khi chúng chia thành hai phe. Khi bạn kêu cầu Chúa giúp chống lại phe này, phe kia sẽ đến, giả dạng các thiên thần, và xua đuổi nhóm đầu, để khiến bạn tưởng rằng chúng thật sự là các thiên thần.
96. Cultivate great humility and courage, and you will escape the power of the demons; ‘no plague shall come near your dwelling, for He shall give His angels charge over you’ (Ps. 91:10-11). And they will invisibly repel all the energy of the enemy

96.

Hãy trau dồi đức khiêm nhường sâu xa và lòng can đảm lớn lao, bạn sẽ thoát khỏi quyền lực của ma quỷ. “Sẽ chẳng có tai ương nào đến gần nhà ngươi, vì Người sẽ truyền cho các thiên thần của Người gìn giữ ngươi trên mọi nẻo đường.” (Tv 91,10–11) Và các thiên thần ấy sẽ âm thầm đẩy lui mọi năng lực của kẻ thù.

97. He who practices pure prayer will hear the demons crashing and banging, shouting and cursing; yet he will not be overwhelmed or go out of his mind. But he will say to God: ‘I will fear no evil, for Thou art with me’ (Ps.

23:4), and other words of this kind.

97. Ai thực hành cầu nguyện thuần khiết sẽ nghe tiếng ma quỷ gào thét, đập phá, nguyền rủa, nhưng không hề bị khuất phục hay điên loạn. Người ấy sẽ nói với Thiên Chúa: “Con sẽ chẳng sợ điều ác nào, vì Ngài ở cùng con.” (Tv 23,4) và những lời tương tự như thế.
98. At the time of such trials, use a brief but intense prayer. 98. Khi gặp thử thách như vậy, hãy dùng một lời cầu nguyện ngắn nhưng mãnh liệt.
99. If the demons suddenly threaten to appear out of the air, to make you panic and to take possession of your intellect, do not be frightened and pay no attention to their threats. For they are trying to terrify you, to see if you take notice of them or scorn them utterly. 99.Nếu ma quỷ bất chợt hiện ra trong không khí, đe doạ khiến bạn hoảng sợ và muốn chiếm đoạt trí tuệ bạn, đừng sợ, đừng để tâm đến lời hăm doạ của chúng. Vì chúng chỉ muốn thử xem bạn có để ý đến chúng hay khinh bỉ hoàn toàn chúng.
100. When you stand in prayer before God the Almighty, who created all things and takes thought for all, why are you so foolish as to forget the fear of God and to be scared of mosquitoes and cockroaches? Have you not heard it said, ‘You shall fear the Lord your God’ (Deut. 6:13); or again ‘Fear and dread shall fall upon them’ (Exod. 15:16)?

100. Khi bạn cầu nguyện trước mặt Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng đã tạo dựng muôn vật và chăm sóc mọi sự, tại sao bạn lại ngu xuẩn đến mức quên mất lòng kính sợ Thiên Chúa, và lại sợ muỗi hay gián? Bạn chưa nghe lời này sao: “Ngươi sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Đnl 6:13),

và: “Kinh hoàng và run rẩy sẽ bao phủ chúng” (Xh 15:16)?

101. Bread is food for the body and holiness is food for the soul; spiritual prayer is food for the intellect. 101. Bánh là lương thực cho thân xác, sự thánh thiện là lương thực cho linh hồn, và cầu nguyện thiêng liêng là lương thực cho trí tuệ.
102. When you are in the inner temple pray not as the Pharisee but as the publican, so that you too are set free by the Lord (cf. Luke 18:10-14). 102. Khi bạn đi vào đền thờ nội tâm, hãy cầu nguyện không như người Pharisiêu, nhưng như người thu thuế, để bạn cũng được Chúa giải thoát (x. Lc 18,10–14).
103. Try not to pray against anyone in your prayer, so that you do not destroy what you are building, and make your prayer loathsome. 103. Đừng cầu nguyện chống lại ai trong lời cầu nguyện của bạn, kẻo bạn phá hủy điều mình đang xây dựng, và khiến lời cầu nguyện trở nên ghê tởm.
104. Learn from the man who owed the ten thousand talents that, if you do not forgive your debtor, you yourself will not be forgiven. For it is said, ‘He delivered him to the tormentors’ (Matt. 18:34). 104. Hãy học từ người mắc nợ mười ngàn nén bạc, rằng nếu bạn không tha cho người mắc nợ mình, bạn cũng sẽ không được tha. Vì Kinh Thánh nói: “Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ.” (Mt 18,34)
105. Detach yourself from concern for the body when you pray: do not let the sting of a flea or a fly, the bite of a louse or a mosquito, deprive you of the fruits of your prayer. 105. Khi cầu nguyện, hãy tách mình khỏi mọi bận tâm về thân xác: đừng để một vết đốt của muỗi hay ruồi, hay một con chí hoặc bọ chích nhỏ bé, lấy mất hoa trái của lời cầu nguyện bạn.
106. We have heard that the evil one attacked a certain saint so fiercely as he prayed that, when the saint lifted up his hands, the evil one changed himself into a lion and raising his front legs fixed his claws into the saint’s thighs; and he kept them there until the saint lowered his hands, which was only when he had come to the end of his usual prayers. 106. Người ta kể rằng ma quỷ đã tấn công một vị thánh kia dữ dội trong khi ngài cầu nguyện, đến nỗi khi ngài giơ tay lên, tên ác quỷ biến thành hình một con sư tử, và chồm hai chân trước, cắm móng vuốt vào đùi ngài. Nó giữ nguyên như thế cho đến khi vị thánh hạ tay xuống, tức là chỉ sau khi đã kết thúc trọn vẹn giờ cầu nguyện hằng ngày của mình.
107. There is too the case of that great monk, John the Small. He lived the hesychastic life in a pit, and his communion with God was not interrupted even when a demon in the form of a serpent wound itself round him, chewed his flesh and spat it out into his face. 107. Cũng có câu chuyện về thánh Gioan Bé nhỏ (John the Small), một vị ẩn sĩ vĩ đại. Ngài sống đời tĩnh tâm trong một hầm sâu, và sự hiệp thông với Thiên Chúa của ngài không hề bị gián đoạn, ngay cả khi một con quỷ dưới hình rắn quấn quanh người ngài, cắn xé thịt ngài rồi nhổ vào mặt ngài.
108. You have surely read the lives of the monks of Tabennesis. When Abba Theodore was preaching to the brethren, two vipers crawled under his feet; but he calmly made an arch of his feet and let them stay there until he had finished his sermon. Then he showed the vipers to the brethren and told them what had happened. 108. Bạn hẳn đã đọc về các đan sĩ ở Tabennesi. Một lần, khi thánh Theodore đang giảng dạy cho anh em, hai con rắn bò đến nằm dưới chân ngài; nhưng ngài bình tĩnh cong bàn chân lên như làm vòm che, và để chúng ở đó cho đến khi giảng xong. Sau đó, ngài chỉ cho anh em thấy hai con rắn và kể lại điều vừa xảy ra.
109. We read how, when another spiritual brother was praying, a viper came and wound itself round his leg. But he did not lower his hands until he had finished all his usual prayers; and because he loved God more than himself, he was not harmed at all. 109. Chúng ta cũng đọc thấy rằng, khi một anh em khác đang cầu nguyện, một con rắn bò đến quấn quanh chân anh. Nhưng anh không hạ tay xuống cho đến khi đã đọc hết lời cầu nguyện hằng ngày. Và bởi vì anh yêu mến Thiên Chúa hơn chính bản thân mình, nên anh không hề bị thương tổn gì cả.
110. Do not let your eyes be distracted during prayer, but detach yourself from concern with body and soul, and givemall your attention to the intellect. 110. Đừng để đôi mắt bạn bị xao lãng trong khi cầu nguyện; hãy tách khỏi mọi bận tâm về thân xác và linh hồn, và hướng trọn tâm trí về trí tuệ.
111. Another saint living the hesychastic life in the desert was attacked, as he was praying, by demons who for two weeks tossed him like a ball in the air, catching him in his rush-mat. They were completely unsuccessful in distracting his mind from fiery prayer. 111. Một vị thánh khác, sống đời tĩnh lặng (hesychastic) giữa sa mạc, khi đang cầu nguyện thì bị ma quỷ tấn công dữ dội: chúng ném ngài lên không trung như ném một quả bóng, rồi bắt lại bằng tấm chiếu cỏ của ngài, và cứ thế trong suốt hai tuần lễ. Tuy vậy, chúng hoàn toàn thất bại vì không sao làm xao lãng được tâm trí của ngài khỏi ngọn lửa cầu nguyện.
112. When another monk was practicing inner prayer as he journeyed in the desert, two angels came and walked on either side of him. But he paid no heed to them, for he did not wish to lose what was better. He remembered the words of the Apostle: ‘Neither angels, nor principalities, nor powers . . . shall be able to separate us from the love of Christ* (Rom. 8: 38-39). 112. Một đan sĩ khác, khi đang thực hành cầu nguyện nội tâm trên đường đi giữa sa mạc, hai thiên thần đến và đi bên cạnh ngài, một bên phải, một bên trái. Nhưng ngài không chú ý đến họ, vì không muốn đánh mất điều tốt hơn. Ngài nhớ lời Thánh Phaolô Tông đồ: “Dù là thiên thần, dù là quyền lực hay uy thế nào, cũng không thể tách chúng ta khỏi tình yêu của Đức Kitô.” (Rm 8,38–39)
113. The monk becomes equal to the angels through prayer, because of his longing to ‘behold the face of the Fathern who is in heaven’ (cf. Matt. 18:10). 113. Người đan sĩ trở nên đồng hàng với các thiên thần qua cầu nguyện, bởi vì lòng người ấy khao khát được “chiêm ngắm dung nhan Cha trên trời.” (x. Mt 18,10)
114. Never try to see a form or shape during prayer. 114. Đừng bao giờ cố gắng nhìn thấy một hình dáng hay hình thể nào trong khi cầu nguyện.
115. Do not long to have a sensory image of angels or powers or Christ, for this would be madness: it would be to take a wolf as your shepherd and to worship your enemies, the demons. 115. Đừng khao khát có một hình ảnh cảm giác về các thiên thần, quyền lực, hay chính Đức Kitô, vì đó là điên rồ: ngươi sẽ lầm lẫn sói dữ làm người chăn, và thờ lạy kẻ thù của mình – tức là ma quỷ.
116. Self-esteem is the start of illusions in the intellect. Under its impulse, the intellect attempts to enclose the Deity in shapes and forms. 116. Tự cao (self-esteem) là nguồn khởi đầu của mọi ảo tưởng trong trí tuệ. Dưới sự thúc đẩy của nó, trí tuệ cố gắng giam hãm Thiên Chúa trong hình dạng và hình thể.
117. I shall say again what I have said elsewhere: blessed is the intellect that is completely free from forms during prayer. 117. Tôi xin lặp lại điều tôi đã nói ở nơi khác: Phúc thay cho trí tuệ hoàn toàn thoát khỏi mọi hình thể khi cầu nguyện.
118. Blessed is the intellect that, undistracted in its prayer, acquires an ever greater longing for God. 118. Phúc thay cho trí tuệ, khi cầu nguyện không bị xao lãng, và khơi dậy trong mình niềm khao khát ngày càng sâu hơn đối với Thiên Chúa.
119. Blessed is the intellect that during prayer is free from materiality and stripped of all possessions. 119. Phúc thay cho trí tuệ, khi trong cầu nguyện được giải thoát khỏi vật chất và trút bỏ mọi sở hữu.
120. Blessed is the intellect that has acquired complete freedom from sensations during prayer. 120. Phúc thay cho trí tuệ, khi trong cầu nguyện đạt tới tự do hoàn toàn khỏi mọi cảm giác.
121. Blessed is the monk who regards every man as God after God. 121.Phúc thay cho người đan sĩ, thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi con người, sau chính Thiên Chúa.
122. Blessed is the monk who looks with great joy on everyone’s salvation and progress as if they were his own. 122. Phúc thay cho người đan sĩ, kẻ vui mừng khôn xiết trước ơn cứu độ và sự thăng tiến của mọi người, như thể đó là của chính mình.
123. Blessed is the monk who regards himself as ‘the off-scouring of all things’ (1 Cor. 4:13). 123. Phúc thay cho người đan sĩ, kẻ xem mình như “rác rưởi của vạn vật.” (1 Cr 4,13)
124. A monk is one who is separated from all and united with all. 124.Người đan sĩ là người tách mình khỏi tất cả, nhưng lại hợp nhất với tất cả.
125. A monk is one who regards himself as linked with every man, through always seeing himself in each. 125. Người đan sĩ là người xem mình gắn bó với mọi người, vì luôn nhìn thấy chính mình nơi mỗi người khác.
126. The man who always dedicates his first thoughts to God has perfect prayer. 126. Người luôn dâng những tư tưởng đầu tiên của mình cho Thiên Chúa là người có lời cầu nguyện hoàn hảo.
127. If you want to pray as a monk, shun all lies and take no oath. Otherwise you vainly pretend to be what you are not. 127. Nếu bạn muốn cầu nguyện như một đan sĩ, hãy xa lánh mọi gian dối và đừng thề thốt điều gì. Bằng không, bạn chỉ giả vờ là điều mà bạn chưa phải.
128. If you wish to pray in spirit, be detached from the flesh, and no cloud will darken you during prayer. 128. Nếu bạn muốn cầu nguyện trong Thần Khí, hãy tách mình khỏi xác thịt, và không một đám mây nào sẽ che tối bạn trong khi cầu nguyện.
129. Entrust to God the needs of your body, and it will be clear that you entrust to Him the needs of your spirit also. 129. Hãy phó thác cho Thiên Chúa mọi nhu cầu của thân xác, và như thế sẽ hiển lộ rằng bạn cũng phó thác cho Ngài mọi nhu cầu của linh hồn.
130. If you receive what has been promised, you will reign over all things; and, keeping these promises in mind, you will gladly endure your present poverty, spiritual and material. 130. Nếu bạn nhận được điều đã được hứa, bạn sẽ làm chủ trên muôn vật; và khi ghi nhớ những lời hứa ấy, bạn sẽ vui lòng chịu đựng cảnh nghèo khó hiện tại – dù là nghèo khó thiêng liêng hay vật chất.
131. Do not shun poverty and affliction, the fuel that gives wings to prayer. 131. Đừng trốn tránh nghèo khó và gian khổ, vì chính chúng là nhiên liệu thắp cánh cho lời cầu nguyện.
132. Let the virtues of the body lead you to those of the soul; and the virtues of the soul to those of the spirit; and these, in turn, to immaterial and principial knowledge. 132. Hãy để các nhân đức của thân xác dẫn bạn đến các nhân đức của linh hồn; và nhân đức của linh hồn dẫn bạn đến các nhân đức của thần trí; rồi những nhân đức này lại dẫn bạn đến tri thức vô hình và nguyên thủy.
133. If you are praying to overcome some thought, and it subsides easily, examine carefully how this has come about; otherwise you may be deluded into attributing the cause to yourself. 133. Nếu bạn cầu nguyện để chiến thắng một ý nghĩ xấu, và nó tan biến dễ dàng, hãy xét kỹ xem điều đó xảy ra thế nào; bằng không, bạn có thể bị lừa mà tưởng rằng công lao ấy là của chính mình.
134. There are times when the demons suggest thoughts to you and then urge you to rebut them with prayer; whereupon they withdraw of their own accord, so as to deceive you into imagining that you have begun to overcome such thoughts and to rout the demons. 134. Có khi các ma quỷ gợi lên trong bạn những ý nghĩ, rồi lại thúc giục bạn phản kháng chúng bằng cầu nguyện; rồi sau đó, chúng tự ý rút lui, để lừa bạn tưởng rằng mình đã bắt đầu chiến thắng các ý nghĩ ấy và đánh bại chúng.
135. If you pray to overcome a passion or a demon who is troubling you, remember the words: ‘I will pursue my enemies, and overtake them; and I will not turn back until they are consumed. I will dash them to pieces and they shall not be able to stand: they shall fall under my feet’ (Ps. 18:37-38. LXX). Say this when needed and so arm yourself with humility against your enemies. 135. Nếu bạn cầu nguyện để vượt thắng một đam mê hay một ma quỷ đang quấy rầy bạn, hãy nhớ lời này:“Con sẽ đuổi theo kẻ thù, bắt kịp chúng, và không quay lại cho đến khi chúng bị tiêu diệt. Con sẽ nghiền nát chúng, chúng không thể đứng vững; chúng sẽ ngã dưới chân con.” (Tv 18,37–38, bản LXX) Hãy đọc những lời này khi cần, và lấy lòng khiêm nhường mà tự vũ trang chống lại kẻ thù.
136. Do not think that you have acquired holiness unless you have reached the point of shedding your blood to attain it. For, according to the Apostle, we must battle unremittingly against sin even if it means death (cf. Eph. 6:11-17; Heb. 12:4). 136. Đừng tưởng rằng bạn đã đạt được sự thánh thiện, nếu bạn chưa sẵn sàng đổ máu để đạt được nó. Vì, theo lời Thánh Phaolô Tông Đồ, chúng ta phải chiến đấu không ngừng chống lại tội lỗi, dù có phải chết vì điều đó. (x. Ep 6,11–17; Hr 12,4)
137. If you do good to one person, you may be wronged by another and so feel injured, and say or do something stupid, thus dissipating by your bad action what you gained by your good action. This is just what the demons want; so always be attentive. 137. Khi bạn làm điều tốt cho một người, có thể bạn sẽ bị kẻ khác xúc phạm, và vì cảm thấy bị tổn thương, bạn nói hay làm điều ngu dại, khiến hành động xấu ấy làm tan biến công đức của hành động tốt. Chính đó là điều ma quỷ mong muốn, vì thế, hãy luôn cảnh giác.
138. Be ready for the attacks of the demons, and think how to avoid becoming their slave. 138. Hãy sẵn sàng trước các cuộc tấn công của ma quỷ, và suy xét kỹ lưỡng để khỏi trở thành nô lệ của chúng.
139. At night the cunning demons try to disturb the spiritual teacher by direct attack; in the daytime, they attack him through other people, besieging him with slander, distraction and danger. 139. Ban đêm, lũ ma quỷ xảo quyệt tìm cách tấn công trực tiếp vào người hướng dẫn thiêng liêng; ban ngày, chúng tấn công qua trung gian của người khác, bao vây người ấy bằng lời gièm pha, phân tâm và hiểm nguy.
140. Do not try to avoid the fullers. Let them beat, trample, stretch and smooth; and your garments will be all the brighter. 140. Đừng tìm cách tránh khỏi tay những người thợ giặt vải. Hãy để họ đập, giẫm, kéo giãn và vuốt phẳng bạn; và y phục của bạn sẽ trở nên sáng rỡ hơn.
141. So long as you have not renounced the passions, and your intellect is still opposed to holiness and truth, you will not find the fragrance of incense in your breast. 141. Bao lâu bạn chưa từ bỏ các đam mê, và trí năng của bạn vẫn còn chống nghịch lại sự thánh thiện và chân lý, bấy lâu bạn sẽ không tìm thấy hương thơm của trầm hương trong lòng mình.
142. Do you have a longing for prayer? Then leave the things of this world and live your life in heaven, not just theoretically but in angelic action and godlike knowledge. 142. Bạn có khao khát cầu nguyện không? Vậy hãy từ bỏ những sự đời này, và hãy sống đời bạn trên trời — không chỉ trong ý tưởng, mà bằng hành động thiên thần và tri thức giống Thiên Chúa.
143. If it is only in times of adversity that you remember the Judge and how awe-inspiring and impartial He is, you have not yet learned ‘to serve the Lord with fear and rejoice in Him with trembling’ (Ps. 2:11). For even in a state of spiritual peace and blessedness you should still worship Him with reverence and awe. 143. Nếu chỉ khi gặp nghịch cảnh bạn mới nhớ đến Đấng Thẩm Phán, và nhớ đến quyền năng và sự công minh đáng sợ của Ngài, thì bạn vẫn chưa học được “phục vụ Đức Chúa với lòng kính sợ và vui mừng trong run rẩy” (Tv 2,11). Vì ngay cả khi đang ở trong bình an thiêng liêng và hạnh phúc, bạn vẫn phải thờ lạy Ngài với lòng tôn kính và kinh hãi.
144. Until a man is completely changed by repentance, he will be wise always to remember his sins with sorrow and to recall the eternal fire which they justly deserve. 144. Cho đến khi con người được hoàn toàn biến đổi bởi lòng sám hối, hắn phải khôn ngoan mà luôn ghi nhớ tội lỗi mình với tâm hồn sầu khổ, và nhớ đến ngọn lửa đời đời mà tội lỗi ấy đáng phải chịu.
145. If a man, still enmeshed in sin and anger, dares shamelessly to reach out for knowledge of divine things, oreven to embark upon immaterial prayer, he deserves the rebuke given by the Apostle; for it is dangerous for himto pray with head ba re and uncovered. Such a soul, he says, ought ‘to have a veil on her head because of the angels’ who are present (cf. 1 Cor. 11:5-7), and to be clothed in due reverence and humility. 145. Nếu một người, còn vướng trong tội lỗi và giận dữ, lại cả gan dang tay tìm kiếm tri thức về những điều thần linh, hay dám khởi sự cầu nguyện vô hình, thì người ấy đáng nhận lời quở trách của Tông Đồ. Bởi vì, thật nguy hiểm cho kẻ ấy khi cầu nguyện với đầu trần, không được che phủ. Bởi vậy, người nữ – tức là linh hồn – nên trùm khăn lên đầu mình vì các thiên thần hiện diện (x. 1 Cr 11:5–7), và hãy khoác lên mình áo choàng của lòng tôn kính và khiêm nhu.
146. Just as persistent staring at the sun in its noonday brilliance will not cure a man suffering from ophthalmia, so the counterfeit practice of fearful and supernal prayer – which is properly to be performed in spirit and in truth – will in no way benefit an intellect that is passionate and impure; on the contrary, such practice will provoke the wrath of God against the intellect. 146. Cũng như việc nhìn chằm chằm vào mặt trời giữa trưa không thể chữa được bệnh đau mắt, thì việc thực hành giả tạo loại cầu nguyện thiêng liêng và đáng sợ trên trời — đáng lẽ phải được thực hiện “trong thần khí và trong chân lý” — sẽ chẳng mang lại ích lợi nào cho một trí năng còn đầy đam mê và ô uế; ngược lại, nó sẽ khiến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa giáng xuống trên trí năng ấy.
147. If He who is in want of nothing and shows no favors did not receive the man coming with a gift to the altar until he was reconciled with his neighbor who had something against him (cf. Matt. 5:23-24), consider how much we must be on guard and use discrimination if we are to offer at the spiritual altar incense that is acceptable to God. 147. Nếu Đấng không cần gì và không thiên vị ai đã không chấp nhận người mang lễ vật đến bàn thờ, cho đến khi người ấy làm hoà với kẻ đang oán mình (x. Mt 5,23–24), thì hãy nghĩ xem chúng ta phải thận trọng và phân định biết bao khi muốn dâng trên bàn thờ thiêng liêng “hương trầm” được Thiên Chúa chấp nhận.
148. Do not delight in words or in glory. Otherwise the demons will no longer work behind your back, but openly before your face; and they will laugh you to scorn during prayer, drawing you away and enticing you into strange thoughts. 148. Đừng vui thích trong lời nói hay trong vinh quang. Bằng không, ma quỷ sẽ không còn hành động lén sau lưng bạn, mà sẽ đứng ngay trước mặt bạn và nhạo báng bạn trong lúc cầu nguyện, lôi kéo bạn và quyến dụ bạn vào những tư tưởng xa lạ.
149. If you seek prayer attentively you will find it; for nothing is more essential to prayer than attentiveness. So do all you can to acquire it. 149. Nếu bạn tìm kiếm lời cầu nguyện với sự chú tâm, bạn sẽ tìm thấy nó; bởi vì không có gì cần thiết cho cầu nguyện hơn là sự chú tâm. Vậy hãy làm mọi điều có thể để đạt được nó.
150. As sight is superior to all the other senses, so prayer is more divine than all the other virtues. 150. Cũng như thị giác vượt trội hơn mọi giác quan, cầu nguyện cũng thần linh hơn mọi nhân đức khác.
151. The value of prayer lies not in mere quantity but in its quality. This is shown by the contrast of the two men who went up into the temple (cf. Luke 18:10), and by the injunction: ‘When you pray, do not use vain repetitions’ (Matt. 6:7). 151. Giá trị của cầu nguyện không nằm ở số lượng, mà ở phẩm chất. Điều này được chứng minh qua hình ảnh hai người lên đền thờ (x. Lc 18,10) và qua lời dạy: “Khi cầu nguyện, đừng lặp lại những lời vô ích.” (Mt 6,7)
152. So long as you give attention to the beauty of the body, and your intellect delights in the outside of the tabernacle, you have not yet perceived the realm of prayer and are still far from treading its blessed path. 152. Bao lâu bạn còn để ý đến vẻ đẹp của thân xác, và trí năng bạn còn say mê vẻ ngoài của Đền Thờ, thì bạn vẫn chưa nhận ra vương quốc của cầu nguyện, và vẫn còn xa lắm mới bước lên con đường diễm phúc của nó.
153. If when praying no other joy can attract you, then truly you have found prayer. 153. Nếu trong khi cầu nguyện, không niềm vui nào khác có thể quyến rũ được bạn, thì thật sự, bạn đã tìm thấy cầu nguyện.