St John Cassian
On the Eight Vices
Written for Bishop Kastor
(Philokalia, Vol.1, pp 73-93)
Thánh Gioan Cassianô
Về Tám Mối Tật Xấu
Viết cho Đức Giám Mục Kastor
(Philokalia, Vol.1, pp 73-93)
Having composed the treatise on coenobitic institutions, I am now once more encouraged by your prayers to attempt to write something about the eight vices: gluttony, unchastity, avarice, anger, dejection, listlessness, selfesteem and pride.
Sau khi tôi đã soạn xong luận thuyết về đời sống tu viện cộng đoàn (coenobitic institutions), giờ đây, được lời cầu nguyện của ngài khích lệ và nâng đỡ, tôi lại được thúc đẩy để viết đôi điều về tám mối tội căn bản, đó là: háu ăn, ô uế, tham lam, giận dữ, buồn sầu, uể oải, tự tôn và kiêu ngạo.
On Control of the Stomach
(Philokalia, Vol1.1, pp 74)
Về Sự Tiết Chế Trong Việc Ăn Uống
(Trích Philokalia, Quyển I, trang 74)
I shall speak first about control of the stomach, the opposite to gluttony, and about how to fast and what and how much to eat. I shall say nothing on my own account, but only what I have received from the Holy Fathers. They have not given us only a single rule for fasting or a single standard and measure for eating, because not everyone has the same strength; age, illness or delicacy of body create differences. But they have given us all a single goal: to avoid over-eating and the filling of our bellies. They also found a day’s fast to be more beneficial and a greater help toward purity than one extending over a period of three, four, or even seven days. Someone who fasts for too long, they say, often ends up by eating too much food. The result is that at times the body becomes enervated through undue lack of food and sluggish over its spiritual exercises, while at other times, weighed down by the mass of food it has eaten, itmakes the soul listless and slack.
Trước hết, tôi sẽ nói về sự chế ngự dạ dày, là điều trái ngược với tội tham ăn, và bàn về cách ăn chay, cũng như điều gì và bao nhiêu nên ăn. Tôi sẽ không nói điều gì do ý riêng mình, nhưng chỉ truyền lại những gì tôi đã lãnh nhận từ các Thánh Phụ. Các ngài không truyền cho chúng ta một quy luật duy nhất về việc ăn chay, cũng không đặt ra một chuẩn mực cố định về lượng ăn, bởi vì không phải ai cũng có cùng sức mạnh thể xác. Tuổi tác, bệnh tật hay thể chất yếu đuối tạo nên những khác biệt. Tuy nhiên, các Thánh Phụ đã trao cho chúng ta một mục tiêu duy nhất: tránh ăn uống quá độ và đừng để bụng mình đầy tràn. Các ngài cũng nhận thấy rằng việc ăn chay một ngày có thể mang lại lợi ích lớn hơn và giúp thanh luyện tâm hồn hữu hiệu hơn là những cuộc chay kéo dài ba, bốn hay bảy ngày. Bởi vì, ai ăn chay quá lâu thường sẽ kết thúc bằng việc ăn quá nhiều. Hậu quả là thân xác đôi khi trở nên kiệt quệ vì thiếu dưỡng chất, khiến tâm hồn trì trệ trong các việc thiêng liêng; ngược lại, khi ăn quá no, thân xác lại làm cho linh hồn ra uể oải và nặng nề.
They also found that the eating of greens or pulse did not agree with everyone, and that not everyone could live on dry bread. One man, they said, could eat two pounds of dry bread and still be hungry, while another might eat a pound, or only six ounces, and be satisfied. As I said, the Fathers have handed down a single basic rule of self-control: ‘do not be deceived by the filling of the belly’ (Prov. 24:15. LXX), or be led astray by the pleasure of the palate. It is not only the variety of foodstuffs that kindles the fiery darts of unchastity, but also their quantity. Whatever the kind of food with which it is filled, the belly engenders the seed of profligacy. It is not only too much wine that besots our mind: too much water or too much of anything makes it drowsy and stupefied. The Sodomites were destroyed not because of too much wine or too much of other foods, but because of a surfeit of bread, as the Prophet tells us (cf. Ezek. 16:49).
Các ngài cũng nhận thấy rằng việc ăn rau hay đậu không thích hợp với mọi người, và không phải ai cũng có thể sống chỉ với bánh khô. Có người, theo lời các ngài, ăn hai cân bánh khô mà vẫn còn đói, trong khi người khác chỉ ăn một cân, hay nửa cân (sáu lạng) là đã cảm thấy no đủ. Như tôi đã nói, các Thánh Phụ đã truyền lại cho chúng ta một quy tắc duy nhất về sự tiết độ, đó là: “Đừng để bị lừa dối bởi việc làm no đầy dạ dày” (Cn 24:15, Bản LXX), cũng đừng bị dẫn dụ bởi khoái lạc của vị giác. Không chỉ sự đa dạng của món ăn mới châm ngòi cho mũi tên lửa của tội ô uế, mà chính số lượng quá mức cũng gây ra điều ấy. Bất kể ăn loại thực phẩm nào, khi bụng đầy, nó sẽ sinh ra mầm mống của sự phóng túng. Không chỉ rượu quá độ mới làm mê muội trí óc ta; ngay cả nước uống quá nhiều, hay bất cứ thứ gì dùng quá mức, cũng làm cho tâm trí mờ mịt và lười biếng. Người dân Sôđôma đã bị hủy diệt không phải vì uống nhiều rượu hay vì thức ăn lạ, mà là vì đã ăn quá no nê bánh mì, như ngôn sứ Êdêkien đã nói (x. Ed 16,49).
Bodily illness is not an obstacle to purity of heart, provided we give the body what its illness requires, not what gratifies our desire for pleasure. Food is to be taken in so far as it supports our life, but not to the extent of enslaving us to the impulses of desire. To eat moderately and reasonably is to keep the body in health, not to deprive it of holiness.
Bệnh tật thể xác không phải là chướng ngại cho sự trong sạch của tâm hồn, miễn là ta cung cấp cho thân xác những gì nó cần thiết cho bệnh tình, chứ không phải những gì thoả mãn đam mê khoái lạc. Thực phẩm được dùng để duy trì sự sống, chứ không phải để nô lệ cho dục vọng. Ăn uống có chừng mực và điều độ là giữ thân thể mạnh khỏe, chứ không phải tước mất sự thánh thiện của nó.
A clear rule for self-control handed down by the Fathers is this: stop eating while still hungry and do not continue until you are satisfied. When the Apostle said, ‘Make no provision to fulfill the desires of the flesh’ (Rom. 13:14), he was not forbidding us to provide for the needs of life; he was warning us against self-indulgence. Moreover, by itself abstinence from food does not contribute to perfect purity of soul unless the other virtues are active as well. Humility, for example, practiced through obedience in our work and through bodily hardship, is a great help. If we avoid avarice not only by having no money, but also by not wanting to have any, this leads us towards purity of soul. Freedom from anger, from dejection, self-esteem and pride also contributes to purity of soul in general, while self-control and fasting are especially important for bringing about that specific purity of soul which comes through restraint and moderation. No one whose stomach is full can fight mentally against the demon of unchastity. Our initial struggle therefore must be to gain control of our stomach and to bring our body into subjection not only through fasting but also through vigils, labors and spiritual, reading, and through concentrating our heart on fear of Gehenna and on longing for the kingdom of heaven.
Một quy tắc rõ ràng về tiết độ mà các Thánh Phụ đã lưu truyền là: “Hãy ngừng ăn khi còn thấy đói, và đừng tiếp tục cho đến khi thật sự no.” Khi Thánh Phaolô Tông đồ dạy rằng: “Đừng lo toan thoả mãn những dục vọng của xác thịt” (Rm 13,14), ngài không cấm chúng ta chăm lo cho nhu cầu sinh tồn, nhưng cảnh báo chúng ta về tính tự nuông chiều. Tuy nhiên, việc kiêng ăn tự thân nó không đủ để đạt đến sự thanh khiết trọn hảo của linh hồn, nếu các nhân đức khác không cùng được thực hành. Chẳng hạn, đức khiêm nhường, được rèn luyện qua vâng phục và lao nhọc thể xác, là một trợ lực lớn lao. Nếu ta xa lánh lòng tham, không chỉ bằng việc không giữ tiền của, mà còn không ham muốn có, thì ta được dẫn đến sự tinh sạch của linh hồn. Thoát khỏi cơn giận, khỏi buồn sầu, khỏi tự tôn và kiêu ngạo cũng giúp thanh luyện tâm hồn. Nhưng sự tiết độ và việc ăn chay lại có tầm quan trọng đặc biệt, vì chúng sinh ra sự thanh sạch đặc biệt nơi linh hồn, nhờ kiềm chế và điều hoà bản năng. Không ai có thể chiến đấu cách tinh thần chống lại ma quỷ của tội ô uế khi bụng mình còn đầy. Bởi vậy, cuộc chiến đầu tiên của ta phải là chế ngự dạ dày, đưa thân xác vào khuôn phép, không chỉ bằng ăn chay, mà còn bằng canh thức, lao động, đọc sách thiêng liêng, và nhất là bằng tâm hồn chuyên chú vào nỗi sợ hoả ngục cùng niềm khát khao Nước Trời.
St John Cassian
On the Eight Vices
On the Demon of Unchastity and the Desire of the Flesh
[V1] 75-77
Thánh Gioan Cassianô
Tám Mối Tật Xấu –
Về Quỷ Thần Dâm Dục và Dục Vọng Xác Thịt
(Philokalia, Quyển I, trang 75–77)
Our second struggle is against the demon of unchastity and the desire of the flesh, a desire which begins to trouble man from the time of his youth. This harsh struggle has to be fought in both soul and body, and not simply in the soul, as is the case with other faults. We therefore have to fight it on two fronts.
Cuộc chiến thứ hai của chúng ta là chống lại ma quỷ của tội ô uế và dục vọng xác thịt — một dục vọng bắt đầu quấy nhiễu con người ngay từ thời niên thiếu. Đây là một cuộc chiến khốc liệt, phải chiến đấu cả trong linh hồn lẫn thân xác, chứ không chỉ trong linh hồn như các tội lỗi khác; vì thế, ta phải chiến đấu trên hai mặt trận.
Bodily fasting alone is not enough to bring about perfect self-restraint and true purity; it must be accompanied by contrition of heart, intense prayer to God, frequent meditation on the Scriptures, toil and manual labor. These are able to check the restless impulses of the soul and to recall it from its shameful fantasies. Humility of soul helps more than everything else, however, and without it no one can overcome unchastity or any other sin. In the first place, then, we must take the utmost care to guard the heart from base thoughts, for, according to the Lord, ‘out of the heart proceed evil thoughts, murders, adulteries, unchastity’ and so on (Matt.15:19).
Việc ăn chay thể xác tự nó không đủ để đạt được sự tiết độ hoàn hảo và tâm hồn thanh khiết chân thật; nó phải được đi kèm với tâm hồn thống hối, lời cầu nguyện nồng nhiệt, việc suy niệm thường xuyên Thánh Kinh, cùng với lao động chân tay cần mẫn. Chính những điều này kiềm chế được các xung động bất an của linh hồn và kéo nó trở về khỏi những hình ảnh ô nhục mà tưởng tượng phóng túng tạo ra. Tuy nhiên, khiêm nhường trong tâm hồn là ơn trợ giúp lớn lao hơn hết, vì không ai có thể chiến thắng tội ô uế hay bất cứ tội nào khác nếu không có khiêm nhường. Trước hết, ta phải canh giữ tâm hồn khỏi những tư tưởng hạ tiện, bởi như Chúa đã phán: “Từ trong lòng người phát sinh những tư tưởng gian ác, giết người, ngoại tình, ô uế…” (x. Mt 15,19).
We are told to fast not only to mortify our body, but also to keep our intellect watchful, so that it will not be obscured because of the amount of food we have eaten and thus be unable to guard its thoughts. We must not therefore expend all our effort in bodily fasting; we must also give attention to our thoughts and to spiritual meditation, since otherwise we will not be able to advance to the heights of true purity and chastity. As our Lord has said, we should ‘cleanse first the inside of the cup and plate, so that their outside may also be clean’ (Matt. 23:26).
Chúng ta ăn chay không chỉ để khổ chế thân xác, mà còn để giữ cho trí tuệ được tỉnh thức, hầu nó không bị che mờ bởi sự no nê, khiến không thể canh giữ tư tưởng mình. Vì thế, ta đừng dồn hết sức vào việc ăn chay thể xác, mà còn phải chăm lo cho tư tưởng và việc suy niệm thiêng liêng, nếu không, ta sẽ không thể tiến lên đỉnh cao của sự thanh khiết chân thật. Chính Chúa đã dạy: “Hãy rửa sạch bên trong chén và đĩa, để bên ngoài cũng được sạch” (Mt 23,26).
If we are really eager, as the Apostle puts it, to ‘struggle lawfully’ and to ‘be crowned’ (2 Tim. 2:5) for overcoming the impure spirit of unchastity, we should not trust in our own strength arid ascetic practice, but in the help of our Master, God. No one ceases to be attacked by this demon until he truly believes that he will be healed and reach the heights of purity not through his own effort and labor, but through the aid and protection of God. For such a victory is beyond man’s natural powers. Indeed, he who has trampled down the pleasures and provocations of the flesh is in a certain sense outside the body. Thus, no one can soar to this high and heavenly prize of holiness on his own wings and learn to imitate the angels, unless the grace of God leads him upwards from this earthly mire.
Nếu ta thật lòng muốn, như Thánh Tông đồ nói, “chiến đấu cách chính đáng để được triều thiên vinh quang” (2 Tm 2,5) trong việc chiến thắng thần ô uế, thì ta không nên tin vào sức riêng hay khổ hạnh của mình, mà phải cậy trông vào sự trợ giúp của Thiên Chúa, Vị Thầy của chúng ta. Không ai thoát khỏi sự tấn công của ma quỷ này cho đến khi người ấy thực sự tin rằng mình sẽ được chữa lành và đạt tới đỉnh cao của sự thanh khiết không nhờ công sức riêng, nhưng nhờ ơn phù trợ của Thiên Chúa. Bởi thắng lợi này vượt ngoài khả năng tự nhiên của con người; thật vậy, ai đã dày đạp khoái lạc xác thịt dưới chân mình, thì ở một nghĩa nào đó, người ấy đã vượt ra khỏi thân xác. Không ai có thể đạt đến phần thưởng thánh thiện cao siêu và thiên giới này bằng đôi cánh riêng của mình, cũng không thể bắt chước các thiên thần, nếu ân sủng Thiên Chúa không nâng họ lên khỏi bùn đất trần gian.
No virtue makes flesh-bound man so like a spiritual angel as does self-restraint, for it enables those still living on earth to become, as the Apostle says, ‘citizens of heaven’ (cf. Phil. 3:20). A sign that we have acquired this virtue perfectly is that our soul ignores those images which the defiled fantasy produces during sleep; for even if the production of such images is not a sin, nevertheless it is a sign that the soul is ill and has not been freed from passion. We should therefore regard the defiled fantasies that arise in us during sleep as the proof of previous indolence and weakness still existing a us; since the emission which takes place while we are relaxed in sleep reveals the sickness that lies hidden in our souls. Because of this the Doctor of our souls has also placed the remedy in the hidden regions of the soul, recognizing that the cause of our sickness lies there when He says: ‘Whoever looks at a woman with lust has already committed adultery with her in his heart’ (Matt. 5:28). He seeks to correct not so much our inquisitive and unchaste eyes as the soul which has its seat within and makes bad use of the eyes which God gave it for good purposes. That is why the Book of Proverbs in its wisdom does not say: ‘Guard your eyes with all diligence’ but ‘Guard your heart with all diligence’ (Prov. 4:23), imposing the remedy of diligence in the first instance upon that which makes use of the eyes for whatever purpose it desires.
Không một nhân đức nào khiến con người mang xác phàm trở nên giống các thiên thần thiêng liêng cho bằng đức tiết độ, vì nhờ đó, những kẻ còn sống trên trần gian có thể trở nên, như lời Tông đồ nói: “Công dân của Nước Trời” (Pl 3,20). Dấu hiệu cho thấy ta đã đạt đến nhân đức này cách hoàn hảo là linh hồn không còn bị xao động bởi những hình ảnh ô uế trong giấc mơ; bởi dù những hình ảnh ấy không tự nó là tội, nhưng chứng tỏ linh hồn vẫn còn bệnh tật, chưa được giải thoát khỏi đam mê. Do đó, những tưởng tượng ô uế trong giấc ngủ phải được xem như bằng chứng của sự lười biếng và yếu đuối còn tồn tại trong ta; vì những phóng xuất xảy ra khi ta mê ngủ chỉ phơi bày căn bệnh ẩn sâu trong linh hồn. Vì thế, Thầy Thuốc của linh hồn chúng ta, biết rõ căn nguyên của bệnh nằm nơi nội tâm, đã đặt thuốc chữa ở ngay nơi ấy, khi Người phán: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì đã ngoại tình với nàng trong lòng rồi” (Mt 5,28). Người muốn chữa lành không phải chỉ đôi mắt dâm đãng, mà chính tâm hồn — vốn lạm dụng đôi mắt mà Thiên Chúa ban cho để chiêm ngưỡng điều thiện hảo. Bởi vậy, Sách Châm ngôn dạy cách khôn ngoan: “Hãy hết lòng gìn giữ con tim” (Cn 4,23), chứ không nói: ‘hãy gìn giữ đôi mắt’, vì nguồn gốc của tội lỗi nằm nơi tâm hồn, vốn điều khiển con mắt để phục vụ dục vọng của nó.
The way to keep guard over our heart is immediately to expel from the mind every demon-inspired recollection of women – even of mother or sister or any other devout woman – lest by dwelling on it for too long the mind is thrown headlong by the deceiver into debased and pernicious thoughts. The commandment given by God to the first man, Adam, told him to keep watch over the head of the serpent (cf. Gen. 3:15. LXX), that is, over the first inklings of the pernicious thoughts by means of which the serpent tries to creep into our souls. If we do not admit the serpent’s head, which is the provocation of the thought, we will not admit the rest of its body – that is, the assent* to the sensual pleasure which the thought suggests – and so debase the mind towards the illicit act itself.
Cách giữ gìn tâm hồn là lập tức xua đuổi khỏi trí nhớ mọi hình ảnh hay ý nghĩ về phụ nữ, dù là mẹ, chị em ruột hay phụ nữ đạo đức, kẻo kẻ lừa dối lợi dụng sự nán lại của tư tưởng mà xô tâm trí vào cơn mê đắm và suy tưởng hạ tiện. Lệnh truyền đầu tiên Thiên Chúa ban cho Ađam, là canh giữ đầu của con rắn (x. St 3,15, Bản LXX) — nghĩa là canh giữ ngay những khởi điểm nhỏ bé của ý tưởng xấu xa, nhờ đó con rắn cố tìm đường chui vào linh hồn ta. Nếu ta không cho phép đầu con rắn — tức là sự khởi gợi của ý tưởng — lọt vào, thì ta sẽ không cho phép thân nó — tức là sự đồng thuận với khoái lạc xác thịt — tiến vào, và như thế sẽ tránh khỏi hành động tội lỗi chính nó.
As it is written, we should ‘early in the morning destroy all the wicked of the earth’ (Ps. 101:8), distinguishing in the light of divine knowledge’ our sinful thoughts and then eradicating them completely from the earth – our hearts – in accordance with the teaching of the Lord. While the-children of Babylon – by which I mean our wicked thoughts – are still young, we should dash them to the ground and crush them against the rock, which is Christ (cf. Ps. 137:9; 1 Cor. 16:4). If these thoughts grow stronger because we assent to them, we will not be able to overcome them without much pain and labor.
Như lời Thánh Vịnh dạy: “Mỗi buổi mai con lại diệt trừ cho hết phường ác nhân trong xứ sở, hầu quét sạch khỏi thành đô CHÚA bọn làm điều ác, chẳng sót một tên.” (Tv 101,8), tức là phân định nhờ ánh sáng của tri thức thần linh những tư tưởng tội lỗi, rồi nhổ tận gốc khỏi mặt đất — tức khỏi lòng ta. Những “con cái Babylon”, nghĩa là những tư tưởng xấu xa, khi còn nhỏ, ta phải đập chúng xuống đất và nghiền nát chúng trên tảng đá là Đức Kitô (x. Tv 137,9; 1 Cr 10,4). Nếu những tư tưởng ấy trở nên mạnh mẽ hơn do chúng ta thuận theo, thì chúng ta sẽ không thể vượt thắng chúng mà không trải qua nhiều đau khổ và gian lao.
It is good to remember the sayings of the Fathers as well as the passages from Holy Scripture cited above. For example, St Basil, Bishop of Caesarea in Cappadocia, said; ‘I have not known a woman and yet I am not a virgin.’ He recognized that the gift of virginity is achieved not so much by abstaining from intercourse with woman as by holiness and purity of soul, which in its turn is achieved through fear of God. The Fathers also say that we cannot fully acquire the virtue of purity unless we have first acquired real humility of heart. And we will not be granted true spiritual knowledge so long as the passion of unchastity lies hidden in the depths of our souls.
Ta hãy ghi nhớ lời dạy của các Thánh Phụ và những đoạn Thánh Kinh đã được trích dẫn. Thánh Basiliô Cả, Giám mục thành Caesarea ở Cappadocia, từng nói: “Tôi chưa từng biết đến người phụ nữ, nhưng tôi cũng không dám xưng mình là trinh khiết.” Ngài hiểu rằng ân sủng trinh khiết không chỉ đạt được nhờ tránh sự kết hợp xác thịt, mà trước hết là nhờ sự thánh thiện và trong sạch của tâm hồn, và tâm hồn chỉ đạt được sự trong sạch ấy nhờ lòng kính sợ Thiên Chúa. Các Thánh Phụ cũng dạy rằng, không ai có thể đạt tới nhân đức thanh khiết trọn vẹn, nếu trước đó chưa đạt được đức khiêm nhường sâu thẳm trong tâm hồn; và chừng nào dục vọng ô uế còn ẩn sâu trong linh hồn, thì con người chưa thể được ban cho sự hiểu biết thiêng liêng đích thực.
To bring this section of our treatise to a close, let us recall one of the Apostle’s sayings which further illustrates his teaching on how to acquire self-restraint. He says; ‘Pursue peace with all men and the holiness without which no one will see the Lord’ (Heb. 12:14). It is clear that he is talking about self-restraint from what follows: ‘Lest there be any unchaste or profane person, such as Esau’ (Heb. 12:16). The more heavenly and angelic the degree of holiness, the heavier are the enemies’ attacks to which it is subjected. We should therefore try to achieve not only bodily control, but also contrition of heart with frequent prayers of repentance, so that with the dew of the Holy Spirit we may extinguish the furnace of our flesh, kindled daily by the king of Babylon with the bellows of desire (cf. Dan. 3:19). In addition, a great weapon has been given us in the form of sacred vigils; for just as the watch we keep over our droughts by day brings us holiness at night, So vigil at night brings purity to the soul by day.
Để kết thúc phần này, ta hãy nhớ lời Thánh Tông đồ nói: “Anh em phải cố ăn ở hoà thuận với mọi người, phải gắng trở nên thánh thiện; vì không có sự thánh thiện, thì không ai sẽ được thấy Chúa.” (Dt 12,14) Rõ ràng, ngài đang nói về sự tiết độ, vì ngay sau đó ngài viết: “Đừng có ai gian dâm hoặc phàm tục như Êsau, kẻ đã vì một món ăn mà obán quyền trưởng nam.” (Dt 12,16) Càng đạt đến mức độ thánh thiện cao siêu và thiên giới, thì càng phải đối diện với những cuộc tấn công dữ dội hơn của kẻ thù. Do đó, ta phải rèn luyện không chỉ sự tiết chế của thân xác, mà còn tâm hồn thống hối, với những lời cầu nguyện sám hối thường xuyên, để nhờ sương mai của Thánh Thần, ta có thể dập tắt lò lửa xác thịt, vốn được vua Babylon nhóm lên mỗi ngày bằng ống bễ của dục vọng (x. Đn 3,19). Hơn nữa, một khí giới hữu hiệu khác đã được ban cho ta, đó là việc canh thức thánh thiện trong đêm, vì như việc canh giữ tư tưởng ban ngày giúp ta nên thánh trong đêm, thì việc canh thức trong đêm lại mang lại sự trong sạch cho tâm hồn ban ngày.
St John Cassian
On the Eight Vices
On Avarice
(Philokalia, Vol. 1, pp 78-82)
Thánh Gioan Cassianô
Tám Mối Tật Xấu –
Về Tham Tiền
(Philokalia, Quyển I, trang 78–82)
Our third struggle is against the demon of avarice, a demon clearly foreign to our nature, who only gains entry into a monk because he is lacking in faith. The other passions, such as anger and desire, seem to be occasioned by the body and in some sense implanted in us at birth. Hence they are conquered only after a long time. The sickness of avarice, on the contrary, can with diligence and attention be cut off more readily, because ft enters from outside. If neglected, however, it becomes even harder to get rid of and more destructive than the other passions, for according to the Apostle it is ‘the root of all evil’ (1 Tim. 6:10).
Cuộc chiến thứ ba của chúng ta là chống lại ma quỷ của tội tham lam — một thần dữ xa lạ với bản tính con người, chỉ có thể len lỏi vào tâm hồn tu sĩ khi người ấy thiếu lòng tin. Những đam mê khác, như giận dữ và dục vọng, dường như có nguồn gốc từ thân xác, và theo một nghĩa nào đó được gieo vào nơi con người ngay từ khi sinh ra; vì thế, chúng chỉ có thể bị khuất phục sau một thời gian dài khổ luyện. Ngược lại, căn bệnh tham lam – vì nó đến từ bên ngoài – có thể bị cắt bỏ dễ dàng hơn nếu người ta chú tâm và tỉnh thức ngay từ đầu. Nhưng nếu để mặc cho nó phát triển, nó sẽ bén rễ sâu hơn và trở nên tàn phá hơn các đam mê khác, vì như Thánh Tông đồ đã nói: “Thật thế, cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc, vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin và chuốc lấy bao nỗi đớn đau xâu xé.” (1 Tm 6,10)
Let us look at it in this fashion. Movement occurs in the sexual organs not only of young children who cannot yet distinguish between good and evil, but also of the smallest infants still at their mother’s breast. The latter, although quite ignorant of sensual pleasure, nevertheless manifest such natural movements in the flesh. Similarly, the incensive power exists in infants, as we can see when they are roused against anyone hurting them. I say this not to accuse nature of being the cause of sin – heaven forbid! – but to show that the incensive power and desire, even if implanted in man by the Creator for a good purpose, appear to change through neglect from being natural in the body into something that is unnatural. Movement in the sexual organs was given to us by the Creator for procreation and the continuation of the species, not for unchastity; while incensive power was planted in us for our salvation, so that we could manifest it against wickedness, but not so that we could act like wild beasts towards our fellow men. Even if we make bad use of these passions, nature itself is not therefore sinful, nor should we blame the Creator. A man who gives someone a knife for some necessary and useful purpose is not to blame if that person uses it to commit murder.
Hãy xét điều này: Dục vọng xác thịt hoạt động ngay cả nơi những trẻ nhỏ chưa biết phân biệt điều thiện và điều ác, và ngay cả nơi những hài nhi còn bú mẹ. Tuy chúng chưa hề biết đến khoái lạc giác quan, nhưng các chuyển động tự nhiên của xác thịt vẫn hiện hữu. Tương tự, sức nóng của giận dữ cũng có thể thấy nơi trẻ nhỏ, khi chúng bị xúc phạm hay tổn thương. Tôi nói điều này không phải để kết án bản tính tự nhiên là nguồn gốc của tội — xin Thiên Chúa gìn giữ chúng ta khỏi ý nghĩ ấy! — nhưng để chỉ ra rằng sức giận và dục vọng, tuy được Đấng Tạo Hoá gieo vào con người với mục đích tốt, vẫn có thể bị bóp méo do sự lười biếng và lạm dụng, trở nên bất xứng với trật tự tự nhiên. Sự chuyển động trong các chi thể sinh dục được ban để duy trì nòi giống, chứ không phải để nuôi dưỡng tội ô uế. Sức giận được đặt trong ta để chống lại sự dữ và bảo vệ công lý, chứ không phải để đối xử hung bạo với đồng loại như loài thú dữ. Ngay cả khi ta lạm dụng các năng lực tự nhiên ấy, bản tính con người tự nó không có tội, và Đấng Tạo Hoá không thể bị quy lỗi. Cũng như người trao con dao cho kẻ khác để sử dụng cho việc chính đáng không bị kết tội nếu kẻ kia dùng nó để giết người.
This has been said to make it clear that avarice is a passion deriving, not from our nature, but solely from an evil and perverted use of our free will. When this sickness finds the soul lukewarm and lacking in faith at the start of the ascetic path, it suggests to us various apparently justifiable and sensible reasons for keeping back something of what we possess. It conjures up in a monk’s mind a picture of a lengthy old age and bodily illness; and it persuades him that the necessities of life provided by the monastery are insufficient to sustain a healthy man, much less an ill one; that in the monastery the sick, instead of receiving proper attention, are hardly cared for at all; and that unless he has some money tucked away, he will die a miserable death. Finally, it convinces him that he will not be able to remain long in the monastery because of the load of his work and the strictness of the abbot. When with thoughts like these it has seduced his mind with the idea of concealing any sum, however trifling, it persuades him to learn, unknown to the abbot, some handicraft through which he can increase his cherished hoardings. Then it deceives the wretched monk with secret expectations, making him imagine what he will earn from his handicraft, and the comfort and security which will result from it. Now completely given over to the thought of gain, he notices none of the evil passions which attack him: his raging fury when he happens to sustain a loss, his gloom and dejection when he falls short of the gain he hoped for. Just as for other people the belly is a god, so for him is money. That is why the Apostle, knowing this, calls avarice not only ‘the root of all evil’ but ‘idolatry’ as well (Col. 3:5).
Điều này cho thấy rằng tội tham lam không phát xuất từ bản tính tự nhiên, mà là kết quả của việc sử dụng sai lệch ý chí tự do. Khi tâm hồn còn non yếu và thiếu đức tin lúc mới bước vào đời sống khổ tu, ma quỷ tham lam sẽ gợi lên trong trí ta nhiều lý do tưởng chừng hợp lý để giữ lại chút gì đó cho riêng mình. Nó vẽ ra viễn cảnh tuổi già dài lâu, bệnh tật thân xác, và nỗi sợ rằng tu viện không đủ lo liệu cho người đau yếu. Nó xúi giục ta lo lắng rằng mình sẽ chết trong cảnh túng thiếu và bị bỏ rơi, rằng viện phụ quá khắt khe, và rằng ta không thể sống lâu trong nếp tu khổ hạnh ấy. Khi ý tưởng che giấu một khoản nhỏ đã lọt vào tâm trí, nó xúi ta bí mật học một nghề thủ công, để tích góp riêng cho mình. Từ đó, nó mê hoặc người tu sĩ khốn khổ bằng những hy vọng viển vông, làm cho anh ta tưởng tượng ra lợi nhuận sẽ có được, và niềm an toàn vật chất mà nó hứa hẹn. Người ấy chìm đắm trong ý nghĩ về của cải, và không còn nhận ra những đam mê khác đang tấn công mình: cơn phẫn nộ khi bị mất mát, sự u sầu khi không đạt được lợi lộc mong muốn. Như người đời coi bụng là thần của họ, thì người này coi tiền bạc là thần của mình. Vì thế, Thánh Phaolô Tông đồ đã gọi lòng tham lam không chỉ là “cội rễ của mọi sự dữ”, mà còn là “một hình thức thờ ngẫu tượng” (x. Cl 3,5).
How is it that this sickness can so pervert a man that he ends up as an idolater? It is because he now fixes his intellect on the love, not of God, but of the images of men stamped on gold. A monk darkened by such thoughts and launched on the downward path can no longer be obedient. He is irritable and resentful, and grumbles about every task. He answers back and, having lost his sense of respect, behaves like a stubborn, uncontrollable horse. He is not satisfied with the day’s ration of food and complains that he cannot put up with such conditions for ever. Neither God’s presence, he says, nor the possibility of his own salvation is confined to the monastery; and, he concludes, he will perish if he does not leave it. He is so excited and encouraged in these perverse thoughts by his secret hoardings that he even plans to quit the monastery. Then he replies proudly and harshly no matter what he is told to do, and pays no heed if he sees something in the monastery that needs to be set right, considering himself a stranger and outsider and finding fault with all that takes place. Then he seeks excuses for being angry or injured, so that he will not appear to be leaving the monastery frivolously and without cause. He does not even shrink from trying through gossip and idle talk to seduce someone else into leaving with him, wishing to have an accomplice in his sinful action.
Làm sao căn bệnh này có thể biến con người thành kẻ thờ ngẫu tượng? Vì trí khôn của họ không còn hướng về Thiên Chúa, mà hướng về hình ảnh của con người in trên vàng bạc. Khi tâm trí bị u tối bởi những tư tưởng như thế, tu sĩ ấy mất khả năng vâng phục, trở nên bực bội, khó chịu, lẩm bẩm chống đối, và cãi lại mỗi khi được truyền lệnh. Anh ta không còn kính trọng bề trên, phàn nàn về khẩu phần ăn, và thường tự nhủ rằng: “Sự hiện diện của Thiên Chúa đâu chỉ có trong tu viện này; ta có thể cứu linh hồn mình ở nơi khác.” Sự tích trữ bí mật làm anh ta ngạo mạn và cứng đầu, thậm chí ấp ủ ý định rời khỏi tu viện. Anh ta trả lời thô bạo, làm ngơ trước những điều cần sửa đổi, và chê bai mọi việc trong tu viện, xem mình như người ngoài cuộc. Cuối cùng, anh ta tìm cớ gây sự hoặc giả vờ bị xúc phạm, để ra đi mà không bị xem là kẻ bỏ tu viện cách vô cớ. Tệ hơn nữa, anh ta dụ dỗ người khác cùng bỏ đi, để có đồng loã trong hành động tội lỗi của mình.
Because the avaricious monk is so fired with desire for private wealth he will never be able to live at peace in a monastery or under a rule. When like a wolf the demon has snatched him from the fold and separated him from the Hock, he makes ready to devour him; he sets-him to work day and night in his cell on the very tasks which he complained of doing at fixed times in the monastery. But the demon does not allow him to keep the regular prayers or norms of fasting or orders of vigil. Having bound him fast in the madness of avarice, he persuades him to devote all his effort to his handicraft.
Vì người tu sĩ tham lam luôn cháy bỏng lòng khao khát sở hữu của cải riêng, nên không bao giờ có thể sống bình an trong đan viện hay tuân phục dưới một kỷ luật chung. Khi ma quỷ – như con sói dữ – cướp lấy linh hồn ấy khỏi đoàn chiên, và tách người ấy khỏi cộng đoàn tu trì, thì nó chuẩn bị để nuốt trọn nạn nhân của mình.Nó xúi giục người ấy lao động ngày đêm trong cell riêng của mình,bận rộn với những công việc thủ công trước đây, khi còn trong đan viện, người ấy đã từng phàn nàn là nặng nhọc và quá sức vì phải làm theo giờ giấc và kỷ luật chung. Thế nhưng tên quỷ tham lam không cho phép người ấy giữ giờ kinh nguyện đều đặn, không cho tuân theo luật chay tịnh, cũng không cho trung thành với các canh thức đêm. Bởi vì khi đã trói chặt tâm hồn nạn nhân bằng sợi dây điên cuồng của lòng tham, nó thuyết phục người ấy đổ hết công sức và tâm trí vào việc kiếm lợi vật chất, biến lao động – vốn là phương tiện để phục vụ Chúa – thành dụng cụ để thờ ngẫu tượng là tiền bạc.
There are three forms of this sickness, all of which are equally condemned by the Holy Scriptures and the teaching of the Fathers. The first induces those who were poor to acquire and save the goods they lacked in the world. The second compels those who have renounced worldly goods by offering them to God, to have regrets and to seek after them again. A third infects a monk from the start with lack of faith and ardor, so preventing his complete detachment from worldly things, producing in him a fear of poverty and distrust in God’s providence and leading him to break the promises he made when he renounced the world.
Có ba hình thức của căn bệnh thiêng liêng này, và cả ba đều bị Thánh Kinh cũng như giáo huấn của các Thánh Phụ lên án như nhau. Hình thức thứ nhất là nơi những người vốn nghèo khó, khi đã bước vào đời sống thiêng liêng, lại sinh lòng ham muốn tích trữ và tìm kiếm của cải vật chất mà họ đã từng thiếu thốn ở đời.Hình thức thứ hai là nơi những người đã tự nguyện từ bỏ thế gian, dâng hiế n của cải trần gian cho Thiên Chúa, nhưng rồi lại sinh lòng hối tiếc, và bắt đầu tìm cách chiếm lại những gì họ đã hiến dâng. Còn hình thức thứ ba là nguy hiểm nhất, khi ngay từ đầu, tâm hồn người tu sĩ đã bị lây nhiễm bởi sự thiếu lòng tin và sự nguội lạnh. Do đó, họ không thể tách mình hoàn toàn khỏi những sự vật trần thế, sợ hãi cảnh nghèo khó, nghi ngờ sự quan phòng của Thiên Chúa, và cuối cùng phản bội những lời khấn hứa mà họ đã long trọng thốt lên khi từ bỏ thế gian (để bước theo Đức Kitô).
Examples of these three forms of avarice are, as I have said, condemned in Holy Scripture. Gehazi wanted to acquire property which he did not previously possess, and therefore never received the prophetic grace which his teacher had wished to leave him in the place of an inheritance. Because of the prophet’s curse he inherited incurable leprosy instead of a blessing (cf. 2 Kgs. 5:27). And Judas, who wished to acquire money which he had previously abandoned on following Christ, not only lapsed so far as to betray the Master and lose his place in the circle of the apostles; he also put an end to his life in the flesh through a violent death (cf. Matt. 27:5). Thirdly, Ananias and Sapphira were condemned to death by the Apostle’s word when they kept back something of what they had acquired (cf. Acts 5:1-10). Again, in Deuteronomy Moses is indirectly exhorting those who promise to renounce the world, and who then retain their earthly possessions because of the fear that comes from lack of faith, when he says: ‘What man is there that is fearful and faint-hearted? He shall not go out to do battle; let him return to his house, lest his brethren’s heart faint as well as his heart’ (cf. Deut. 20:8). Could anything be clearer or more certain than this testimony? Should not we who have left the world learn from these examples to renounce it completely and in this state go forth to do battle? We should not turn others from the perfection taught in the Gospels and make them cowardly because of our own hesitant and feeble start.
Những ví dụ về ba hình thức của lòng tham lam này, như tôi đã nói, đều bị Thánh Kinh lên án nghiêm khắc. Thứ nhất, là trường hợp của Gêhazi, người mong muốn chiếm hữu của cải mà trước kia mình chưa từng có. Vì tham lam như thế, ông đã không được lãnh nhận ân sủng tiên tri mà thầy mình là ngôn sứ Êlisa đã sẵn lòng để lại như một gia nghiệp thiêng liêng; trái lại, ông đã lãnh lấy lời nguyền của vị ngôn sứ và phải mang lấy chứng phong hủi không thể chữa khỏi, như một gia sản của sự bất trung (x. 2 V 5,27). Thứ hai, là Giuđa Ítcariôt, người đã mong muốn lấy lại số tiền mà trước kia ông đã bỏ lại để theo Đức Kitô. Vì lòng tham ấy, ông đã phản bội Thầy mình, đánh mất chỗ đứng trong hàng các Tông Đồ, và kết thúc đời mình trong cái chết dữ dội, treo cổ trong tuyệt vọng (x. Mt 27,5). Thứ ba, là Anania và Xaphira, hai vợ chồng đã bị kết án tử bởi lời của Thánh Tông Đồ Phêrô, vì đã gian dối giữ lại một phần của cải mà họ đã hứa hiến dâng cho Thiên Chúa (x. Cv 5,1–10). Hơn nữa, trong Sách Đệ Nhị Luật, Môsê cũng gián tiếp cảnh báo những ai đã hứa từ bỏ thế gian, nhưng lại giữ chặt của cải trần gian do sợ hãi và thiếu lòng tin, khi ông nói: “Ai là người sợ hãi và yếu lòng, thì đừng ra trận; hãy trở về nhà mình, kẻo làm cho lòng anh em mình ra nhát đảm như lòng mình.” (Đnl 20,8) Có thể có lời cảnh báo nào rõ ràng hơn và chứng tá nào mạnh mẽ hơn chăng? Lẽ nào chúng ta, những kẻ đã từ bỏ thế gian, lại không học từ những gương ấy để tách mình hoàn toàn khỏi mọi sự trần tục, mà ra đi chiến đấu cho Đức Kitô cách trọn vẹn? Chúng ta đừng để vì sự yếu đuối và khởi đầu do dự của bản thân, mà làm nản lòng anh em, khiến họ lùi bước trước con đường trọn lành mà Phúc Âm đã dạy.
Some, impelled by their own deceit and avarice, distort the meaning of the scriptural statement, ‘It is more blessed to give than to receive’ (Acts 20:35). They do the same with the Lord’s words when He says, ‘If you want to be perfect, go and sell all you have and give to the poor, and you will have treasure in heaven; and come and follow Me’ (Matt. 19:21). They judge that it is more blessed to have control over one’s personal wealth, and to give from this to those in need, than to possess nothing at all. They should know, however, that they have not yet renounced the world or achieved monastic perfection so long as they are ashamed to accept for Christ’s sake the poverty of the Apostle and to provide for themselves and the needy through the labor of their hands (cf. Acts 20:34); for only in this way will they fulfill the .monastic profession and be glorified with the Apostle. Having distributed their former wealth, let them fight the good fight with Paul ‘in hunger and thirst . . . in cold and nakedness’ (2 Cor. 11:27). Had the Apostle thought that the possession of one’s former wealth was more necessary for perfection, he would not have despised his official status as a Roman citizen (cf. Acts 22:25). Nor would those in Jerusalem have sold their houses and fields and given the money they got from them to the apostles (cf. Acts 4: 34-35), had they felt that the apostles considered it more blessed to live off one’s own possessions than from one’s labor and the offerings of the Gentiles.
Có những người, vì sự gian dối và lòng tham nơi chính mình, đã làm sai lạc ý nghĩa của Lời Kinh Thánh, nơi có chép rằng: “Cho thì có phúc hơn là nhận.” (Cv 20,35) Họ cũng bóp méo lời của chính Chúa Giêsu, khi Người phán:“Nếu con muốn nên trọn lành, hãy đi, bán tất cả những gì con có mà cho người nghèo, và con sẽ có kho tàng trên trời; rồi hãy đến, theo Ta.” (Mt 19,21) Theo cách suy luận sai lạc của họ, thì được phúc hơn là giữ lấy của cải riêng mình, để rồi ban phát cho người nghèo, hơn là từ bỏ tất cả để sống trong tinh thần khó nghèo hoàn toàn. Nhưng họ cần phải hiểu rõ rằng: Họ chưa thật sự từ bỏ thế gian, và còn lâu mới đạt đến sự hoàn thiện trong đời đan tu, bao lâu họ vẫn còn hổ thẹn khi phải chịu cảnh nghèo vì Đức Kitô, và không muốn tự nuôi sống mình cùng người túng thiếu bằng lao động chính đôi tay mình (x. Cv 20,34). Chỉ khi ấy, họ mới thật sự sống trọn ơn gọi đan tu, và được hiển vinh cùng với Thánh Tông Đồ. Sau khi đã phân phát của cải cũ cho người nghèo, họ được mời gọi chiến đấu trong cuộc chiến thiêng liêng, “chịu đói, chịu khát… chịu rét và trần truồng” như chính Thánh Phaolô đã trải qua (x. 2 Cr 11,27). Nếu Thánh Tông Đồ nghĩ rằng việc giữ lại tài sản riêng là điều cần thiết cho sự trọn lành, thì chắc chắn ngài đã không khinh thường địa vị công dân Rôma của mình (x. Cv 22,25). Cũng thế, các tín hữu ở Giêrusalem đã bán nhà cửa, ruộng đất của mình, rồi đem tiền dâng cho các Tông Đồ (x. Cv 4,34–35), bởi vì họ không nghĩ rằng việc giữ của cải riêng để bố thí là điều phúc hơn, nhưng tin chắc rằng phúc thật là sống bằng lao động của chính mình và bằng những của dâng cúng mà các dân ngoại hiến tặng cho Hội Thánh.
The Apostle gives us a clear lesson in this matter when he writes to the Romans in the passage beginning, ‘But now I go to Jerusalem to minister to the saints’, and ending: ‘They were pleased to do it, and indeed they are in debt to them’ (Rom. 15:25-27). He himself was often in chains, in prison or on fatiguing travel, and so was usually prevented from providing for himself with his own hands. He tells us that he accepted the necessities of life from the brethren who came to him from Macedonia (cf. 2 Cor. 11:9); and writing to the Philippians he says: ‘Now you Philippians know also that . . . when I departed from Macedonia no church except you helped me with gifts of money. For even in Thessalonica you sent me help, not once but twice’ (Phil. 4:15-16). Are, then, the avaricious right and are these men more blessed than the Apostle himself, because they satisfied his wants from their own resources? Surely no one would be so foolish as to say this.
Thánh Tông Đồ Phaolô đã dạy cho chúng ta một bài học rõ ràng về vấn đề này, khi ngài viết cho các tín hữu Rôma, trong đoạn bắt đầu bằng những lời: “Giờ đây tôi sắp đi Giêrusalem để phục vụ các thánh,” và kết thúc rằng: “Họ vui lòng làm việc đó,và thật ra họ mắc nợ các thánh ấy.” (Rm 15,25–27) Chính ngài, nhiều lần phải mang xiềng xích, ở trong ngục tù, hoặc trải qua những cuộc hành trình gian khổ, nên thường không thể tự nuôi sống mình bằng lao động của đôi tay. Ngài nói rõ rằng, ngài đã nhận được những nhu cầu thiết yếu cho đời sống từ các anh em đến với ngài từ xứ Macedonia (x. 2 Cr 11,9). Và khi viết cho tín hữu Philípphê, ngài cũng nhắc lại: “Anh em người Philípphê biết rằng,khi tôi rời Macedonia, không có Hội Thánh nào chia sẻ cho tôi về việc giúp đỡ vật chất, ngoại trừ anh em. Vì ngay cả khi tôi ở Thêxalônica, anh em cũng đã gửi quà giúp tôi, không phải một lần mà là hai lần.” (Pl 4,15–16) Vậy thì, chẳng lẽ những kẻ tham lam lại đúng, và những người ấy được phúc hơn chính Thánh Tông Đồ, vì họ đã giúp đỡ ngài bằng của cải riêng của họ sao? Không ai khờ dại đến mức có thể nói như vậy.
If we want to follow the gospel commandment and the practice of the whole Church as it was founded initially upon the apostles, we should not follow our own notions or give wrong meanings to things rightly said. We must discard faint-hearted, faithless opinion and recover the strictness of the Gospel; In this way we shall be able to follow also in the footsteps of the Fathers, adhering to the discipline of the cenobitic life and truly renouncing this world.
Nếu chúng ta thật lòng muốn tuân giữ giới răn Tin Mừng và noi theo truyền thống của Hội Thánh, được thiết lập ngay từ đầu trên nền tảng các Thánh Tông Đồ, thì chúng ta không được chiều theo quan điểm riêng, cũng không được bóp méo ý nghĩa chân thật của Lời Chúa. Chúng ta phải dứt bỏ mọi ý nghĩ hèn nhát và vô tín, và lấy lại tinh thần nghiêm cẩn của Tin Mừng, để có thể bước đi theo dấu chân của các Thánh Phụ, trung thành với kỷ luật của đời sống cộng đoàn đan tu, và thật sự từ bỏ thế gian trong tâm hồn cũng như trong hành động.
It is good here to recall the words of St Basil, Bishop of Caesarea in Cappadocia. He is reported once to have said to a senator, who had renounced the world in a half-hearted manner and was keeping back some of his personal fortune: ‘You have lost the senator and failed to make a monk.’ We should therefore make every effort to cut out from our souls this root of all evils, avarice, in the certain knowledge that if the root remains the branches will sprout freely.
Thật hữu ích, vào lúc này, khi nhắc lại lời của Thánh Basil Cả, Giám mục thành Caesarea xứ Cappadocia, vị tiến sĩ lừng danh của Hội Thánh. Người ta kể rằng, một lần kia, ngài đã nói với một vị nghị sĩ — kẻ từ bỏ thế gian cách nửa vời, và vẫn còn giữ lại một phần tài sản riêng — rằng: “Ông đã đánh mất người nghị sĩ, mà cũng chẳng đạt được người đan sĩ.” Vì thế,chúng ta phải hết lòng nỗ lực nhổ tận gốc khỏi linh hồn mình cội rễ của mọi điều ác — là lòng tham lam, với niềm xác tín chắc chắn rằng, nếu còn giữ lại gốc rễ ấy, thì những cành nhánh tội lỗi sẽ mau chóng đâm chồi nảy lộc trở lại.
This uprooting is difficult to achieve unless we are living in a monastery, for in a monastery we cease to worry about even our most basic needs. With the fate of Ananias and Sapphira in mind, we should shudder at the thought of keeping to ourselves anything of our former possessions. Similarly, frightened by the example of Gehazi who was afflicted with incurable leprosy because of his avarice, let us guard against piling up money which we did not have while in the world. Finally, recalling Judas’ death by hanging, let us beware of acquiring again any of the things which we have already renounced. In all this we should remember how uncertain is the hour of our death, so that our Lord does not come unexpectedly and, finding our conscience soiled with avarice, say to us what God says to the rich man in the Gospel: ‘You fool, this night your soul will be required of you: who then will be the owner of what you have stored up?’ (Luke 12: 20).
Việc nhổ tận gốc lòng tham lam này quả thật khó thực hiện, nếu chúng ta không sống trong đời sống đan tu, bởi trong tu viện, người đan sĩ không còn phải lo lắng ngay cả về những nhu cầu căn bản nhất của đời sống. Khi nhớ đến hình phạt của Khanania và Xaphira, chúng ta phải rùng mình sợ hãi, chỉ cần nghĩ đến việc giữ lại cho riêng mình một phần nào trong những của cải cũ mà ta đã dâng hiến cho Thiên Chúa. Cũng vậy, khi run sợ trước gương của Ghêhazi, người đã bị phạt chứng phong hủi không thể chữa lành vì lòng tham lam của mình, chúng ta hãy cảnh giác, đừng chất chứa tiền bạc mà trước đây, khi còn ở giữa thế gian, chúng ta chưa từng sở hữu. Sau cùng, nhớ lại cái chết bi thảm của Giuđa — người đã treo cổ tự tận vì lòng ham mê của cải, chúng ta hãy khiếp sợ đừng bao giờ mua lại hay chiếm lại những gì mà chúng ta đã tự nguyện từ bỏ vì Đức Kitô. Trong mọi sự, chúng ta phải luôn ghi khắc trong lòngrằng giờ chết của chúng ta không ai biết được, để Chúa không đến bất ngờ, và bắt gặp lương tâm ta vấy bẩn vì lòng tham, rồi phán xét chúng ta như Người đã nói với người phú hộ trong Tin Mừng: “Đồ ngu dại kia! Ngay đêm nay, người ta sẽ đòi lại linh hồn ngươi; còn những của cải ngươi đã tích trữ, thì sẽ thuộc về ai?” (Lc 12,20)
St John Cassian
On the Eight Vices
On Anger
[V1] 83-86
Thánh Gioan Cassianô
Tám Mối Tật Xấu –
Về Giận Dữ
(Philokalia, Quyển I, trang 83–86)
Our fourth struggle is against the demon of anger. We must, with God’s help, eradicate his deadly poison from the depths of our souls. So long as he dwells in our hearts and blinds the eyes of the heart with his somber disorders, we can neither discriminate what is for our good, nor achieve spiritual knowledge, nor fulfill our good intentions, nor participate in true life; and our intellect will remain impervious to the contemplation of the true, divine light; for it is written, ‘For my eye is troubled because of anger’ (Ps. 6:7. LXX).
Cuộc chiến thứ tư của chúng ta là chống lại ma quỷ của cơn giận. Với ơn Chúa trợ giúp, ta phải nhổ tận gốc nọc độc chết người của nó khỏi đáy lòng. Khi nó cư ngụ trong tim và làm mù mắt lòng bằng những rối loạn u ám, ta không thể phân định điều gì có lợi cho mình, không đạt được tri thức thiêng liêng, không thực hiện những ý hướng tốt, cũng không tham dự vào sự sống thật; hơn nữa, trí tuệ ta sẽ khép kín trước chiêm niệm ánh sáng thiên linh chân thật. Vì đã chép: “Mắt con rối bời vì cơn giận” (Tv 6,7 – B ản LXX).
Nor will we share in divine wisdom even though We are deemed wise by all men, for it is written: ‘Anger lodges in the bosom of fools’ (Eccles. 7:9). Nor can we discriminate in decisions affecting our salvation even though we are thought by our fellow men to have good sense, for it is written: ‘Anger destroys even men of good sense’ (Prov. 15:1. LXX). Nor will we be able to keep our lives in righteousness with a watchful heart, for it is written; ‘Man’s anger does not bring about the righteousness of God’ (]as. i: 20). Nor will we be able to acquire the decorum and dignity praised by all, for it is written: ‘An angry man is not dignified’ (Prov. 11: 25. LXX).
Ta cũng không được dự phần vào đức khôn ngoan của Thiên Chúa, cho dẫu mọi người có xem ta là khôn ngoan, bởi đã chép: “Chớ vội để cho lòng mình nổi giận, vì chỉ người ngu mới nuôi giận trong lòng.” (Gv 7,9). Ta không thể phân định trong các quyết định liên quan đến phần rỗi, cho dù người đời cho rằng ta sáng suốt, vì đã chép: “Cơn giận phá hủy cả người có lương tri” (Cn 15,1 – LXX). Ta cũng không thể giữ đời sống công chính với tấm lòng tỉnh thức, vì đã chép: “vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa.” (Gc 1,20). Ta không thể đạt tới phẩm hạnh đoan trang mà mọi người ca tụng, vì đã chép: “Người nóng giận không có phong độ” (x. Cn 11:25 – LXX).
If, therefore, you desire to attain perfection and rightly to pursue the spiritual way, you should make yourself a stranger to all sinful anger and wrath. Listen to what St Paul enjoins: ‘Rid yourselves of all bitterness, wrath, anger, clamor, evil speaking and all malice’ (Eph. 4:31). In saying ‘all’ he leaves no excuse for regarding any anger as necessary or reasonable. If you want to correct your brother when he is doing wrong or to punish him, you must try to keep yourself calm; otherwise you yourself may catch the sickness you are seeking to cure and you may find that the words of the Gospel now apply to you: ‘Physician, heal yourself (Luke 4:23), or ‘Why do you look at the speck of dust in your brother’s eye, and not notice the rafter in your own eye?’ (Matt. 7:3).
Vậy, nếu anh em ước muốn nên trọn lành và đi đúng đường thiêng liêng, hãy xa lạ với mọi thứ cơn giận và thịnh nộ tội lỗi. Hãy lắng nghe điều Thánh Phaolô truyền dạy: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thoá mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác.” (Ep 4,31). Khi nói “mọi”, ngài không để lại lý do nào để xem bất cứ cơn giận nào là cần thiết hay hữu lý. Nếu anh em muốn sửa dạy người anh em đang lầm lỗi hay phạt người ấy, anh em phải giữ cho mình bình tĩnh; nếu không, chính anh em sẽ mắc phải căn bệnh mà mình đang tìm cách chữa, và rồi lời Tin Mừng sẽ ứng nghiệm nơi anh em: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!” (Lc 4:23); hoặc: “Sao ngươi thấy cái rác nơi mắt anh em, mà không nhận ra cái xà trong mắt ngươi?” (Mt 7,3).
No matter what provokes it, anger blinds the soul’s eyes, preventing it from seeing the Sun of righteousness. Leaves, whether of gold or lead, placed over the eyes, obstruct the sight equally, for the value of the gold does not affect the blindness it produces. Similarly, anger, whether reasonable or unreasonable, obstructs our spiritual vision. Our incensive power can be Used in a way that is according to nature only when turned against our own impassioned or self-indulgent thoughts. This is what the Prophet teaches us when he says: ‘Be angry, and do not sin’ (Ps. 4:4. LXX) – that is, be angry with your own passions and with your malicious thoughts, and do not sin by carrying out their suggestions. What follows clearly confirms this interpretation: ‘As you lie in bed, repent of what you say in your heart’ (Ps. 4:4. LXX) – that is, when malicious thoughts enter your heart, expel them with anger, and then turn to compunction and repentance as if your soul were resting in a bed of stillness.
Bất kể nguyên cớ là gì, cơn giận làm mù mắt linh hồn, không cho nó thấy Mặt Trời Công Chính. Lá vàng hay lá chì đặt trên mắt đều che khuất thị giác như nhau — giá trị của vàng không làm giảm bớt sự mù loà. Cũng thế, cơn giận, dù xem ra hữu lý hay vô lý, đều ngăn trở cái nhìn thiêng liêng của ta. Sức nóng phẫn nộ (năng lực công phẫn) chỉ được dùng đúng bản tính khi quay về chống lại chính các tư tưởng đầy đam mê và tự nuông chiều của ta. Ngôn sứ dạy chúng ta điều này khi nói: “Hãy giận, nhưng đừng phạm tội” (Tv 4:4 – LXX) — nghĩa là: hãy phẫn nộ với các đam mê và các ý nghĩ ác độc của chính mình, chứ đừng phạm tội bằng cách thi hành các gợi ý của chúng. Lời tiếp theo xác nhận cách hiểu ấy: “Khi nằm trên giường, hãy hối cải về điều các ngươi đã toan tính trong lòng” (Tv 4:4 – LXX) — nghĩa là: khi ý nghĩ gian ác xâm nhập lòng, hãy trục xuất chúng bằng sự phẫn nộ thánh, rồi quay về với tâm hồn thống hối, như thể linh hồn đang an nghỉ trên một giường yên tĩnh.
St Paul agrees with this when he cites this passage and then adds: ‘Do not let the sun go down upon your anger: and do not make room for the devil’ (Eph. 4: 26-27), by which he means: ‘Do not make Christ, the Sun of righteousness, set in your hearts by angering him through your assent to evil thoughts, thereby allowing the devil to find room in you because of Christ’s departure.’ God has spoken of this Sun in the words of His prophet: ‘But upon you that fear My name shall the Sun of righteousness arise with healing in His wings’ (Mal. 4:2). If we take Paul’s saying literally, it does not permit us to keep our anger even until sunset. What then shall we say about those who, because of the harshness and fury of their impassioned state, not only maintain their anger until the setting of this day’s sun, but prolong it for many days? Or about others who do not express their anger, but keep silent and increase the poison of their rancor to their own destruction? They are unaware that we must avoid anger not only in what we do but also in our thoughts; otherwise our intellect will be darkened by our rancor, cut off from the light of spiritual knowledge and discrimination, and deprived of the indwelling of the Holy Spirit.
Thánh Phaolô đồng ý với điều này khi trích dẫn đoạn trên rồi thêm: “Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn; đừng để chỗ cho ma quỷ” (Ep 4,26–27). Ý ngài là: đừng để Đức Kitô, Mặt Trời Công Chính, lặn khỏi lòng anh em do anh em chấp thuận ý nghĩ xấu, khiến ma quỷ có chỗ chen vào vì Đức Kitô đã rời khỏi. Về Mặt Trời này, Thiên Chúa đã phán qua ngôn sứ: “Ngày đó, chồi non ĐỨC CHÚA cho mọc lên sẽ là vinh quang và danh dự, và hoa màu từ ruộng đất trổ sinh sẽ là niềm ohãnh diện và tự hào cho những người Ít-ra-en thoát nạn.” (Is 4,2 ~ Mal. 4:2). Nếu chúng ta hiểu lời của Thánh Phaolô theo nghĩa đen, thì ngài không cho phép chúng ta giữ cơn giận dù chỉ cho đến khi mặt trời lặn. Vậy chúng ta phải nói gì về những kẻ, vì tính nóng nảy dữ dội và tâm hồn đầy giận dữ, không những duy trì cơn phẫn nộ ấy cho đến lúc hoàng hôn, mà còn nuôi dưỡng nó suốt nhiều ngày? Và còn những người khác, tuy không biểu lộ sự giận dữ ra bên ngoài, nhưng lại giữ im lặng, để chất độc của oán hờn âm thầm lan rộng và tự mình chuốc lấy hư vong — thì sao? Họ không hiểu rằng chúng ta phải xa tránh cơn giận, không chỉ trong hành động, mà còn trong tư tưởng. Bởi nếu không, trí tuệ của chúng ta sẽ bị bóng tối của hận thù che phủ, bị cắt đứt khỏi ánh sáng của sự hiểu biết thiêng liêng, và bị tước mất sự hiện diện sống động của Chúa Thánh Thần.
It is for this reason that the Lord commands us to leave our offering before the altar and be reconciled with our brother (cf. Matt. s: 23-24), since our offering will not be acceptable so long as anger and rancor are bottled up within us. The Apostle teaches us the same thing when he tells us to ‘pray without ceasing’ (1 Thess. 5:17), and to ‘pray every where, lifting up holy hands without anger and without quarrelling’ (1 Tim. 2:8). We are thus left with the choice either of never praying, and so of disobeying the Apostle’s commandment, or of trying earnestly to fulfill his commandment by praying without anger or rancor.
Chính vì lý do ấy, mà Chúa truyền dạy chúng ta: khi mang lễ vật đến dâng trên bàn thờ, nếu còn điều bất hoà với anh em, hãy để lễ vật lại đó, hãy đi làm hoà trước với người anh em mình, rồi hãy trở lại mà dâng lễ vật ấy (x. Mt 5,23–24). Bởi vì, lễ vật của chúng ta sẽ không được Thiên Chúa chấp nhận, nếu trong lòng ta còn cưu mang oán hờn và giận dữ. Thánh Tông đồ Phaolô cũng dạy điều tương tự, khi ngài nói: “Anh em hãy cầu nguyện không ngừng” (1 Tx 5,17), và: “Tôi muốn cho mọi người nam trong mọi nơi, giơ đôi tay thánh thiện lên mà cầu nguyện, không giận dữ, không cãi cọ.” (1 Tm 2,8). Do đó, chúng ta chỉ còn hai con đường để chọn: Hoặc là không cầu nguyện, và như thế vi phạm giới răn của Tông đồ, Hoặc là cố gắng hết lòng chu toàn giới răn ấy, bằng cách cầu nguyện không ngừng, với tâm hồn hoàn toàn thanh thoát khỏi giận dữ và hận thù.
We are often indifferent to our brethren who are distressed or upset, on the grounds that they are in this state through no fault of ours. The Doctor of souls, however, wishing to root out the soul’s excuses from the heart, tells us to leave our gift and to be reconciled not only if we happen to be upset by our brother, but also if he is upset by us, whether justly or unjustly; only when we have healed the breach through our apology should we offer our gift.
Chúng ta thường tỏ ra dửng dưng trước những anh em đang buồn phiền hay khổ tâm,vì cho rằng họ đau khổ không phải do lỗi của chúng ta. Tuy nhiên, Vị Lương Y của linh hồn chúng ta, muốn nhổ tận gốc mọi lý do biện hộ mà lòng ta thường vin vào,đã dạy ta rằng: Phải để lễ vật lại trước bàn thờ, và đi làm hoà, không chỉ khi chính ta giận anh em mình, mà cả khi anh em ta giận ta,dù là giận cách công bằng hay bất công. Chỉ khi nào vết rạn nứt được hàn gắn, và chúng ta đã khiêm tốn xin lỗi để phục hồi tình hiệp nhất, bấy giờ lễ vật dâng tiến của ta mới được Thiên Chúa chấp nhận.
We may find the same teaching in the Old Testament as well. As though in complete agreement with the Gospels, it says: ‘Do not hate your brother in your heart’ (Lev. 19:17); and: “The way of the rancorous leads to death’ (Prov. 12: 28. LXX). These passages, then, not only forbid anger in what we do but also angry thought. If therefore we are to follow the divine laws, we must struggle with all our strength against the demon of anger and against the sickness which lies hidden within us. When we are angry with others we should not seek solitude on the grounds that there, at least, no one will provoke us to anger, and that in solitude the virtue of long-suffering can easily be acquired. Our desire to leave our brethren is because of our pride, and because we do not wish to blame ourselves and ascribe to our own laxity the cause of our unruliness. So long as we assign the causes for our weaknesses to others, we cannot attain perfection in longsuffering.
Chúng ta cũng tìm thấy giáo huấn tương tự ngay trong Cựu Ước, tựa như đồng thanh nhất trí với Tin Mừng. Sách Lêvi dạy:“Ngươi đừng oán ghét anh em mình trong lòng.” (Lv 19,17) , và sách Châm ngôn nói: “Con đường của kẻ mang lòng oán hận dẫn đến sự chết.” (Cn 12,28 – Bản LXX). Những đoạn Thánh Kinh này không chỉ cấm cơn giận trong hành động, mà còn ngăn cấm cả sự giận dữ trong tư tưởng và tâm hồn. Vì thế, nếu chúng ta muốn tuân giữ lề luật của Thiên Chúa, thì phải hết lòng chiến đấu chống lại thần dữ của cơn giận và căn bệnh thâm căn ẩn nấp trong lòng ta. Khi tức giận với người khác, chúng ta không nên tìm cách lánh đi nơi cô tịch, lấy cớ rằng: “Ở đó, ít ra ta sẽ không bị ai khơi dậy cơn giận, và như thế, ta có thể dễ dàng luyện tập nhân đức nhẫn nại.” Ý muốn xa lìa anh em như thế chẳng qua là hoa trái của lòng kiêu ngạo, vì ta không muốn trách chính mình, cũng không muốn nhìn nhận sự yếu đuối và buông thả của bản thân là nguyên nhân gây ra tính bất an và dễ nóng nảy. Chừng nào ta còn đổ lỗi cho người khác về sự yếu hèn của mình,thì chừng ấy ta không thể đạt tới sự hoàn thiện trong nhân đức nhẫn nhục.
Self-reform and peace are not achieved through the patience which others show us, but through our own longsuffering towards our neighbor. When we try to escape the struggle for long-suffering by retreating into solitude, those unhealed passions we take there with us are merely hidden, not erased; for unless our passions are first purged, solitude and withdrawal from the world not only foster them but also keep them concealed, no longer allowing us to perceive what passion it is that enslaves us. On the contrary, they impose on us an illusion of virtue and persuade us to believe that we have achieved long-suffering and humility, because there is no one present to provoke and test us. But as soon as something happens which does arouse and challenge us, our hidden and previously unnoticed passions immediately break out like uncontrolled horses that have long been kept unexercised and idle, dragging their driver all the more violently and wildly to destruction. Our passions grow fiercer when left idle through lack of contact with other people. Even that shadow of patience and long-suffering which we thought we possessed while we mixed with our brethren is lost in our isolation through not being exercised. Poisonous creatures that live quietly in their lairs in the desert display their fury only when they detect someone approaching; and likewise passion-filled men, who live quietly not because of their virtuous disposition but because of their solitude, spit forth their venom whenever someone approaches and provokes them. This is why those seeking perfect gentleness must make every effort to avoid anger not only towards men, but also towards animals and even inanimate objects.
Sự canh tân nội tâm và bình an của tâm hồn không đạt được nhờ sự nhẫn nại mà người khác dành cho ta, nhưng là nhờ lòng kiên nhẫn và bao dung mà chính ta thực thi đối với tha nhân. Khi ta tìm cách trốn tránh cuộc chiến của nhân đức nhẫn nhục bằng cách rút lui vào cô tịch, thì những đam mê chưa được thanh luyện mà ta mang theo vào đó chỉ được che giấu đi, chứ không hề được xoá bỏ. Nếu các đam mê chưa được tẩy luyện tận căn, thì sự cô tịch và xa rời thế gian không những nuôi dưỡng chúng mạnh thêm, mà còn giữ chúng ẩn kín, đến độ ta không còn nhận ra thứ đam mê nào đang trói buộc mình. Ngược lại, sự cô tịch ấy lại gieo cho ta ảo tưởng về nhân đức, làm ta tự lừa dối rằng mình đã đạt được sự hiền hòa và khiêm nhường, chỉ vì không có ai ở bên để thử thách hay khơi dậy cơn nóng nảy của ta. Nhưng ngay khi có điều gì đó xảy ra khiến ta bị kích động hay va chạm, thì những đam mê ẩn sâu bấy lâu nay sẽ bùng phát dữ dội, như đàn ngựa hoang lâu ngày bị cột trói, bất thần thoát ra, kéo lê người cầm cương đi trong cuồng loạn và hủy diệt. Các đam mê trở nên hung hãn hơn khi ta để chúng ngủ yên, không được tôi luyện qua việc tiếp xúc và chịu đựng anh em mình. Ngay cả bóng dáng của đức nhẫn nhục và hiền hoà mà ta tưởng mình có được khi còn sống giữa cộng đoàn, cũng biến mất trong cô độc, bởi vì nó không còn cơ hội được thực hành. Giống như những sinh vật độc hại trong sa mạc, trong hang ổ của chúng, vẫn nằm yên khi không ai tới gần, nhưng sẽ phun nọc và nổi cơn thịnh nộ dữ dội ngay khi phát hiện một ai đó tiến lại gần,thì cũng vậy, những người đầy dẫy đam mê, tưởng mình hiền hoà trong cảnh cô tịch, nhưng thật ra chỉ lặng yên vì không bị thử thách, sẽ phun ra nọc độc của oán giận ngay khi có ai đó chạm đến họ. Bởi thế,ai khao khát đạt đến sự hiền hoà trọn hảo, phải nỗ lực hết sức để tránh xa cơn giận, không chỉ đối với con người, mà cả với thú vật, và ngay cả với những vật vô tri vô giác.
I can remember how, when I lived in the desert, I became angry with the rushes because they were either too thick or too thin; or with a piece of wood, when I wished to cut it quickly and could not; or with a flint, when I was in a hurry to light a fire and the spark would not come. So all-embracing was my anger that it was aroused even against inanimate objects.
Tôi còn nhớ rõ một kinh nghiệm trong thời gian sống nơi hoang địa: Đã có lúc tôi nổi giận cả với những điều vô tri, chẳng hạn như đám sậy, vì chúng quá dày hoặc quá thưa, không vừa ý tôi; hoặc một khúc gỗ, khi tôi muốn đẽo gọt cho nhanh mà nó lại quá cứng, không chịu theo ý; hoặc một hòn đá lửa, khi tôi vội nhóm bếp, mà tia lửa không chịu bật ra. Như thế, cơn giận của tôi lan tràn đến mọi sự, đến nỗi tôi có thể nổi nóng cả với những vật không hồn, không cảm xúc.
If then we wish to receive the Lord’s blessing we should restrain not only the outward expression of anger, but also angry thoughts. More beneficial than controlling our tongue in a moment of anger and refraining from angry words is purifying our heart from rancor and not harboring malicious thoughts against our brethren. The Gospel teaches us to cut off the roots of our sins and not merely their fruits. When we have dug the root of anger out of our heart, we will no longer act with hatred or envy. ‘Whoever hates his brother is a murderer’ (1 John 3:15), for he kills him with the hatred in his mind. The blood of a man who has been slain by the sword can be seen by men, but blood shed by the hatred in the mind is seen by God, who rewards each man with punishment or a crown not only for his acts but for his thoughts and intentions as well. As God Himself says through the Prophet: ‘Behold, I am coming to reward them according to their actions and their thoughts’ (cf. Ecclus. 35:19); and the Apostle says: ‘And their thoughts accuse or else excuse them in the day when God shall judge the secrets of men’ (Rom. 2:15-16). The Lord Himself teaches us to put aside all anger when He says: ‘Whoever is angry with his brother shall be in danger of judgment’ (Matt. 5:22). This is the text of the best manuscripts; for it is clear from the purpose of Scripture in this context that the words ‘without a cause’ were added later. The Lord’s intention is that we should remove the root of anger, its spark, so to speak, in whatever way we can, and not keep even a single pretext for anger in our hearts. Otherwise we will be stirred to anger initially for what appears to be a good reason and then find that our incensive power is totally out of control.
Nếu chúng ta ước mong lãnh nhận phúc lành của Chúa, thì không chỉ phải kiềm chế sự bộc phát bên ngoài của cơn giận, mà còn phải đè nén và thanh tẩy những tư tưởng giận dữ trong tâm hồn. Ích lợi thiêng liêng lớn hơn nhiều so với việc chúng ta im lặng trong lúc nóng giận, là thanh luyện cõi lòng khỏi mọi hận thù, và không giữ lại bất cứ ý nghĩ độc hại nào đối với anh em mình. Tin Mừng dạy chúng ta chặt bỏ tận gốc rễ tội lỗi, chứ không chỉ hái đi phần hoa trái bên ngoài của nó. Khi chúng ta nhổ tận gốc rễ cơn giận khỏi tâm hồn, thì chúng ta sẽ không còn hành động với lòng thù ghét hay ghen tị nữa. Vì, như Thánh Gioan Tông Đồ đã nói: “Ai ghét anh em mình là kẻ sát nhân.” (1 Ga 3,15) Bởi lẽ, người ấy đã giết anh em mình trong lòng bằng chính sự thù hận. Máu của người bị giết bằng gươm có thể được con người nhìn thấy, nhưng máu đổ ra bởi lòng hận thù chỉ có Thiên Chúa nhìn thấy, và chính Người sẽ thưởng hay phạt mỗi người, không chỉ vì hành động, mà còn vì những ý nghĩ và ý định trong lòng. Như Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này, Ta đến để thưởng phạt họ tùy theo hành vi và tư tưởng của họ.” (Hc 35,19) Và Thánh Phaolô Tông Đồ cũng nói: “Tư tưởng của họ sẽ tố cáo hay bào chữa cho họ trong ngày Thiên Chúa xét xử những bí mật của lòng người.” (Rm 2,15–16) Chính Chúa Giêsu cũng trực tiếp dạy chúng ta phải dứt bỏ mọi cơn giận, khi Người phán: “Ai giận anh em mình thì đáng bị đưa ra toà xét xử.” (Mt 5,22) Theo các bản văn cổ chính xác nhất, không có thêm cụm từ “một cách vô cớ”, bởi lẽ mục đích của Thánh Kinh trong đoạn này rõ ràng cho thấy rằng cơn giận nào cũng phải bị loại trừ, dù có lý do hay không. Ý của Chúa muốn chúng ta nhổ bỏ tận gốc rễ của cơn giận, dập tắt ngay tia lửa đầu tiên của nó, và không giữ lại trong lòng dù chỉ một lý do nhỏ bé để biện minh cho sự giận dữ. Nếu không, ban đầu ta có thể nghĩ rằng mình giận vì một lý do chính đáng, nhưng rồi sức nóng của giận dữ sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát, thiêu đốt cả linh hồn ta và khiến toàn thể năng lực cảm xúc trở nên cuồng loạn, mất trật tự.
The final cure for this sickness is to realize that we must not become angry for any reason whatsoever, whether just or unjust. When the demon of anger has darkened our mind, we are left with neither the light of discrimination, nor the assurance of true judgment, nor the guidance of righteousness, and our soul cannot become the temple of the Holy Spirit. Finally, we should always bear in mind our ignorance of the time of our death, keeping ourselves from anger and recognizing that neither self-restraint nor the renunciation of all material things, nor fasting and vigils, are of any benefit if we are found guilty at the last judgment because we are the slaves of anger and hatred.
Phương dược sau cùng để chữa lành căn bệnh của cơn giận là ý thức rằng ta không bao giờ được phép nổi giận, dù vì bất cứ lý do nào, dù là lý do chính đáng hay bất chính. Bởi vì, khi thần dữ của cơn giận đã phủ bóng tối lên tâm trí ta, thì ánh sáng của ơn phân định sẽ bị dập tắt, sự sáng suốt trong phán đoán sẽ bị mất đi, và lòng công chính sẽ không còn hướng dẫn ta nữa. Khi ấy, linh hồn không còn xứng đáng là đền thờ của Chúa Thánh Thần, vì nó đã bị u tối bởi ngọn lửa hận thù và giận dữ. Sau hết, chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng mình không biết được giờ chết của mình, và chính vì thế phải giữ tâm hồn khỏi mọi cơn giận dữ, duy trì sự bình an nội tâm trong từng khoảnh khắc. Bởi lẽ, sự tiết độ nơi thân xác, việc từ bỏ của cải trần gian, hay những ngày chay tịnh và đêm thức canh liên lỉ, tất cả những điều ấy sẽ chẳng đem lại ích gì, nếu đến giờ phán xét sau hết, ta vẫn còn bị kết án là nô lệ của cơn giận và lòng hận thù.
St John Cassian
On the Eight Vices
On Dejection
[V1] 87 – 88
Thánh Gioan Cassianô
Tám Mối Tật Xấu –
Về Buồn Sầu
(Philokalia, Quyển I, trang 87–88)
Our fifth struggle is against the demon of dejection, who obscures the soul’s capacity for spiritual contemplation and keeps it from all good works. When this malicious demon seizes our soul and darkens it completely, he prevents us from praying gladly, from reading Holy Scripture with profit and perseverance, and from being gentle and compassionate towards our brethren. He instills a hatred of every kind of work and even of the monastic profession itself. Undermining all the soul’s salutary resolutions, weakening its persistence and constancy, he leaves it senseless and paralyzed, tied and bound by its despairing thoughts.
Cuộc chiến thứ năm của chúng ta là chống lại ma quỷ của nỗi buồn sầu/ thất đảm, kẻ làm mờ tối năng lực chiêm niệm thiêng liêng của linh hồn và ngăn chặn mọi việc lành. Khi tên quỷ hiểm độc này chiếm lấy linh hồn và phủ tối nó hoàn toàn, nó ngăn cản ta cầu nguyện cách hoan hỷ, đọc Thánh Kinh cách kiên trì và sinh ích, và tỏ lòng hiền hoà nhân ái đối với anh em. Nó gieo vào lòng ta sự chán ghét mọi thứ công việc, thậm chí chán cả ơn gọi đan tu. Nó xói mòn mọi quyết tâm cứu độ của linh hồn, làm suy kiệt đức bền chí và kiên định, khiến linh hồn mất cảm thức, tê liệt, bị trói buộc bởi những tư tưởng tuyệt vọng.
If our purpose is to fight the spiritual fight and to defeat, with God’s help, the demons of malice, we should take every care to guard our heart from the demon of dejection, just as a moth devours clothing and a worm devours wood, so dejection devours a man’s soul. It persuades him to shun every helpful encounter and stops him accepting advice from his true friends or giving them a courteous and peaceful reply. Seizing the entire soul, it fills it with bitterness and listlessness. Then it suggests to the soul that we should go away from other people, since they are the cause of its agitation. It does not allow the soul to understand that its sickness does not come from without, but lies hidden within, only manifesting itself when temptations attack the soul because of our ascetic efforts.
Nếu mục đích của ta là giao chiến thiêng liêng, nhờ ơn Chúa trợ giúp, đánh bại các thần dữ của lòng hiểm ác, thì ta phải hết sức canh giữ lòng mình khỏi ma quỷ buồn sầu; vì như mối mọt đục nát áo, như sâu bọ gặm nhắm gỗ, buồn sầu gặm nhấm linh hồn con người. Nó xúi giục ta lánh xa mọi cuộc gặp gỡ hữu ích, khước từ lời khuyên của những người bạn chân thành, và không đáp lại họ bằng thái độ nhã nhặn, bình an. Chiếm trọn linh hồn, nó đổ đầy vào đó vị đắng và sự uể oải. Rồi nó xui linh hồn rời xa tha nhân, đổ lỗi cho họ là căn cớ của xao động. Nó không cho linh hồn hiểu rằng bệnh tật không đến từ bên ngoài, nhưng ẩn nấp bên trong, chỉ lộ diện khi những cám dỗ ập đến vì công cuộc khổ hạnh của ta.
A man can be harmed by another only through the causes of the passions which lie within himself. It is for this reason that God, the Creator of all and the Doctor of men’s souls, who alone has accurate knowledge of the soul’s wounds, does not tell us to forsake the company of men; He tells us to root out the causes of evil within us and to recognize that the soul’s health is achieved not by a man’s separating himself from his fellows, but by his living the ascetic life in the company of holy men. When we abandon our brothers for some apparently good reason, we do not eradicate the motives for dejection but merely exchange them, since the sickness which lies hidden within us will show itself again in other circumstances.
Con người chỉ có thể bị người khác làm hại thông qua những căn cớ của đam mê đang nằm sẵn trong chính mình. Bởi thế, Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo muôn loài và Thầy Thuốc của linh hồn, Đấng duy nhất biết rõ các vết thương của tâm hồn, không bảo ta rời bỏ cộng đoàn; Người truyền ta nhổ tận gốc các nguyên nhân của sự dữ nằm trong ta, và nhận ra rằng sức khỏe của linh hồn đạt được không phải bằng cách tách mình khỏi tha nhân, nhưng bằng đời sống khổ hạnh giữa cộng đoàn các thánh nhân. Khi ta rời bỏ anh em vì một lý do xem ra chính đáng, ta không diệt trừ được động cơ gây buồn sầu, mà chỉ đổi chỗ cho chúng; vì căn bệnh ẩn nấp bên trong sẽ lại bộc lộ trong những hoàn cảnh khác.
Thus it is clear that our whole fight is against the passions within. Once these have been extirpated from our heart by the grace and help of God, we will readily be able to live not simply with other men, but even with wild beasts, job confirms this when he says:
Như thế, thật rõ ràng rằng toàn bộ cuộc chiến thiêng liêng của chúng ta là cuộc chiến chống lại những đam mê và khuynh hướng tội lỗi đang ẩn nấp trong lòng. Khi những đam mê ấy đã được nhổ bỏ tận gốc khỏi tâm hồn bằng ân sủng và sự trợ giúp của Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ có thể sống an hoà, không chỉ với con người, mà ngay cả với loài dã thú cũng không còn làm hại chúng ta. Chính ôg Gióp đã xác nhận điều này khi nói:
‘And the beasts of the field shall be at peace with you’ (Job 5:23). But first we must struggle with the demon of dejection who casts the soul into despair. We must drive him from our heart. It was this demon that did not allow Cain to repent after he had killed his brother, or Judas after he had betrayed his Master. The only form of dejection we should cultivate is the sorrow which goes with repentance for sin and is accompanied by hope in God. It was of this form of dejection that the Apostle said: ‘Godly sorrow produces a saving repentance which is not to be repented of (2 Cor. 7:10). This ‘godly sorrow’ nourishes the soul through the hope engendered by repentance, and it is mingled with joy. That is why it makes us obedient and eager for every good work: accessible, humble, gentle, forbearing and patient in enduring all the suffering or tribulation God may send us. Possession of these qualities shows that a man enjoys the fruits of the Holy Spirit: love, joy, peace, long-suffering, goodness, faith, self-control (cf. Gal. 5:11). But from the other kind of dejection we come to know the fruits of the evil spirit: listlessness, impatience, anger, hatred, contentiousness, despair, sluggishness in praying. So we should shun this second form of dejection as we would unchastity, avarice, anger and the rest of the passions. It can be healed by prayer, hope in God, meditation on Holy Scripture, and by living with godly people.
“Bầy thú đồng nội sẽ sống hoà thuận với ngươi.” (Gióp 5,23) Tuy nhiên, trước hết, chúng ta phải chiến đấu với thần u sầu – con quỷ gieo vào linh hồn sự tuyệt vọng và nặng nề. Chúng ta phải xua đuổi nó khỏi tâm hồn mình, vì chính thần dữ này đã ngăn cản Cain ăn năn sau khi giết em mình, và cũng là kẻ đã khiến Giuđa không sám hối sau khi phản bội Thầy Chí Thánh. Chỉ có một hình thức sầu muộn duy nhất mà người Kitô hữu được phép giữ trong lòng, đó là nỗi buồn thánh thiêng của lòng thống hối — nỗi buồn đi đôi với hy vọng nơi Thiên Chúa. Chính về nỗi sầu thánh này, Thánh Phaolô Tông Đồ đã nói: “Nỗi buồn theo ý Thiên Chúa sinh ra sự sám hối để được cứu độ, và không hề hối tiếc.” (2 Cr 7,10) Nỗi sầu thánh ấy nuôi dưỡng linh hồn bằng niềm hy vọng được sinh ra từ lòng hoán cải, và trong nỗi buồn ấy ẩn chứa niềm vui thiêng liêng, bởi nó khiêm nhường mà đầy sức sống. Nhờ đó, linh hồn trở nên ngoan ngoãn, hiền hòa, khiêm nhu, kiên nhẫn chịu đựng mọi thử thách mà Thiên Chúa cho phép, và hăng hái trong mọi việc lành. Những ai mang trong mình tâm hồn sầu thánh này, sẽ sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần, như Thánh Phaolô đã liệt kê: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân hậu, trung tín, hiền hoà, tiết độ.” (Gl 5,22–23) Trái lại, nỗi sầu u ám do ma quỷ gieo vào sẽ sinh ra những hoa độc của ác thần: chán nản, bực bội, giận dữ, hận thù, cãi cọ, tuyệt vọng, lười biếng trong cầu nguyện. Vì thế, chúng ta phải xa lánh loại buồn chán thứ hai này như xa lánh tội dâm dục, tham lam, nóng giận và mọi đam mê tội lỗi khác. Phương thuốc để chữa lành nỗi sầu u ám ấy, là cầu nguyện chân thành, đặt trọn niềm hy vọng nơi Thiên Chúa, suy gẫm Lời Kinh Thánh ngày đêm, và sống gần gũi với những người đạo đức, để ngọn lửa thánh thiện của họ sưởi ấm tâm hồn ta.
St John Cassian
On the Eight Vices
On Listlessness
[V1] 89-90
Thánh Gioan Cassianô
Tám Mối Tật Xấu –
Về Chán Nản (Acedia)
(Philokalia, Quyển I, trang 89–90)
Our sixth struggle is against the demon of listlessness, who works hand in hand with the demon of dejection. This is a harsh, terrible demon, always attacking the monk, falling upon him at the sixth hour (mid-day), making him slack and fall of fear, inspiring him with hatred for his monastery, his fellow monks, for work of any kind, and evenfor th e reading of Holy Scripture. He suggests to the monk that he should go elsewhere and that, if he does not, all his effort and time will be wasted. In addition to all this, tie produces in him at around the sixth hour a hunger such as he would not normally have after fasting for three days, or after a long journey or the heaviest labor. Then he makes him think that he will not be able to rid himself of this grievous sickness, except by sallying forth frequently to visit his brethren, ostensibly to help them and to tend them if they are unwell. When he cannot lead him astray in this manner, he puts him into the deepest sleep. In short, his attacks become stronger and more violent, and he cannot be beaten off except through prayer, through avoiding useless speech, through the study of the Holy Scriptures and through patience in the face of temptation. If he finds a monk unprotected by these weapons, he strikes him down with his arrows, making him a wayward and lazy wanderer, who roams idly from monastery to monastery, thinking only of where he can get something to eat and drink. The mind of someone affected by listlessness is filled with nothing but vain distraction. Finally he is ensnared in worldly things and gradually becomes so grievously caught up in them that he abandons the monastic life altogether.
Cuộc chiến thứ sáu của chúng ta là chống lại ma quỷ của sự uể oải, kẻ hợp tác chặt chẽ với thần buồn sầu. Đây là một quỷ dữ khắc nghiệt và kinh khủng, luôn tấn công người tu hành, xông đến vào giờ thứ sáu trong ngày (tức giữa trưa), khiến họ mệt mỏi, sợ hãi, và chán ghét tu viện, chán ghét anh em, chán ghét mọi công việc, thậm chí chán cả việc đọc Thánh Kinh. Nó thì thầm vào lòng tu sĩ rằng: “Ngươi nên đi nơi khác; nếu cứ ở đây, mọi công khó và thời gian của ngươi sẽ uổng phí.” Cùng lúc, khoảng giữa trưa, nó kích động một cơn đói dữ dội, đến mức người đó thèm ăn hơn cả sau ba ngày chay, hay sau một chuyến đi dài hoặc lao nhọc nặng nề. Rồi nó xúi giục người ấy nghĩ rằng chỉ có thể chữa khỏi căn bệnh này bằng cách ra ngoài thăm viếng anh em, với lý do giúp đỡ hoặc chăm sóc người ốm. Nếu không thể lôi kéo người tu bằng cách ấy, nó làm cho họ rơi vào giấc ngủ sâu, khiến thân xác và linh hồn tê liệt trong biếng nhác. Nói tóm lại, những đòn tấn công của nó ngày càng mạnh mẽ và hung bạo, và chỉ có thể đẩy lui được bằng cầu nguyện, tránh nói chuyện vô ích, chuyên tâm đọc Thánh Kinh, và kiên nhẫn chịu đựng thử thách. Nếu tên quỷ này phát hiện ra một tu sĩ không được bảo vệ bằng những khí giới ấy, nó bắn mũi tên độc của mình, khiến người đó trở thành một kẻ lang thang lười biếng, chạy hết tu viện này sang tu viện khác, chỉ nghĩ đến chuyện ăn uống. Tâm trí của kẻ bị uể oải chế ngự đầy ắp những tư tưởng hư không và tán loạn. Cuối cùng, họ bị trói buộc trong những chuyện thế gian, và dần dần bị cuốn vào đó đến mức bỏ hẳn đời sống tu trì.
The Apostle, who knows that this sickness is indeed serious, and wishes to eradicate it from our soul, indicates its main causes and says: ‘Now we command you, brethren, in the name of our Lord Jesus Christ, to withdraw yourselves from every brother who lives in an unruly manner and not according to the tradition which you have received from us. For you yourselves know how you ought to imitate us: for we ourselves did not behave in an unruly manner when among you, nor did we eat any man’s bread as a free gift; but we toiled strenuously night and day so that we might not be a burden to any of you: not because we do not have the right, but so as to give you an example to imitate. For even when we were with you, we gave you instructions that if anyone refuses to work he should have nothing to eat. For we hear that there are some among you who live in an unruly manner, not working at all, but simply being busybodies. Now we instruct such people and exhort them by our Lord Jesus Christ to work quietly and to eat their own bread’ (2 Thess.3:6-12). We should note how clearly the Apostle describes the causes of listlessness. Those who do not work he calls unruly, expressing a multiplicity of faults in this one word. For the unruly man, is lacking in reverence, impulsive in speech, quick, to abuse, and so unfit for stillness. He is a slave to listlessness. Paul therefore tells us to avoid such a person, that is, to isolate ourselves from him as from a plague. With the words ‘and not according to the tradition which you have received from us he makes it clear that they are arrogant and that they destroy the apostolic traditions. Again he says: ‘nor did we eat any man’s bread as a free gift; but we toiled strenuously night and day’. The teacher of the nations, the herald of the Gospel, who was raised to the third heaven, who says that the Lord ordained that ‘those who preach the Gospel should live by the Gospel’ (1Cor. 9:14) – this same man works night and day ‘so that we might not be a burden to any of you’. What then can be said of us, who are listless about our work and physically lazy – we who have not been entrusted with the proclamation of the Gospel or the care of the churches, but merely with looking after our own soul? Next Paul shows more clearly the harm born of laziness by adding: ‘not working at all, but simply being busybodies’; for from laziness comes inquisitiveness, and from inquisitiveness, unruliness, and from unruliness, every kind of evil. He provides a remedy, however, with the words: ‘Now we instruct such people … to work quietly and to eat their own bread.’ But with even greater emphasis, he says: ‘if anyone refuses to work, he should have nothing to eat’.
Thánh Phaolô Tông đồ, Đấng hiểu rõ căn bệnh này nghiêm trọng thế nào, và muốn nhổ tận gốc nó khỏi linh hồn chúng ta, đã chỉ ra nguyên nhân chính khi nói: “Thưa anh em, nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, chúng tôi truyền cho anh em phải xa lánh mọi người anh em sống vô kỷ luật, không theo truyền thống anh em đã nhận được từ nơi tôi. Chính anh em thừa biết là anh em phải bắt chước chúng tôi thế nào. Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã không sống vô kỷ luật. Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải là vì chúng tôi không có quyền hưởng sự giúp đỡ, nhưng là để nêu gương cho anh em bắt chước.Thật vậy, khi còn ở với anh em, chúng tôi đã chỉ thị cho anh em: ai không chịu làm thì cũng đừng ăn! 11Thế mà chúng tôi nghe nói: trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào. 12Nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô, chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân.”[1] (2 Tx 3,6–12) Ta nên chú ý xem Thánh Phaolô mô tả rõ ràng thế nào về nguyên nhân của sự uể oải. “Những kẻ không làm việc,” ngài nói, “là những kẻ sống buông tuồng (sống vô kỷ luật).” Trong một chữ này, ngài đã bao hàm nhiều tật xấu: người buông tuồng là người thiếu kính sợ, nóng nảy trong lời nói, dễ xúc phạm, không thích tĩnh lặng, và là nô lệ của sự uể oải. Vì thế, Thánh Phaolô dạy ta tránh xa loại người đó, nghĩa là tách mình khỏi họ như tránh dịch bệnh. Khi nói “không theo truyền thống mà anh em đã nhận nơi chúng tôi”, ngài tố cáo họ là kẻ kiêu căng, phá hoại truyền thống tông đồ. Ngài còn nói: “Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả.” Người được nâng lên đến tầng trời thứ ba, Tông đồ của muôn dân, người được Chúa chỉ định để rao giảng Tin Mừng, lại tự mình lao động vất vả ngày đêm, “để khỏi trở nên gánh nặng cho ai”. Vậy thì chúng ta, những kẻ lười biếng trong việc làm, uể oải trong thân xác, không được giao phó việc rao giảng Tin Mừng, cũng chẳng được đặt để chăm sóc các Giáo Hội, mà chỉ phải lo cho chính linh hồn mình thôi, — chúng ta sẽ lấy cớ gì để biện minh? Tiếp đó, Thánh Tông đồ vạch ra tai hại của sự biếng nhác, khi nói: “chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào.” Quả thật, từ biếng nhác sinh ra tò mò, từ tò mò sinh ra vô trật tự, và từ vô trật tự phát sinh mọi thứ tội lỗi. Tuy nhiên, ngài cũng đưa ra phương thuốc: “chúng tôi truyền dạy và khuyên nhủ những người ấy hãy ở yên mà làm việc, để có của nuôi thân” Và nhấn mạnh hơn nữa: “Ai không chịu làm việc thì cũng không có gì để ăn.”
The holy fathers of Egypt, who were brought up on the basis of these apostolic commandments, do not allow monks to be without work at any time, especially while they are young. They know that by persevering in work monks dispel listlessness, provide for their own sustenance and help those who are in need. They not only work for their own requirements, but from their labor they also minister to their guests, to the poor and to those in prison, believing that such charity is a holy sacrifice acceptable to God. The fathers also say that as a rule someone who works is attacked and afflicted by but a single demon, while someone who does not work is taken prisoner by a thousand evil spirits.
Các thánh phụ Ai Cập, được nuôi dưỡng trong tinh thần những lời truyền dạy Tông đồ, không bao giờ cho phép các tu sĩ nhàn rỗi, nhất là khi còn trẻ. Các ngài biết rằng, nhờ siêng năng lao động, người tu xua tan được sự uể oải, tự lo được cho mình, và giúp đỡ người nghèo khổ. Các ngài không chỉ làm việc cho bản thân, mà còn dâng phần lao nhọc của mình để phục vụ khách hành hương, người nghèo, tù nhân, tin rằng tình yêu thương như thế là một lễ tế thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Các ngài còn dạy rằng: “Người làm việc thì chỉ bị tấn công bởi một quỷ dữ, còn kẻ lười biếng thì bị hàng ngàn thần dữ bắt làm nô lệ.”
It is also good to recall what Abba Moses, one of the most experienced of the fathers, told me. I had not been living long in the desert when I was troubled by listlessness. So I went to him and said: ‘Yesterday I was greatly troubled and weakened by listlessness, and I was not able to free myself from it until I went to see Abba Paul.’ Abba Moses replied to me by saying: ‘So far from freeing yourself from it, you have surrendered to it completely and become its slave. You must realize that it will attack all the more severely because you have deserted your post, unless from now on you strive to subdue it through patience, prayer and manual labor.’
Thật tốt khi nhớ lại lời dạy của Abba Môsê, một trong những phụ lão khôn ngoan nhất. Khi tôi mới sống trong sa mạc, tôi bị cám dỗ bởi sự uể oải, nên tôi đến gặp ngài và nói: “Hôm qua con bị sự uể oải làm khốn đốn và mệt mỏi, con không thể thoát được cho đến khi đi thăm Abba Phaolô.” Abba Môsê trả lời: “Con không hề thoát khỏi nó, nhưng đã đầu hàng nó hoàn toàn và trở thành nô lệ của nó. Con phải hiểu rằng nó sẽ tấn công con dữ dội hơn, bởi vì con đã bỏ vị trí của mình, trừ khi từ nay con cố gắng chế ngự nó bằng kiên nhẫn, cầu nguyện, và lao động chân tay.”
St John Cassian
On the Eight Vices
On Self-Esteem
[V1] 91-92
Thánh Gioan Cassianô
Về Tám Mối Tật Xấu –
Về Hư Danh
(Philokalia, Quyển I, trang 91–92)
Our seventh struggle is against the demon of self-esteem, a multiform and subtle passion which is not readily perceived even by the person whom it tempts. The provocations of the other passions are more apparent and it is therefore somewhat easier to do battle with them, for the soul recognizes its enemy and can repulse him at once by rebutting him and by prayer. The vice of self-esteem, however, is difficult to fight against, because it has many forms and appears in all our activities – in our way of speaking, in what we say and in our silences, at work, in vigils and fasts, in prayer and reading, in stillness and long-suffering. Through all these it seeks to strike down the soldier of Christ. When it cannot seduce a man with extravagant clothes, it tries to tempt him by means of shabby ones. When it cannot flatter him with honor, it inflates him by causing him to endure what seems to be dishonor. When it cannot persuade him to feel proud of his display of eloquence, it entices him through silence into thinking he has achieved stillness. When it cannot puff him up with the thought of his luxurious table, it lures him into fasting for the sake of praise.
Cuộc chiến thứ bảy của chúng ta là chống lại ma quỷ của lòng tự cao (hư danh) — một đam mê đa hình, tinh vi và xảo quyệt, đến nỗi ngay cả người bị nó cám dỗ cũng khó nhận ra. Những cơn cám dỗ của các đam mê khác thì rõ ràng hơn, nên việc giao chiến với chúng có phần dễ hơn, bởi linh hồn nhận ra kẻ thù, có thể chống trả ngay bằng lời phản bác và cầu nguyện. Nhưng tật hư danh, vì ẩn kín trong nhiều hình thức, nên rất khó đối phó, vì nó xuất hiện trong mọi việc chúng ta làm: trong lời nói và cách nói, trong im lặng, trong công việc, canh thức và chay tịnh, trong cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, tĩnh lặng, và kiên nhẫn chịu đựng. Khi nó không thể làm anh ta vui vẻ với ý nghĩ về chiếc bàn ăn xa hoa, nó sẽ dụ anh ta nhịn ăn để được khen ngợi.
In short, every task, every activity, gives this malicious demon a chance for battle. He even prompts us to imagine we are priests. I remember a certain elder who, while I was staying in Sketis, went to visit a brother in his cell. When he approached his door, he heard him speaking inside; thinking that he was studying the Scriptures, he stood outside listening, only to realize that self-esteem had driven the man out of his mind and that he was ordaining himself deacon and dismissing the catechumens. When the elder heard this, he pushed open the door and went in. The brother came to greet him, bowed as is the custom, and asked him if he had been standing at the door for a long time. The elder replied with a smile: ‘I arrived a moment ago, just when you were finishing the dismissal of the catechumens.’ When the brother heard this, he fell at the feet of the elder and begged him to pray for him so that he would be freed from this delusion. I have recalled this incident because I want to show to what depths of stupidity this demon can bring us.
Tóm lại, mọi việc chúng ta làm, mọi hoạt động của chúng ta, đều trở thành cơ hội cho tên quỷ độc ác này – quỷ kiêu ngạo – ra tay tấn công. Nó tìm cách đánh lừa người tu trì trong mọi việc, thậm chí xúi giục họ tưởng rằng mình đã đạt tới hàng tư tế. Tôi còn nhớ có một vị lão trượng thánh thiện khi tôi ở nơi hoang mạc Scetis, đã đến thăm một người anh em tu sĩ sống trong phòng riêng (cell). Khi đến gần cửa, vị lão trượng nghe thấy tiếng người ấy đang nói bên trong; nghĩ rằng anh ấy đang học hỏi Thánh Kinh, vị lão trượng đứng lại lắng nghe. Nhưng rồi ông nhận ra rằng tên quỷ của sự tự cao đã khiến anh ấy mất trí, và trong cơn mê loạn, anh tự phong mình làm phó tế và cất tiếng “giải tán các dự tòng” như trong phụng vụ. Khi hiểu rõ điều đang xảy ra, vị lão trượng liền mở cửa và bước vào. Người anh em ấy vội vã ra đón, cúi mình theo nghi thức chào kính, và hỏi xem: “Thưa cha, cha đã đứng ngoài cửa từ bao giờ vậy?” Vị lão trượng mỉm cười hiền hòa mà đáp: “Cha mới đến đây thôi, đúng vào lúc con vừa kết thúc phần giải tán các dự tòng.” Nghe vậy, người tu sĩ liền sụp xuống dưới chân vị lão trượng, vừa khóc vừa van xin ngài cầu nguyện, để được Thiên Chúa giải thoát khỏi cơn mê muội ấy. Tôi kể lại chuyện này để cho thấy tên quỷ của hư danh có thể làm cho con người rơi xuống mức ngu muội đến thế nào.
The person who wants to engage fully in spiritual combat and to win the crown of righteousness must try by every means to overcome this beast that assumes such varied forms. He should always keep in mind the words of David: ‘The Lord has scattered the bones of those who please men’ (Ps. 53:5. LXX). He should not do anything with a view to being praised by other people, but should seek God’s reward only, always rejecting the thoughts of self-praise that enter his heart, and always regarding himself as nothing before God. In this way he will be freed, with God’s help, from the demon of self-esteem.
Ai muốn dấn thân trọn vẹn vào cuộc chiến thiêng liêng, và ước mong lãnh triều thiên công chính, thì phải nỗ lực hết sức để chinh phục con thú nhiều mặt này, kẻ đổi hình đổi dạng khôn lường. Người ấy phải luôn ghi nhớ lời Thánh Vịnh: “Chúa đã làm tan xương cốt những kẻ làm đẹp lòng người đời.” (Tv 52:6 ~ 53,5– Bản LXX) Người ấy không được làm điều gì để mong được khen ngợi, nhưng chỉ tìm phần thưởng nơi Thiên Chúa, luôn xua đuổi những tư tưởng tự tán dương khi chúng len vào lòng, và luôn coi mình là hư vô trước mặt Thiên Chúa. Như thế, nhờ ơn Chúa trợ giúp, người ấy sẽ được giải thoát khỏi ma quỷ của lòng tự cao.
St John Cassian
On the Eight Vices
On Pride
[V1] 92-93
Thánh Gioan Cassianô
Tám Mối Tật xấu –
Về Kiêu Ngạo
(Philokalia, Quyển I, trang 92–93)
Our eighth struggle is against the demon of pride, a most sinister demon, fiercer than all that have been discussed up till now. He attacks the perfect above all and seeks to destroy those who have mounted almost to the heights of holiness. Just as a deadly plague destroys not just one member of the body, but the whole of it, so pride corrupts the whole soul, not just part of it. Each of the other passions that trouble the soul attacks and tries to overcome the single virtue which is opposed to it, and so it darkens and troubles the soul only partially. But the passion of pride darkens the soul completely and leads to its utter downfall.
Cuộc chiến thứ tám của chúng ta là chống lại ma quỷ của kiêu ngạo, một tên quỷ xảo quyệt và ghê gớm nhất, hung dữ hơn tất cả những tên quỷ đã nói đến trước đây. Nó đặc biệt tấn công những người đã đạt gần đến sự trọn lành, và mưu toan hủy diệt những ai đã leo lên gần tới đỉnh cao của sự thánh thiện. Cũng như một cơn dịch chết người không chỉ phá hoại một chi thể, nhưng làm hư hoại toàn thân, thì tính kiêu ngạo cũng vậy: nó làm bại hoại toàn thể linh hồn, chứ không chỉ một phần của nó. Mỗi đam mê khác chỉ chống lại một nhân đức tương ứng, nên nó chỉ làm tối một phần linh hồn. Nhưng đam mê kiêu ngạo, khi đã chiếm quyền, làm mờ tối toàn thể linh hồn và dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn.
In order to understand more fully what is meant by this, we should look at the problem in the following way. Gluttony tries to destroy self-control; unchastity, moderation; avarice, voluntary poverty; anger, gentleness; and the other forms of vice, their corresponding virtues. But when the vice of pride has become master of our wretched soul, it acts like some harsh tyrant who has gained control of a great city, and destroys it completely, razing it to its foundations. The angel who fell from heaven because of his pride bears witness to this. He had been created by God and adorned with every virtue and all wisdom, but he did not want to ascribe this to the grace of the Lord. He ascribed it to his own nature and as a result regarded himself as equal to God. The prophet rebukes this claim when he says: ‘You have said in your heart: “I will sit on a high mountain; I will place my throne upon the clouds and I will be like the Most High.” Yet you are a man, and not God’ (cf. Isa. 14:13-14). And again, another prophet says, ‘Why do you boast of your wickedness, 0 mighty man?’ and he continues in this same vein (Ps. 52:1). Since we are aware of this we should feel fear and guard our hearts with extreme care from the deadly spirit of pride. When we have attained some degree of holiness we should always repeat to ourselves the words of the Apostle: “Yet not I, but the grace of God which was with me’ (1 Cor. 15:10), as well as what was said by the Lord:
Để hiểu rõ hơn ý nghĩa của điều này, chúng ta nên xem xét vấn đề theo cách sau: Tham ăn tấn công tiết độ – Dâm ô tấn công khiết tịnh – Tham lam tấn công tinh thần khó nghèo – Nóng giận tấn công hiền hoà, và các tội khác phá hủy những nhân đức đối nghịch với chúng. Nhưng khi tội kiêu ngạo đã làm chủ linh hồn khốn khổ của con người, nó giống như một bạo chúa tàn ác đã chiếm được một thành phố vĩ đại, và phá hủy nó tận gốc, san bằng cho đến móng. Thiên thần sa ngã từ trời là chứng nhân sống động cho điều này: Ngài đã được Thiên Chúa tạo dựng nên, trang hoàng bằng mọi nhân đức và khôn ngoan trọn hảo; nhưng vì không quy mọi sự về ân sủng của Thiên Chúa, mà lại cho đó là do bản tính riêng của mình, nên đã tự xem mình ngang hàng với Thiên Chúa. Ngôn sứ Isaia đã khiển trách sự ngạo mạn ấy khi nói: “Chính ngươi đã tự nhủ: “Ta sẽ lên trời: ta sẽ dựng ngai vàng của ta trên cả các ovì sao của Thiên Chúa; ta sẽ ngự trên núi Hội Ngộ, chốn bồng lai cực bắc. Ta sẽ vượt ngàn mây thẳm, sẽ nên như Đấng Tối Cao.”” (x. Is 14,13–14) Và Thánh Vịnh cũng nói: “Hỡi kẻ hùng mạnh, sao ngươi lại khoe khoang tội ác của mình?” (Tv 51,3 ~ 52,1 Bản LXX) Biết được những điều ấy, chúng ta phải khiếp sợ và canh chừng tâm hồn mình cẩn trọng tột độ, để khỏi vướng phải thần khí chết chóc của kiêu ngạo. Khi chúng ta đạt được một mức độ nào đó của thánh thiện, chúng ta phải luôn lặp lại trong lòng lời của Thánh Phaolô: “Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.” (1 Cr 15,10) Và cũng phải ghi nhớ lời của Chúa:
‘Without Me you can do nothing’ (John 15:5). We should also bear in mind what the prophet said: ‘Unless the Lord builds the house, they labor in vain that build it’ (Ps. 127:1), and finally: ‘It does not depend on-man’s will or effort, but on God’s mercy’ (Rom. 9:16).
“Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (Ga 15,5) Chúng ta cũng nên ghi nhớ lời tiên tri đã nói: “Ví như CHÚA chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công. Thành kia mà CHÚA không phòng giữ, uổng công người trấn thủ canh đêm. (Tv 127 (126),1) Và cuối cùng, Thánh Phaolô lại dạy: “Không phải bởi ý muốn hay nỗ lực của con người, nhưng bởi lòng thương xót của Thiên Chúa.” (Rm 9,16)
Even if someone is sedulous, serious and resolute, he cannot, so long as he is bound to flesh and blood, approach perfection except through the mercy and grace of Christ. James himself says that ‘every good gift is from above’ (Jas. 1:17), while the Apostle Paul asks: ‘What do you have which you did not receive? Now if you received it, why do you boast, as if you had not received it?’ (1 Cor. 4:7). What right, then, has man to be proud as though he could achieve perfection through his own efforts ?
Cho dù một người có siêng năng, nghiêm túc, và kiên định đến đâu, thì chừng nào còn mang thân xác yếu đuối, người ấy không thể đạt tới sự trọn hảo nếu không nhờ lòng thương xót và ân sủng của Đức Kitô. Thánh Giacôbê nói: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú;” (Gc 1,17) Và Thánh Phaolô Tông đồ hỏi: “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7) Vậy thì, con người có quyền gì để tự cao, như thể có thể đạt đến sự trọn hảo bằng sức riêng của mình?
The thief who received the kingdom of heaven, though not as the reward of virtue, is a true witness to the fact that salvation is ours through the grace and mercy of God. All of our holy fathers knew this and all with one accord teach that perfection in holiness can be achieved only through humility. Humility, in its turn, can be achieved only through faith, fear of God, gentleness and the shedding of all possessions. It is by means of these that we attain perfect love, through the grace and compassion of our Lord Jesus Christ, to whom be glory through all the ages. Amen.
Người trộm lành, kẻ được vào Nước Trời không phải vì công đức, nhưng do lòng thương xót của Thiên Chúa, là chứng nhân xác thực rằng ơn cứu độ đến từ ân sủng và lòng nhân hậu của Chúa. Tất cả các thánh phụ đều biết rõ điều này, và đồng thanh dạy rằng: “Sự trọn hảo trong thánh thiện chỉ đạt được qua khiêm nhường.” Mà khiêm nhường, đến lượt nó, chỉ có thể đạt được qua đức tin, lòng kính sợ Thiên Chúa, sự hiền hoà, và sự từ bỏ mọi của cải trần thế. Chính nhờ những điều này, chúng ta đạt đến tình yêu trọn hảo, trong ân sủng và lòng thương xót của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta — Đấng được vinh quang đến muôn thuở muôn đời. Amen.