St John Cassian
On the Holy Fathers of Sketis
And on Discrimination
Thánh Gioan Cassian
Về Các Thánh Phụ ở Sketis
và Về Sự Phân Định
Written for Abba Leontios
Viết cho Abba Leontios
(Philokalia, Quyển I, trang 94–108)
The promise I made to the blessed Bishop Kastor to give an account of the way of life and the teaching of the holy fathers has been fulfilled in part by the writings I sent him entitled ‘On Coenobitic Institutions’ and ‘On the Eight Vices’; and I now propose to fulfill it completely. But having heard that Bishop Kastor has left us to dwell with Christ, I felt I should send the remaining portion of my treatise to you, most holy Leontios, who have inherited both his virtuous qualities and the guardianship, with God’s help, of his monastery.
Lời hứa mà tôi đã thưa với Đức Giám Mục khả kính Kastor — rằng sẽ thuật lại nếp sống và giáo huấn của các Thánh Phụ — nay đã được chu toàn phần nào qua hai tác phẩm mà tôi đã gửi cho ngài: “Về đời sống cộng đoàn tu trì” (On Coenobitic Institutions), và “Về tám mối tội đầu” (On the Eight Vices). Và giờ đây, tôi ước mong hoàn tất trọn vẹn lời hứa ấy bằng việc viết tiếp phần còn lại của công trình này. Nhưng, khi nghe tin rằng Đức Giám Mục Kastor đáng kính đã lìa cõi đời này để được ở với Đức Kitô, linh hồn tôi vừa đau buồn vừa được an ủi: đau buồn vì mất đi một người cha thánh thiện, nhưng an ủi vì biết ngài đã về an nghỉ trong Chúa, Đấng mà ngài hằng phụng sự. Vì thế, tôi nghĩ rằng nên gửi phần còn lại của trước tác này cho ngài, vị Leontios rất thánh, người đã thừa hưởng cả các nhân đức của ngài ấy lẫn trách nhiệm trông coi đan viện, nhờ ơn Chúa trợ giúp.
I and my spiritual friend, the holy Germanos, whom I had known since my youth at school, in the army and in monastic life, were staying in the desert of Sketis, the centre of the most experienced monks. It was there that we saw Abba Moses, a saintly man, outstanding not only in the practice of the virtues but in spiritual contemplation as well. We begged him with tears, therefore, to tell us how we might approach perfection.
Tôi cùng với người bạn thiêng liêng của tôi là Đức Cha thánh thiện Germanos, người mà tôi đã quen biết từ thuở thiếu thời, khi còn ngồi cùng trường học, phục vụ trong quân ngũ, và sau này cùng sống đời tu trì, đã lưu lại nơi sa mạc Sketis — trung tâm của các tu sĩ khổ hạnh nhiều kinh nghiệm nhất. Chính tại nơi thánh thiêng ấy, chúng tôi đã gặp được Abba Môsê, một vị thánh nhân trổi vượt, không chỉ trong việc thực hành các nhân đức, mà còn trong chiêm niệm thiêng liêng sâu xa. Vì thế, chúng tôi đã nài xin ngài trong nước mắt, khẩn cầu ngài chỉ dạy cho chúng tôi biết con đường để đạt tới sự trọn lành — để nhờ ánh sáng khôn ngoan của ngài, chúng tôi có thể bước đi vững vàng trên con đường dẫn đến Thiên Chúa.
After much entreaty on our part, he said; ‘Children, all virtues and all pursuits have a certain immediate purpose; and those who look to this purpose and adapt themselves accordingly will reach the ultimate goal to which they aspire. The fanner willingly works the earth, enduring now the sun’s heat and now the winter’s cold, his immediate purpose being to clear it of thorns and weeds, while his ultimate goal is the enjoyment of its fruits. The merchant, ignoring dangers on land and sea, willingly gives himself to his business with the purpose of making a profit, while his goal is enjoyment of this profit. The soldier, too, ignores the dangers of war and the miseries of service abroad. His purpose is to gain a higher rank by using his ability and skill, while his goal is to enjoy the advantages of this rank.
Sau khi chúng tôi khẩn khoản nài xin nhiều lần, Abba Môsê liền nói: “Hỡi các con, mọi nhân đức và mọi nỗ lực thiêng liêng đều có một mục đích trực tiếp, và một cùng đích tối hậu. Ai biết hướng về mục đích trước mắt và điều chỉnh đời sống mình theo đó, thì sẽ đạt tới đích đến tối thượng mà họ khao khát. Ngài tiếp tục giảng giải: “Người nông phu, với lòng sẵn sàng chịu đựng, lúc thì cái nóng gay gắt của mặt trời, lúc lại cái lạnh giá của mùa đông, vẫn cày xới thửa đất của mình. Mục đích trực tiếp của ông là làm sạch đất khỏi gai góc và cỏ dại, nhưng mục tiêu sau cùng chính là được hưởng hoa trái của ruộng đồng. Cũng vậy, người thương nhân, bất chấp nguy hiểm trên biển cả và dọc đường xa, sẵn sàng dấn thân vào việc buôn bán, với mục đích trước mắt là kiếm lợi nhuận, còn mục tiêu cuối cùng là được hưởng thành quả ấy. Và người chiến sĩ cũng thế: mặc cho nguy hiểm của chiến trận và gian khổ nơi đất khách quê người, anh ta vẫn kiên trì phục vụ, vì mục đích trước mắt là đạt được cấp bậc cao hơn nhờ tài năng và sự khéo léo của mình; còn mục tiêu tối hậu là hưởng vinh dự và lợi ích mà địa vị ấy mang lại.”
‘Now our profession also has its own immediate purpose and its own ultimate goal, for the sake of which we willingly endure all manner of toil and suffering. Because of this, fasts do not cast us down, the hardship of vigils delights us; the reading and study of Scripture are readily undertaken; and physical work, obedience, stripping oneself of everything earthly, and the life here in this desert are carried out with pleasure.
“Cũng vậy, đời sống tu trì của chúng ta cũng có mục đích trước mắt và cùng đích tối hậu, vì vì chính những điều ấy, chúng ta tự nguyện chấp nhận mọi lao nhọc và khổ đau. Chính nhờ mục đích ấy, mà việc ăn chay không khiến chúng ta sờn lòng, sự khó nhọc của những đêm canh thức lại trở nên niềm vui, việc đọc và suy niệm Kinh Thánh được chúng ta thực hiện cách hăng say, và lao động thể xác, vâng phục, từ bỏ mọi sự trần gian, cùng nếp sống ẩn dật nơi sa mạc này, tất cả đều được thi hành trong hoan lạc thiêng liêng.”
‘You have given up your country, your families, everything worldly in order to embrace a life in a foreign land among rude and uncultured people like us. Tell me, what was your purpose and what goal did you set before yourselves in doing all this?’
“Các con đã từ bỏ quê hương, rời xa gia đình, và từ khước mọi sự thuộc về thế gian, để chấp nhận một đời sống nơi đất khách, giữa những con người mộc mạc và thiếu học thức như chúng ta. Vậy, hãy nói cho ta nghe: điều gì là mục đích của các con khi thực hiện tất cả những điều ấy? Và các con đã đặt ra cho mình cùng đích nào khi dấn thân vào con đường này?”
We replied: ‘We did it for the kingdom of heaven.’ In response Abba Moses said; ‘As for the goal, you have answered well; but what is the purpose which we set before us and which we pursue unwaveringly so as to reach the kingdom of heaven? This you have not told me.’
Chúng con đáp: “Chúng con làm tất cả những điều ấy vì Nước Trời.” Nghe vậy, Abba Môsê nói: “Về cùng đích, các con đã trả lời rất đúng; nhưng còn mục đích trước mắt, tức là điều chúng ta phải không ngừng nhắm đến và kiên trì thực hành để có thể đạt tới Nước Trời, thì các con vẫn chưa nói cho ta biết.”
When we confessed that we did not know, the old man replied: ‘The goal of our profession, as we have said, is the kingdom of God. Its immediate purpose, however, is purity of heart, for without this we cannot reach our goal. We should therefore always have this purpose in mind; and, should it ever happen that for a short time our heart turns aside from the direct path, we must bring it back again” at once, guiding our lives with reference to our purpose as if it were a carpenter’s rule.
Khi chúng tôi thú nhận rằng mình không biết, vị lão phụ liền nói: “Cùng đích của đời tu trì, như chúng ta đã nói, là Nước Thiên Chúa. Nhưng mục tiêu trước mắt của chúng ta chính là tâm hồn thanh thản, bởi nếu thiếu sự thanh thản của tâm hồn (sự trong sáng của trái tim), thì chúng ta không thể nào đạt tới cùng đích ấy được. Vì thế, chúng ta phải luôn giữ mục tiêu này trong tâm trí, và nếu có lúc nào, dù chỉ trong chốc lát, tâm hồn ta lạc khỏi con đường ngay thẳng, thì phải lập tức đưa nó trở lại, như người thợ mộc dùng thước chuẩn để chỉnh lại đường cắt, sao cho mọi hành động của chúng ta đều được đo lường theo chuẩn mực của mục tiêu ấy.”
‘The Apostle Paul knew this when he said: “Forgetting what lies behind, and reaching forward to what lies in front, I pursue my purpose, aiming at the prize of the high calling of God” (Phil. 3:13-14). We, too, do everything for the sake of this immediate purpose. We give up country, family, possessions and everything worldly in order to acquire purity of heart. If we forget this purpose we cannot avoid frequently stumbling and losing our way, for we will be walking in the dark and straying from the proper path. This has happened to many men who at the start of their ascetic life gave up all wealth, possessions and everything worldly, but who later flew into a rage over a fork, a needle, a rush or a book. This would not have happened to them had they borne in mind the purpose for which they gave up everything. It is for the love of our neighbor that we scorn wealth, lest by fighting over it and stimulating our disposition to anger, we fall away from love. When we show this disposition to anger towards our brother even in small things, we have lapsed from our purpose and our renunciation of the world is useless. The blessed Apostle was aware of this and said: “Though I give my body to be burned, and have no love, it profits me nothing” (1 Cor. 13:3). From this we learn that perfection does not follow immediately upon renunciation and withdrawal from the world. It comes after the attainment of love which, as the Apostle said, “is not jealous or puffed up, does not grow angry, bears no grudge, is not arrogant, thinks no evil” (cf. 1 Cor. 13:4-5). All these things establish purity of heart; and it is for this that we should do everything, scorning possessions, enduring fasts and vigils gladly, engaging in spiritual reading and psalmody. If, however, some necessary task pleasing to God should keep us from our normal fasting and reading, we should not on this account neglect purity of heart. For what we gain by fasting is not so great as the damage done by anger; nor is the profit from reading as great as the harm done when we scorn or grieve a brother.
Abba Môsê nói tiếp: “Thánh Tông đồ Phaolô đã hiểu rõ điều này khi ngài nói: ‘Thưa anh em, tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu.’ (Pl 3,13–14). Cũng như thế, chúng ta làm mọi sự vì mục tiêu gần trước mắt này. Chúng ta từ bỏ quê hương, gia đình, của cải và mọi sự trần thế, là để đạt được tâm hồn thanh thản. Nếu chúng ta quên mất mục tiêu ấy, thì chắc chắn sẽ vấp ngã và lạc đường, vì ta đang bước đi trong bóng tối, xa rời con đường ngay thẳng mà Thiên Chúa chỉ định. Điều này đã xảy ra với nhiều người, là những người khi khởi đầu đời sống khổ tu đã từ bỏ của cải, tài sản và mọi sự thuộc về thế gian, nhưng rồi về sau lại nổi giận chỉ vì một chiếc nĩa, một cây kim, một bó lau, hay một cuốn sách. Những điều ấy đã không xảy ra, nếu họ luôn ghi nhớ mục tiêu mà vì đó họ đã từ bỏ tất cả. Chúng ta khinh chê của cải, không phải vì nó tự thân là xấu, mà là vì lòng yêu mến tha nhân, để không tranh chấp và không khơi dậy cơn giận dữ khiến ta đánh mất đức ái. Khi ta tỏ ra giận dữ với anh em mình, dù là vì những điều nhỏ nhặt nhất, thì ta đã xa lìa mục tiêu và việc từ bỏ thế gian của ta trở nên vô ích. Vị Tông đồ đáng chúc phúc đã biết điều này khi ngài nói: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (1 Cr 13,3). Từ đó ta hiểu rằng: Sự hoàn thiện không đến ngay sau khi ta từ bỏ thế gian, nhưng chỉ đạt được khi ta có tình yêu, như Thánh Phaolô đã nói: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù,” (x. 1 Cr 13,4–5). Tất cả những điều ấy là nền tảng của tâm hồn thanh thản, và chính vì tâm hồn thanh thản mà ta chịu đựng chay tịnh, canh thức, chuyên cần đọc Thánh Kinh và hát Thánh Vịnh với niềm vui. Tuy nhiên, nếu một công việc cần thiết và đẹp lòng Thiên Chúa khiến ta phải tạm ngưng chay tịnh hay việc đọc sách, thì đừng vì thế mà xao lãng tâm hồn thanh thản. Vì lợi ích mà chay tịnh mang lại không thể sánh bằng thiệt hại do cơn giận gây nên, cũng như hoa lợi của việc đọc sách thánh không thể lớn hơn tổn thất khi ta khinh chê hay làm buồn lòng anh em mình.”
‘Fasts and vigils, the study of Scripture, renouncing possessions and everything worldly are not in themselves perfection, as we have said; they are its tools. For perfection is not to be found in them; it is acquired through them. It is useless, therefore, to boast of our fasting, vigils, poverty, and reading of Scripture when we have not achieved the love of God and our fellow men. Whoever has achieved love has God within himself and his intellect is always with God.
“Chay tịnh, canh thức, học hỏi Kinh Thánh, từ bỏ của cải và mọi sự thuộc về trần gian — như ta đã nói — tự thân không phải là sự hoàn thiện, mà chỉ là những khí cụ giúp ta đạt tới sự hoàn thiện. Vì sự hoàn thiện không nằm trong các việc ấy, nhưng được đạt đến (sự hoàn thiện) nhờ chúng. Bởi thế, thật vô ích nếu chúng ta khoe khoang rằng mình ăn chay, canh thức, sống nghèo, hay chuyên chăm đọc Kinh Thánh, mà lại chưa đạt tới tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Ai đã đạt tới tình yêu, thì Thiên Chúa ở trong người ấy, và trí khôn của người ấy luôn kết hiệp với Thiên Chúa.”
To this Germanos rejoined: ‘What man, while in the flesh, can so fix his intellect on God that he thinks of nothing else, not even of visiting the sick, of entertaining guests, of his handicraft, or of the other unavoidable bodily needs? Above all, since God is invisible and incomprehensible, how can a man’s mind always look upon Him and be inseparable from Him?’
Khi ấy, Đức ông Giécmanô (Germanos) thưa lại: “Làm sao một con người còn sống trong xác phàm có thể gắn trí khôn mình mãi vào Thiên Chúa, đến nỗi không còn nghĩ đến điều gì khác — chẳng hạn như việc thăm viếng người đau yếu, đón tiếp khách hành hương, làm việc tay chân, hay lo liệu những nhu cầu thể xác không thể tránh khỏi khác? Hơn nữa, vì Thiên Chúa là Đấng vô hình và khôn dò, thì làm sao trí khôn con người có thể luôn chiêm ngắm Ngài và không bao giờ tách lìa khỏi Ngài được?”
Abba Moses replied: ‘To look upon God at all times and to be inseparable from Him, in the manner which you envisage, is impossible for a man still in the flesh and enslaved to weakness. In another way, however, it is possible to look upon God, for the manner of contemplating God may be conceived and understood in many ways. God is not only to be known in His blessed and incomprehensible being, for this is something which is reserved for His saints in the age to come. He is also to be known from the grandeur and beauty of His creatures, from His providence which governs the world day by day, from His righteousness and from the wonders which He shows to His saints in each generation. When we reflect on the measurelessness of His power and His unsleeping eye which looks upon the hidden things of the heart and which nothing can escape, we are filled with the deepest awe, marveling at Him and adoring Him. When we consider that He numbers the raindrops, the sand of the sea and the stars of heaven, we are amazed at the grandeur of His nature and His wisdom. When we think of His ineffable and inexplicable wisdom, His love for mankind, and His limitless long-suffering at man’s innumerable sins, we glorify Him. When we consider His great love for us, in that though we had done nothing good He, being God, deigned to become man in order to save us from delusion, we are roused to longing for Him. When we reflect that He Himself has vanquished in us our adversary, the devil, and that He has given us eternal life if only we would choose and turn towards His goodness, then we venerate Him. There are many similar ways of seeing and apprehending God, which grow in us according to our labor and to the degree of our purification.
Abba Môsê đáp: “Chiêm ngắm Thiên Chúa mọi lúc, và không bao giờ tách lìa Ngài, theo nghĩa tuyệt đối như con vừa nói, là điều không thể đối với con người còn mang xác phàm, vốn nặng nề vì yếu đuối và lệ thuộc vào thân xác. Tuy nhiên, theo một nghĩa khác, việc chiêm ngắm Thiên Chúa vẫn có thể thực hiện được, vì cách thức chiêm ngắm Thiên Chúa có thể được hiểu và cảm nhận theo nhiều phương diện. Thiên Chúa không chỉ được nhận biết trong bản thể phúc lạc và khôn dò của Ngài — điều ấy là phần thưởng dành cho các thánh trong đời sau — mà Ngài còn có thể được nhận biết qua những điều khác: qua sự cao cả và vẻ đẹp của công trình tạo dựng, qua sự quan phòng hằng ngày của Ngài trên toàn vũ trụ, qua sự công chính và những kỳ công mà Ngài tỏ ra với các thánh của Ngài trong từng thế hệ. Khi chúng ta suy gẫm về quyền năng vô biên của Ngài, và về đôi mắt không bao giờ ngủ của Ngài, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn trong lòng người mà không gì có thể che giấu, tâm hồn ta tràn đầy kinh sợ thánh thiện, và tôn thờ Ngài trong niềm kính phục sâu xa. Khi ta nghĩ đến việc Ngài đếm được từng giọt mưa, từng hạt cát ngoài biển, từng ngôi sao trên trời, thì ta kinh ngạc trước sự cao cả và sự khôn ngoan lạ lùng của bản tính Ngài. Khi ta suy niệm về sự khôn ngoan khôn tả của Ngài, về tình yêu nhân hậu và lòng nhẫn nại vô biên mà Ngài dành cho nhân loại tội lỗi, ta cất lời tôn vinh Ngài. Khi ta ngẫm đến tình yêu vĩ đại của Ngài đối với chúng ta, rằng dù chúng ta chẳng làm được điều gì tốt lành, Ngài — Đấng là Thiên Chúa — đã hạ mình làm người để giải thoát ta khỏi sự lầm lạc, thì tâm hồn ta bừng cháy lòng khao khát Ngài. Khi ta nhớ lại rằng chính Ngài đã chiến thắng trong ta kẻ thù là ma quỷ, và ban cho ta sự sống đời đời nếu ta biết hướng lòng về Ngài và chọn điều thiện, thì ta phủ phục tôn thờ Ngài. Có nhiều cách như thế để chiêm ngắm và cảm nhận Thiên Chúa, và chúng lớn lên trong ta theo mức độ lao công và sự thanh luyện của tâm hồn mà ta đạt được.”
Germanos then asked: ‘How does it happen that even against our will many ideas and wicked thoughts trouble us, entering by stealth and undetected to steal our attention? Not only are we unable to prevent them from entering, but it is extremely difficult even to recognize them. Is it possible for the mind to be completely free of them and not be troubled by them at all?’
Khi ấy, Đức ông Giécmanô hỏi: “Tại sao lại xảy ra điều này — rằng ngay cả khi chúng ta không muốn, nhiều ý tưởng và tư tưởng xấu xa vẫn xâm nhập vào tâm trí, len lỏi cách kín đáo và không nhận ra được, để đánh cắp sự chú tâm của ta? Không những chúng ta không thể ngăn chúng bước vào, mà còn rất khó để nhận biết chúng ngay cả khi chúng đã ở trong tâm. Vậy có thể nào trí khôn con người hoàn toàn thoát khỏi những ý tưởng ấy, và sống mà không bị chúng khuấy động chút nào chăng?”
Abba Moses replied: ‘It is impossible for the mind not to be troubled by these thoughts. But if we exert ourselves it is within our power either to accept them and give them our attention, or to expel them. Their coming is not within our power to control, but their expulsion is. The amending of our mind is also within the power of our choice and effort. When we meditate wisely and: continually on the law of God, study psalms and canticles, engage-in fasting and vigils, and always bear in mind what is to come – the kingdom of heaven, the Gehenna of fire and all God’s works — our wicked thoughts diminish and find no place. But when we devote our time to worldly concerns and to matters of the flesh, to pointless and useless conversation, then these base thoughts multiply in us. just as it is impossible to stop a watermill from turning, although the miller has power to choose between grinding either wheat or tares, so it is impossible to stop our mind, which is ever-moving, from having thoughts, although it is within our power to feed it either with spiritual meditation or with worldly concerns.’
Abba Môsê đáp: “Không thể nào để tâm trí con người hoàn toàn không bị khuấy động bởi các tư tưởng. Tuy nhiên, nếu chúng ta cố gắng, thì điều nằm trong quyền năng của ta là hoặc chấp nhận và nuôi dưỡng chúng, hoặc xua đuổi chúng ra khỏi lòng. Việc chúng xuất hiện trong tâm trí không thuộc quyền kiểm soát của ta, nhưng việc đẩy chúng ra thì nằm trong khả năng của ta. Sự sửa đổi tâm trí,cũng vậy, nằm trong quyền chọn lựa và nỗ lực của ta. Khi chúng ta khôn ngoan suy niệm không ngừng về lề luật của Thiên Chúa, chuyên chăm đọc Thánh Vịnh và Thánh Ca, ăn chay và tỉnh thức, và luôn ghi nhớ những thực tại đời sau — Nước Trời, lửa Gehenna, và mọi công trình của Thiên Chúa — thì các tư tưởng xấu xa sẽ giảm dần và không còn chỗ đứng trong tâm hồn ta. Nhưng nếu ta mải mê với những lo toan trần thế, chạy theo xác thịt, hoặc tham dự vào những cuộc chuyện trò vô ích, thì những tư tưởng thấp hèn sẽ tăng lên và sinh sôi trong ta. Cũng như không thể khiến cối xay nước ngừng quay, vì đó là bản tính của nó, song người thợ xay có thể chọn giữa việc xay lúa mì hay xay cỏ dại, thì cũng thế, tâm trí con người, vốn luôn chuyển động và suy nghĩ, không thể ngừng hẳn các tư tưởng, nhưng ta có quyền chọn nuôi dưỡng nó bằng sự suy niệm thiêng liêng hay bằng những lo toan trần tục.”
When the old man saw us marveling at this and still longing to hear more, he was silent for a short while and then said: ‘Your longing has made me speak at length, and yet you are still eager for more; and from this I see that you are truly thirsty to be taught about perfection. So I would like to talk to you about the special virtue of discrimination. This is a kind of acropolis or queen among the virtues; and I will show you its excellence and value, not only in my own words, but also through the venerable teachings of the fathers; for the Lord fills His teachers with grace according to the quality and longing of those who listen.
Khi vị lão phụ thấy chúng tôi kinh ngạc trước lời dạy ấy và vẫn khao khát được nghe thêm, người im lặng trong giây lát, rồi nói: “Lòng khao khát của các con đã khiến ta phải nói thật dài, thế mà các con vẫn còn khát khao hơn nữa. Từ đó, ta nhận ra rằng các con thực sự đang khát mong học hỏi về sự hoàn thiện. Vì thế, ta muốn nói với các con về một nhân đức đặc biệt, mà các thánh phụ gọi là đức phân định. Đây là pháo đài cao nhất, là nữ hoàng của mọi nhân đức, và ta sẽ cho các con thấy phẩm giá cùng giá trị khôn sánh của nó — không chỉ bằng lời nói của riêng ta, mà còn qua những giáo huấn khả kính của các Thánh Phụ. Bởi vì Chúa đổ đầy ân sủng nơi những bậc thầy, tùy theo tâm hồn và lòng khao khát của những ai lắng nghe lời dạy của các ngài.”
Discrimination, then, is no small virtue, but one of the most important gifts of the Holy Spirit. Concerning these gifts the Apostle says: “To one is given by the Spirit the principle of wisdom; to another the principle of spiritual knowledge by the same Spirit; to another faith by the same Spirit; to another the gifts of healing… to another discrimination of spirits’ (1Cor. 12:8-10). Then, having completed his catalogue of spiritual gifts, he adds: “But all these are energized by the one and selfsame Spirit” (1 Cor. 12:11). You can see, therefore, that the gift of discrimination is nothing worldly or insignificant. It is the greatest gift of God’s grace. A monk must seek this gift with all his strength and diligence, and acquire the ability to discriminate between the spirits that enter him and to assess them accurately. Otherwise he will not only fall into the foulest pits of wickedness as he wanders about in the dark, but even stumble when his path is smooth and straight.
Vì thế, đức phân định không phải là một nhân đức nhỏ bé, nhưng là một trong những hồng ân quan trọng nhất của Chúa Thánh Thần. Về các hồng ân này, Thánh Tông đồ Phaolô nói: “Người này thì được Thần Khí ban cho lời khôn ngoan; người kia thì được ban cho ơn hiểu biết cũng bởi cùng một Thần Khí ấy; người thì được đức tin; người thì được ơn chữa lành; … người khác được ơn phân định các thần khí.” (1 Cr 12,8–10) Rồi sau khi liệt kê tất cả các ân huệ thiêng liêng, ngài thêm rằng: “Nhưng tất cả những điều ấy là do cùng một Thánh Thần duy nhất hoạt động, phân chia cho mỗi người tùy theo ý Ngài.” (1 Cr 12,11) Như thế, con thấy rằng ơn phân định không phải là điều thuộc về trần thế hay tầm thường, mà là một ân huệ cao trọng nhất của ân sủng Thiên Chúa. Một tu sĩ phải tìm kiếm ơn này với tất cả sức lực và sự chuyên cần, để học biết phân biệt giữa những thần khí đang hành động nơi mình, và phán đoán đúng đắn về chúng. Bởi nếu không có đức phân định, thì người ấy chẳng những sẽ rơi vào những hố sâu của tội lỗi, như kẻ đi lạc trong đêm tối, mà còn vấp ngã ngay cả khi con đường dường như bằng phẳng và ngay thẳng.
‘I remember how in my youth, when I was in the Thebaid, where the blessed Antony used to live, some elders came to see him, to enquire with him into the question of perfection in virtue. They asked him; “Which is the greatest of all virtues – we mean the virtue capable of keeping a monk from being harmed by the nets of the devil and his deceit?” Each one then gave his opinion according to his understanding. Some said that fasting and the keeping of vigils make it easier to come near to God, because these refine and purify the mind. Others said that voluntary poverty and detachment from personal possessions make it easier, since through these the mind is released from the intricate threads of worldly care. Others judged acts of compassion to be the most important, since in the Gospel the Lord says: “Come, you whom my Father has blessed, inherit the kingdom prepared for you from the foundation of the world; for I was hungry and you gave Me food” and so on (Matt. 25: 34-36). The best part of the night was passed in this manner, taken up with a discussion in which each expressed his opinion as to whichvirtue makes it easiest for a man to come near to God.
Abba Môsê kể lại: “Ta còn nhớ, khi ta còn trẻ, lúc ấy ta sống trong vùng Thêbaiđê, nơi đấng đáng chúc phúc Antôn Cả cư ngụ. Bấy giờ, có vài vị lão phụ thánh thiện đến thăm người, để trao đổi với ngài về vấn đề đạt tới sự hoàn thiện trong các nhân đức. Họ hỏi Thánh Antôn rằng: ‘Trong mọi nhân đức, đức nào là cao cả nhất — nghĩa là, đức hạnh nào có thể giữ gìn người tu sĩ khỏi bị tổn hại bởi cạm bẫy và mưu chước của ma quỷ?’ Mỗi người trong các ngài đều nêu ý kiến riêng theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình. Có người nói rằng: Ăn chay và giữ chay đêm tỉnh thức giúp ta dễ đến gần Thiên Chúa hơn, vì nhờ đó tâm hồn được thanh luyện và trong sáng. Có người khác lại nói: Sự khó nghèo tự nguyện và việc dứt bỏ mọi của cải riêng tư giúp linh hồn được giải thoát khỏi mọi ràng buộc phức tạp của lo toan trần thế. Một số khác thì cho rằng: Lòng bác ái là đức hạnh cao cả nhất, vì trong Tin Mừng, Chúa phán: “Hãy đến, hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa; vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống…” (Mt 25,34–36) Và cứ như thế, phần lớn đêm hôm đó trôi qua trong cuộc đàm luận thiêng liêng, khi mỗi người lần lượt chia sẻ đức hạnh nào, theo họ, giúp con người dễ dàng nhất tiến gần tới Thiên Chúa.”
‘Last of all the blessed Antony gave his reply: “All that you have said is both necessary and helpful for those who are searching for God and wish to come to Him. But we cannot award the first place to any of these virtues; for there are many among us who have endured fasting and vigils, or have withdrawn into the desert, or have practiced poverty to such an extent that they have not left themselves enough for their daily sustenance, or have performed acts of compassion so generously that they no longer have anything to give; and yet these same monks, having done all this, have nevertheless fallen away miserably from virtue and slipped into vice.
Sau cùng, vị đáng chúc phúc Antôn Cả lên tiếng đáp: “Tất cả những điều anh em nói đều tốt lành, cần thiết và hữu ích cho những ai tìm kiếm Thiên Chúa và ước mong đến gần Ngài. Tuy nhiên, chúng ta không thể đặt bất cứ nhân đức nào trong đó lên ngôi cao nhất, hay xem là nền tảng duy nhất của sự hoàn thiện. Vì thật ra, có nhiều người giữa chúng ta đã chịu đựng những cuộc chay tịnh khắc khổ, thức tỉnh suốt đêm cầu nguyện, hoặc ẩn mình trong sa mạc cô tịch, đã sống khó nghèo đến mức không giữ lại cho mình ngay cả phần ăn tối thiểu mỗi ngày, hoặc đã làm việc bác ái đến độ không còn gì để cho đi. Thế nhưng, chính những người ấy, dù đã thực hành tất cả những điều cao cả ấy, lại sa ngã cách thảm hại khỏi nhân đức, và trượt dài trở lại trong tội lỗi.”
‘ “What was it, then, that made them stray from the straight path? In my opinion it was simply that they did not possess the grace of discrimination; for it is this virtue that teaches a man to walk along the royal road, swerving neither to the right through immoderate self-control, nor to the left through indifference and laxity. Discrimination is a kind of eye and lantern of the soul, as is said in the gospel passage: “The light of the body is the eye; if therefore your eye is pure, your whole body will be full of light. But if your eye is evil, your whole body will be full of darkness’ (Matt. 6:22-3). And this is just what we find; for the power of discrimination, scrutinizing all the thoughts and actions of a man, distinguishes and sets aside everything that is base and not pleasing to God, and keeps him free from delusion.
“Vậy điều gì,” — Thánh Antôn nói — “đã khiến họ lạc khỏi con đường ngay thẳng? Theo ý tôi, nguyên nhân duy nhất chính là họ không có ơn phân định. Vì đức phân định là nhân đức dạy con người bước đi trên con đường vương giả, không lệch sang phải do quá mức khổ hạnh, cũng không nghiêng sang trái bởi thờ ơ hay buông thả. Phân định là con mắt và ngọn đèn của linh hồn, như chính Tin Mừng đã nói: “Đèn của thân thể là con mắt; nếu mắt ngươi trong sáng, toàn thân ngươi sẽ được sáng láng; nhưng nếu mắt ngươi xấu, thì toàn thân ngươi sẽ đầy tối tăm.” (Mt 6,22–23) Và quả thật, điều ấy là như thế: vì năng lực của đức phân định, khi xem xét và cân nhắc mọi tư tưởng và hành động của con người, sẽ phân biệt và gạt bỏ mọi điều thấp hèn, mọi điều không đẹp lòng Thiên Chúa, để giữ cho tâm hồn được tự do khỏi mọi mê hoặc và lầm lạc.”
‘ “We can see this in what is said in the Holy Scriptures. Saul, the first to be entrusted with the kingship of Israel, did not have the eye of discrimination; so his mind was darkened and he was unable to perceive that it was more pleasing to God that he should obey the commandment of Samuel than that he should offer sacrifices. He gave offence through the very things with which he thought to serve God, and because of them he was deposed. This would not have happened had he possessed the light of discrimination (cf. 1 Sam. 13: 8-9).
Thánh Antôn nói tiếp, “Điều này, chúng ta có thể thấy rõ trong Kinh Thánh. Saun, người đầu tiên được Thiên Chúa trao quyền cai trị Israel, đã không có con mắt của đức phân định, nên tâm trí ông trở nên tối tăm, và không nhận ra rằng vâng phục lệnh truyền của Samuel thì đẹp lòng Thiên Chúa hơn là dâng hy lễ. Ông đã làm điều xúc phạm Thiên Chúa ngay trong những việc mà ông tưởng là phụng sự Ngài; và vì những điều ấy, ông đã bị Chúa loại bỏ khỏi vương quyền. Sự việc ấy đã không xảy ra, nếu như ông có được ánh sáng của đức phân định.” (x. 1 Sm 13,8–9)
‘ “The Apostle calls this virtue ‘the sun’, as we can see from his saying: ‘Do not let the sun go down upon your anger’ (Eph. 4:26). It is also called ‘the guidance’ of our lives, as when it is written: “Those who have no guidance fell like leaves’ (Prov. 11:14. LXX). Scripture also refers to it as the ‘discernment’ without which we must do nothing- not even drink the spiritual wine that ‘makes glad the heart of man’ (Ps. 104:15. LXX); for it is said: ‘Drink with discernment’ (Prov. 31:3. LXX); and: ‘He that does not do all things with discernment is like a city that is broken down and without walls’ (Prov. 25:28. LXX). Wisdom, intellection and perceptiveness are united in discrimination: and without these our inner house cannot be built, nor can we gather spiritual wealth; for it is written: ‘Through wisdom a house is built, through understanding it is established, and through good judgment its storehouses will be filled with wealth’ (Prov. 24:3-4. LXX). Discrimination is also called the ‘solid food’ that ‘is suitable for those who have their organs of perception trained by practice to discriminate between good and evil’ (Heb. 5:14). These passages show very clearly that without the gift of discrimination no virtue can stand or remain firm to the end, for it is the mother of all the virtues and their guardian.”
“Thánh Tông đồ gọi nhân đức này là ‘mặt trời’, như ta thấy nơi lời Người nói: ‘Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận của anh em vẫn còn’ (Ep 4,26). Nhân đức này cũng được gọi là ‘sự hướng dẫn’ của đời sống, như Kinh Thánh chép rằng: ‘Những ai không có người hướng dẫn thì sẽ ngã như lá rụng’ (Cn 11,14 – Bản LXX). Sách Thánh cũng gọi nó là ‘sự phân biệt’, và dạy rằng không được làm điều gì mà thiếu nó – ngay cả khi uống thứ rượu thiêng liêng “làm vui lòng người” (Tv 104,15 – Bản LXX); vì đã có lời chép: ‘Hãy uống với sự phân định’ (Cn 31,3 – Bản LXX); và lại rằng: ‘Kẻ không làm mọi sự với sự phân định thì như thành phố bị phá đổ, không còn tường lũy’ (Cn 25,28 – Bản LXX). Khôn ngoan, hiểu biết và sáng suốt được hợp nhất trong đức phân định; và nếu không có những điều ấy, ngôi nhà nội tâm của ta không thể được xây dựng, cũng không thể tích lũy kho tàng thiêng liêng; bởi vì Kinh Thánh nói: ‘Nhờ khôn ngoan mà nhà được dựng nên, nhờ hiểu biết mà nó được củng cố, và nhờ phán đoán đúng đắn mà kho tàng trong nhà được đầy dẫy của cải quý giá.’ (Cn 24,3–4 – Bản LXX). Đức phân định cũng được gọi là ‘của ăn rắn chắc’, “thích hợp cho những ai đã rèn luyện giác quan mình để phân biệt điều thiện và điều ác” (Dt 5,14). Những đoạn này cho ta thấy thật rõ ràng rằng: Không có ơn phân định, không một nhân đức nào có thể đứng vững hay bền lâu đến cùng; vì chính phân định là mẹ của mọi nhân đức, và là người canh giữ chúng.”
‘This was Antony’s statement, and it was approved by the other fathers. But in order to confirm what St Antony said by means of fresh examples from our own times, we should recall Abba Hiron and how a few days ago, as we ourselves saw, he was thrown down from the height of the ascetic state to the depths of death by the deception of the devil. We know how he spent some fifty years in the nearby desert, following a life of great severity and the strictest self-control, seeking out and living in parts of the desert wilder than those inhabited by any of the other monks there. This same man cast all the fathers and brothers of the nearby desert into inconsolable grief because, after so many labors and struggles, he was deceived by the devil and suffered such a disastrous fall. This would not have happened to him had he been armed with the virtue of discrimination, which would have taught him to trust, not his own judgment, but rather the advice of his fathers and brethren. Following his own judgment he fasted and isolated himself to such a degree that he did not even come to church for the Holy Pascha, lest by meeting the fathers and brethren and feeding with them he would be obliged to eat lentils or whatever else was brought to the table, thereby appearing to fall short of the target which he had set himself.
“Lời của Thánh Antôn được các vị lão phụ khác đồng thanh tán thành. Nhưng để xác nhận điều ngài dạy bằng một minh chứng cụ thể trong thời của chúng ta, chúng ta hãy nhớ đến Abba Hiron, và việc chính mắt chúng ta vừa chứng kiến ít lâu trước đây: ông đã bị quỷ dữ đánh lừa, và từ đỉnh cao của đời sống khổ hạnh, rơi xuống vực sâu của sự chết thiêng liêng. Chúng ta biết rằng ông đã sống hơn năm mươi năm trong sa mạc gần đây, dẫn thân vào nếp sống vô cùng khắc khổ và tự chế nghiêm ngặt, luôn tìm đến những vùng hoang vắng hơn cả nơi các ẩn sĩ khác cư ngụ.Thế nhưng chính người này đã khiến toàn thể các linh phụ và huynh đệ trong sa mạc ấy đau buồn không nguôi, vì sau bao năm lao nhọc và chiến đấu, ông đã bị ma quỷ đánh lừa và ngã xuống trong thảm bại. Điều ấy đã không thể xảy ra, nếu như ông được trang bị bằng đức phân định, nhân đức sẽ dạy ông đừng tin vào phán đoán riêng, nhưng khiêm tốn lắng nghe lời khuyên của các cha và anh em. Bởi vì theo ý riêng mình, ông đã ăn chay và cô lập bản thân quá mức, đến nỗi ngay cả trong Lễ Phục Sinh, ông không đến nhà thờ để cử hành Thánh Lễ, sợ rằng nếu gặp gỡ các cha và cùng ăn với họ, ông sẽ phải dùng một ít đậu lăng hoặc món gì khác trên bàn, và như thế sẽ cảm thấy mình đã không đạt tới mức khổ hạnh mà ông đặt ra cho chính mình.
‘He had already for long been deceived in this way by his own willfulness when, coming upon an angel of Satan, he bowed before him as if he were an angel of light. The angel commanded him to hurl himself, around midnight, into a very deep well so that he might then know by experience, because of his great virtue and ascetic efforts, that he would never again be subject to any danger. His darkened mind failed to discern who was suggesting this to him, and he hurled himself into the well during the night. Soon afterwards the brethren, discovering what had happened, were only just able to pull him up half dead. He lived for two more days and died on the third, plunging his brethren and the priest Paphnoutios into great grief. The latter, moved by feelings of compassion and remembering Hiron’s numerous labors and the many years during which he had persevered in the desert, mentioned his name in the oblation for the dead so that he should not be numbered among those who have taken their own lives.
Ông đã từ lâu bị lừa dối theo ý riêng và sự ngoan cố của mình; cho đến một ngày, gặp phải một thiên thần của Satan, ông sấp mình bái lạy hắn như thể là một thiên thần ánh sáng. Tên “thiên thần” giả trá ấy bảo ông rằng: “Vào nửa đêm, hãy gieo mình xuống giếng thật sâu, và rồi ngươi sẽ được biết qua kinh nghiệm rằng – vì nhân đức lớn lao và công khó khổ hạnh của ngươi – ngươi sẽ chẳng bao giờ còn gặp nguy hiểm nào nữa.” Tâm trí ông vốn đã bị bóng tối che phủ, không còn đủ sáng suốt để nhận ra kẻ đang nói với mình, nên ông đã gieo mình xuống giếng trong đêm tối. Không lâu sau, các anh em phát hiện ra biến cố ấy và chỉ vừa kịp kéo ông lên trong tình trạng hấp hối. Ông sống thêm được hai ngày, và qua đời vào ngày thứ ba, khiến toàn thể các anh em và linh mục Paphnoutios đau buồn sâu sắc. Linh mục ấy, được động lòng thương xót và nhớ lại bao năm lao nhọc cùng nếp sống khổ hạnh của Hiron, đã nhắc đến tên ông trong lễ dâng cầu cho người qua đời, để ông không bị liệt vào số những kẻ đã tự kết liễu đời mình.
‘And what am I to say about those two brethren who lived beyond the desert of the Thebaid, where the blessed Antony once lived? Impelled by a thought the real nature of which they could not discern, they decided to go into the vast, uncultivated inner desert; and they even made up their minds to refuse food offered them by man, and to accept only what the Lord would give them in a miraculous fashion. Finally they were seen in the distance wandering about the desert, weak with hunger, by the Mazikes who, though fiercer and wilder than almost all other savage peoples, now providentially exchanged their natural wildness for humane feelings and went to meet them carrying loaves of bread. One of the two brethren accepted the bread with joy and thanksgiving, since his power of discrimination had returned and he realized that such wild and fierce men, who normally rejoice at the sight of blood, would not have felt sympathy with them in their exhaustion and brought them food if God had not moved them to it. The other, however, refused the food on the grounds that it was offered him by men arid, persisting in his undiscriminating judgment, he died from the weakness brought on by his hunger.
“Và tôi còn phải kể về hai anh em tu sĩ sống ở vùng xa hơn sa mạc Thebaid, nơi Thánh Antôn Cả đã từng cư ngụ? Được thúc đẩy bởi một ý tưởng mà họ không nhận ra bản chất thật của nó, họ quyết định bước sâu vào vùng sa mạc hoang vu, chưa từng có dấu chân người, và còn tự nguyện thề rằng sẽ không nhận của ăn từ tay người phàm, nhưng chỉ dùng những gì Thiên Chúa ban cho họ một cách nhiệm lạ. Cuối cùng, người ta thấy họ từ đàng xa đi lang thang giữa sa mạc, kiệt sức vì đói khát. Khi ấy, nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, có mấy người Mazikes – một giống dân dữ tợn và man rợ hơn hầu hết mọi dân dã man khác – đã tạm gác lại bản tính hung bạo của mình, và động lòng thương xót, mang bánh đến cho họ. Một trong hai anh em ấy vui mừng đón nhận bánh với lòng biết ơn, vì ơn phân định đã trở lại trong tâm trí ông. Ông hiểu rằng những con người vốn quen vui thích khi thấy máu đổ, lại có thể cảm thương họ trong cơn kiệt sức và mang lương thực đến cứu giúp, thì hẳn là Chính Thiên Chúa đã cảm hoá lòng họ. Còn người anh em kia, cứng lòng và ngoan cố trong phán đoán mù quáng của mình, từ chối của ăn vì cho rằng nó được trao bởi tay người phàm, và vì không chịu nhận ra ý Chúa qua biến cố ấy, nên ông đã chết trong sa mạc, do kiệt sức vì đói khát.
‘Both monks at first showed total lack of judgment and made a senseless and destructive plan. One of them, however, when his power of discrimination returned, corrected the decision he had made so recklessly. But the other, persisting in his stupid and. undiscriminating plan, brought upon himself the death which the Lord had wanted to avert.
Cả hai vị ẩn sĩ ấy, lúc đầu đều thiếu hẳn sự phân định, và đã đưa ra một quyết định dại dột, tự hủy hoại chính mình. Tuy nhiên, một người trong họ, khi ơn phân định được khơi dậy trở lại trong tâm hồn, đã tỉnh ngộ và sửa lại quyết định nông nổi trước đó. Còn người kia,cứ khăng khăng bám chặt lấy ý nghĩ ngu muội và kế hoạch mù quáng của mình, nên đã chuốc lấy cái chết mà Chúa muốn cứu ông khỏi phải chịu.
‘What am I to say about another monk whose name I do not wish to mention because he is still alive? He frequently entertained a demon as if he were an angel and received revelations from him, often seeing what looked like the light of a lamp in his cell. Later, he was ordered by this demon to offer his son as a sacrifice to God – his son was staying with him in the monastery – on the grounds that he would as a result be deemed worthy of the honor accorded to the patriarch Abraham. He was so led astray by the demon’s advice that he would have carried out the sacrifice of his son, had the latter not seen him, contrary to his normal practice, sharpening a knife and preparing the bonds with which he was going to tie him up like a burnt offering. This enabled the son to make his escape.
Tôi còn phải kể về một tu sĩ khác, mà tôi không muốn nêu tên, bởi ông ta vẫn còn sống cho đến nay? Người ấy đã nhiều lần tiếp chuyện với một tên quỷ, ngỡ rằng đó là thiên thần, và thường lãnh nhận những “mạc khải” từ nó, đến nỗi nhiều lần trông thấy ánh sáng như ngọn đèn chiếu rọi trong cốc của mình. Sau đó, tên quỷ ra lệnh cho ông dâng chính người con trai của mình làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa — đứa con ấy đang sống cùng ông trong tu viện — nói rằng “Như vậy, ngươi sẽ được Thiên Chúa tôn vinh như tổ phụ Abraham.” Bị lừa dối nặng nề bởi lời xúi giục của quỷ, ông đã hoàn toàn tin rằng đó là ý Chúa, và sẵn sàng thực hiện việc tế lễ khủng khiếp ấy. Nhưng người con, thấy cha mình – điều chưa từng xảy ra trước đó – đang mài con dao và chuẩn bị dây trói, thì hiểu ra điều gì đang diễn ra và vội vã trốn thoát.
In reply to this Germanos said: ‘By means of these recent examples and the statements of the fathers of old, youhave made it clear that discrimination is the source, root, crown and common bond of all the virtues. But we would like very much to know how we can acquire it, and how we can recognize the true kind of discrimination which comes from God and distinguish it from the false and fictitious kind that comes from the devil.
Khi nghe thế, Đức ông Germanos lên tiếng đáp: “Qua những gương cụ thể mà cha vừa kể, cùng với lời chứng của các thánh phụ thời xưa, cha đã cho chúng con thấy rõ rằng đức phân định chính là nguồn mạch, là rễ, là vương miện, và là mối dây liên kết chung của mọi nhân đức. Tuy nhiên, chúng con rất khao khát được biết làm sao có thể đạt được ân huệ này, và làm sao để nhận ra sự phân định đích thực đến từ Thiên Chúa, mà phân biệt nó với thứ giả trá, hư huyễn và nguy hiểm, do ma quỷ gieo vào để đánh lừa linh hồn.”
Abba Moses then said: ‘True discrimination comes to us only as a result of true humility, and this in turn is shown by our revealing to our spiritual fathers not only what we do but also what we think, by never trusting our own thoughts, and by following in all things the words of our elders, regarding as good what they have judged to be so. In this way not only does the monk remain unharmed through true discrimination and by following the correct path, but he is also kept safe from all the snares of the devil. It is impossible for anyone who orders his life on the basis of the judgment and knowledge of the spiritually mature to fall because of the wiles of the demons. In fact, even before someone is granted the gift of discrimination, the act of revealing his base thoughts openly to the fathers weakens and withers them. For just as a snake which is brought from its dark hole into the light makes every effort to escape and hide itself, so the malicious thoughts that a person brings out into the open by sincere confession seek to depart from him.
Abba Moses nói: “Sự phân định đích thực chỉ đến với chúng ta như hoa trái của đức khiêm nhường chân thật. Còn đức khiêm nhường ấy được biểu lộ khi ta tỏ bày cho cha linh hướng của mình không chỉ những việc làm bên ngoài, mà cả những ý nghĩ thầm kín trong lòng; khi ta không bao giờ tin tưởng vào phán đoán riêng của mình, và khi ta vâng theo lời dạy của các bậc trưởng lão trong mọi sự, xem là thiện điều mà các ngài đã xét là thiện. Bằng cách ấy, người đan sĩ không những được bảo toàn khỏi lầm lạc nhờ sự phân định chân thật và giữ được con đường ngay chính, mà còn được gìn giữ khỏi mọi cạm bẫy của ma quỷ. Không ai có thể sa ngã nếu họ sắp đặt đời sống của mình theo phán đoán và sự hiểu biết của những người đã trưởng thành trong Thần Khí; bởi ma quỷ không thể làm hại kẻ luôn vâng phục và sống trong ánh sáng. Thực vậy, ngay cả trước khi người ta được Thiên Chúa ban ơn phân định, thì chính hành động khiêm tốn tỏ bày những tư tưởng hèn hạ của mình cho các cha đã khiến chúng suy yếu và khô héo. Vì cũng như con rắn, khi bị lôi ra khỏi hang tối ra ánh sáng, nó liền tìm cách trốn chạy và ẩn mình, thì cũng vậy, những ý tưởng xấu xa trong lòng người, khi được đưa ra ánh sáng nhờ lời thú nhận chân thành, sẽ tự tìm đường rời khỏi tâm hồn kẻ ấy.
In order to give you a more accurate understanding of this virtue by means of an example, I shall tell you of something that Abba Serapion once did and which he used to speak about to those who came to him for help. He used to say: “When I was a young man I lived with my spiritual father, and at mealtimes, prompted by the devil, I would steal a rusk as I got up from the table and eat it without my father’s knowledge. Because I persisted in this habit, I was utterly overcome by it and was unable to conquer it. Though I was condemned by my own conscience, I was ashamed to speak of it to my father. But through God’s love it happened that certain brethren came to the old man for advice and asked him about their thoughts. The elder replied that nothing so harms a monk and brings such joy to the demons as the hiding of one’s thoughts from one’s spiritual father. He also spoke to them about selfcontrol. As this was being said I came to myself and, thinking that God had revealed my past mistakes to the elder, I was pricked with compunction and began to cry, throwing from my pocket the rusk which I had stolen as usual. Casting myself to the ground I begged his forgiveness for my past faults and his prayers for my future safety. Then the old man said;
Để giúp anh em hiểu rõ hơn về nhân đức này, tôi sẽ kể lại một câu chuyện mà chính Abba Serapion thường nhắc lại với những ai đến xin ngài chỉ dẫn. Ngài nói: “Khi tôi còn là một thanh niên, tôi sống cùng với cha linh hướng của mình. Vào giờ dùng bữa, bị ma quỷ xúi giục, tôi lén lấy một miếng bánh khô (rusk) khi đứng dậy khỏi bàn ăn, và ăn vụng mà không cho cha biết. Tôi lặp lại thói quen ấy nhiều lần, đến nỗi hoàn toàn bị nó chế ngự, và không còn đủ sức tự thắng mình. Lương tâm tôi cắn rứt, nhưng tôi xấu hổ không dám nói với cha linh hướng. Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, có lần một vài anh em đến thăm vị trưởng lão, xin ngài giải đáp về những tư tưởng cám dỗ. Khi nghe họ hỏi, vị lão trượng nói rằng: “Không có điều gì làm hại người đan sĩ cho bằng việc giấu giếm những tư tưởng của mình, và không có điều gì khiến ma quỷ vui mừng hơn là thấy một linh hồn không chịu tỏ bày.” Ngài cũng nói nhiều về đức tiết độ và sự tỉnh thức trong đời sống nội tâm. Khi nghe những lời ấy, tôi chợt bừng tỉnh và tin rằng Thiên Chúa đã mạc khải lỗi lầm của tôi cho cha. Lòng tôi tan nát, tôi bật khóc nức nở, và ném khỏi túi miếng bánh khô mà tôi vừa lén lấy như mọi khi. Rồi tôi sấp mình xuống đất, xin cha tha thứ cho những lỗi lầm đã qua, và xin cha cầu nguyện để tôi được gìn giữ trong tương lai. Bấy giờ, vị lão trượng nói với tôi:
My child, your confession has freed you, although I was silent. You have slain the demon that was wounding you because of your silence, by expressing openly what you were keeping to yourself. Until this moment you ensured that he would be your master by not opposing or rebuking him. From now on, however, he will no longer find room in you, since he has been brought out of your heart into the open.’ The old man had not finished speaking when the energy of the demon could be seen coming out of my breast like the flame of a lamp. It filled the room with a nasty smell, so dial those present thought that a lump of sulphur was burning. Then the elder said: ‘Look, through this sign the Lord has borne witness to my words and to your deliverance.’ Thus, as the result of my confession, the passion of gluttony and the demonic energy left me and I never again felt any such desire.”
“Con của ta, chính lời xưng thú của con đã giải thoát con, cho dù ta chưa kịp nói một lời nào. Con đã giết chết con quỷ đang làm tổn thương con, khi mang ra ánh sáng điều con đã giấu kín trong lòng. Cho đến giờ phút này, chính vì con giữ im lặng, con đã trao cho nó quyền thống trị trên con, vì con không chống lại nó, cũng chẳng quở trách nó. Từ nay trở đi, nó sẽ không còn chỗ nào trong lòng con nữa, vì nó đã bị lôi ra khỏi tim con và đưa ra ánh sáng.” Khi vị lão trượng vừa nói xong, mọi người thấy một luồng khí bốc ra từ ngực tôi, như ngọn lửa của một chiếc đèn, và cả căn phòng tràn ngập một mùi hôi khủng khiếp, khiến những người đứng đó ngỡ như có khối lưu huỳnh đang cháy. Rồi vị lão trượng nói: “Hãy xem, qua dấu chỉ này, Chúa đã chứng nhận lời ta, và cũng xác nhận sự giải thoát của con.” Như thế, nhờ việc xưng thú của tôi, tà khí của tính háu ăn và năng lực của quỷ dữ đã rời khỏi tôi, và **từ đó trở đi tôi không còn bị cơn thèm khát ấy quấy nhiễu nữa.”
‘From what Abba Serapion said, we can learn that we shall be granted the gift of true discrimination when we trust, no longer in the judgments of our own mind, but in the teaching and rule of our fathers. The devil brings the monk to the brink of destruction more effectively through persuading him to disregard the admonitions of the fathers and follow his own judgment and desire, than he does through any other fault. We should learn from examples provided by human arts and sciences. If we cannot accomplish anything in them by ourselves – in spite of the fact that they deal with things we can touch with our hands, see with our eyes and hear with our ears – but still need someone who will instruct us well and guide us, how can it be anything but foolish to think that the spiritual art, the most difficult of all the arts, has no need of a teacher? It is an invisible, hidden art which is understood only through purity of heart, and failure in it brings, not temporary loss, but the soul’s destruction and eternal death.
Từ lời của Abba Serapion, chúng ta có thể học được rằng ơn phân định đích thực chỉ được ban cho khi ta không còn đặt niềm tin nơi phán đoán của trí mình, nhưng hoàn toàn phó thác cho sự dạy dỗ và hướng dẫn của các linh phụ. Ma quỷ không có gì lừa dối người đan sĩ hữu hiệu hơn là thuyết phục họ coi thường những lời khuyên của các bậc khôn ngoan và làm theo phán đoán hay ý riêng của mình. Qua điều này, nó đưa linh hồn đến bờ vực diệt vong còn nhanh hơn bất cứ cơn cám dỗ nào khác. Hãy học bài học này ngay từ những nghệ thuật và khoa học nơi trần thế. Trong những việc hữu hình, những điều mà ta có thể chạm bằng tay, thấy bằng mắt, nghe bằng tai, nếu chúng ta cũng không thể tự mình đạt được điều gì, nếu không có thầy chỉ dạy và hướng dẫn khéo léo, thì há chẳng phải là dại dột lắm sao khi nghĩ rằng trong nghệ thuật thiêng liêng – vốn là môn học cao cả và khó khăn nhất trong mọi nghệ thuật – ta có thể tự mình đạt tới mà không cần thầy dạy? Nghệ thuật thiêng liêng ấy là một khoa học vô hình, ẩn tàng, chỉ có thể hiểu thấu qua sự thanh khiết của tâm hồn, và nếu thất bại trong nó, thì hậu quả không chỉ là mất mát tạm thời, mà là sự hư mất của linh hồn và cái chết đời đời.
Germanos then said: ‘Certain fathers who have listened to the thoughts of the brethren have often not only failed to heal them, but have even condemned them and driven them to despair. This has provided us with an excuse for shameful and harmful caution; for we ourselves know of cases of this kind in the region of Syria. A certain brother revealed his private thoughts to one of the elders living in those parts, unashamedly laying bare the hidden things of his heart with complete simplicity and truth. When the elder heard these things, however, he at once began to be angry with the brother and to attack him, rebuking him for having such base thoughts. As a result, many who heard of this were ashamed to tell their thoughts to the elders.
Bấy giờ Germanos nói: “Có những vị phụ lão, khi lắng nghe các anh em bày tỏ những tư tưởng của họ, đã không những không chữa lành được, mà còn khiển trách, kết án, và làm họ ngã lòng. Chính điều đó đã khiến nhiều người trong chúng con tìm thấy cớ biện minh cho sự dè dặt sai lầm và tai hại, vì chúng con chính mắt đã chứng kiến những trường hợp như thế tại vùng Syria. Một người anh em nọ, với tấm lòng đơn sơ và chân thật, đã không hổ thẹn bày tỏ những ý tưởng thầm kín của mình cho một vị phụ lão sống tại đó, phơi bày trọn vẹn những gì giấu sâu trong lòng. Nhưng khi vị phụ lão nghe xong, ngài liền nổi giận với người anh em ấy, và mắng nhiếc ông nặng lời, khiển trách vì đã dám có những tư tưởng hèn hạ như thế. Kết quả là, nhiều người khác nghe chuyện này đã sinh lòng xấu hổ, không còn dám tỏ bày những tư tưởng của họ với các vị phụ lão nữa.
Abba Moses said: ‘It is a good thing, as I said, not to hide your thoughts from the fathers. But you should not tell them to just anyone; you should confess them to spiritual masters who have discrimination, not simply to those whose hair has grown white with age. Many who have looked to age as a guide, and then revealed their thoughts, have not only remained unhealed but have been driven to despair because of the inexperience of those to whom they confessed. There was once a very zealous brother who was greatly troubled by the demon of unchastity. He went to a certain father and confessed his private thoughts to him; but this father, being inexperienced, became angry when he heard about them and told the brother that he was contemptible and unworthy of the monastic habit for having entertained thoughts such as these. When the brother heard this, he lost heart, left his cell and set off back to the world. Through God’s providence, however, Abba Apollos, one of the most experienced of the elders, chanced to meet him and, seeing him over-wrought and very despondent, asked him why he was in this state. At first the brother did not reply because he was so depressed but, after the elder had pleaded with him, he told him what waswrong, saying: “Because I was often troubled by evil thoughts, I went to tell them to the elder; and as he said I have no hope of salvation, I have given up and am now on my way back to the world.”
Abba Moses nói: “Như ta đã nói, thật là một điều tốt đẹp khi không giấu giếm những tư tưởng của con khỏi các vị cha thiêng liêng. Tuy nhiên, không phải ai cũng xứng đáng để con tỏ bày tâm hồn mình; con chỉ nên xưng thú với những người thực sự có ơn phân định thiêng liêng, chứ không phải chỉ vì họ đã có mái tóc bạc theo năm tháng. Nhiều người đã lấy tuổi tác làm tiêu chuẩn và bày tỏ tư tưởng của mình cho các vị cao niên thiếu kinh nghiệm, nên không những không được chữa lành, mà còn rơi vào thất vọng và tuyệt vọng sâu xa. Có một người anh em rất nhiệt thành, bị quỷ dâm ô cám dỗ mãnh liệt, nên ông đến gặp một vị cha để xưng thú những tư tưởng thầm kín của mình. Nhưng vị cha ấy, vì thiếu kinh nghiệm thiêng liêng, đã nổi giận khi nghe những điều ấy, và khiển trách người anh em rằng anh ta thật hèn hạ, không xứng đáng mặc tu phục, vì đã dung dưỡng những ý tưởng ô uế như thế. Khi nghe những lời ấy, người anh em tan nát cõi lòng, rời khỏi cella của mình và quyết định trở lại đời sống thế gian. Nhưng trong sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa, Abba Apollos, một trong những vị lão trượng khôn ngoan và dày dạn nhất, vô tình gặp ông trên đường. Nhìn thấy ông buồn bã, bơ phờ và đau khổ, Abba Apollos hỏi nguyên do. Ban đầu, người anh em không thể mở miệng, vì nỗi buồn và tuyệt vọng đã trói chặt lòng ông. Nhưng sau khi vị lão trượng kiên nhẫn nài nỉ, ông bắt đầu kể lại toàn bộ sự việc, nói rằng: “Vì bị quấy nhiễu bởi những tư tưởng xấu xa, con đã đến thú nhận với vị cha kia, nhưng ngài bảo rằng con không còn hy vọng được cứu rỗi. Thế nên con đã mất hết can đảm và đang trên đường quay lại với thế gian.”
When Abba Apollos heard this, he comforted and encouraged him, saying: “Do not be surprised, my child, and do not lose hope. I too, old and grey as I am, am still much troubled by these thoughts. Do not be discouraged by this burning desire, which is healed not so much by human effort as by God’s compassion. Please do this for me: go backto your cell just for today.” This the brother did; and Apollos, after leaving him, went to the cell of the elder who hadcaused his despair. Standing outside he implored God with tears and said: “0 Lord, who puts us to the test for ourown benefit, let this elder be given the brother’s battle, so that in old age he may learn through experience what hehas not been taught over these many years: how to feel sympathy with those who are under attack by the demons.”As he finished his prayer, he saw a dark figure standing near the cell shooting arrows at the elder. Wounded by thearrows, the elder at once began to stumble back and forth as though drunk. Unable to withstand the attack, he finally left his cell and set off for the world by the same road that the young monk had taken
Khi Abba Apollos nghe điều ấy, ngài an ủi và khích lệ người anh em bằng những lời đầy cảm thông: “Đừng ngạc nhiên, hỡi con của cha, cũng đừng đánh mất niềm hy vọng của con. Cha đây — dù đã già nua, đầu bạc râu bạc — vẫn còn phải chiến đấu không ngừng với những tư tưởng như thế. Đừng để lòng con chán nản vì ngọn lửa dục vọng này; bởi vì nó không được dập tắt nhờ sức riêng của con người, nhưng nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Cha nài xin con, hãy trở lại cella của mình, ít nhất là hôm nay thôi.” Người anh em ấy vâng lời và trở về cella (phòng riêng của đan sĩ), trong khi Abba Apollos sau đó đi đến cella của vị trưởng lão đã khiến người anh em rơi vào tuyệt vọng. Đứng bên ngoài cửa cella ấy, ngài đổ lệ cầu nguyện cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Đấng dùng thử thách mà uốn luyện chúng con vì phần rỗi, xin cho vị trưởng lão này phải chịu chính cơn chiến đấu mà người anh em trẻ kia đã phải chịu, để đến khi tuổi già, ông có thể học được qua kinh nghiệm điều mà suốt bao năm dài ông chưa từng được dạy dỗ: biết cảm thông với những ai đang bị quỷ dữ tấn công.” Khi vừa dứt lời cầu nguyện, Abba Apollos thấy một bóng đen dữ tợn xuất hiện gần cella của vị trưởng lão, bắn những mũi tên liên tiếp vào ông. Bị thương bởi những mũi tên đó, vị trưởng lão lảo đảo, đi lại như người say, không thể chịu nổi sự tấn công dữ dội của ma quỷ. Cuối cùng, ông cũng bỏ cella của mình và đi ra thế gian theo cùng con đường mà người anh em trẻ kia đã đi trước đó.
‘Seeing what had happened, Abba Apollos confronted him, and asked him where he was going and why he was so troubled. Although he realized that the holy man knew what was wrong with him, he was too ashamed to say anything. Abba Apollos then said to him: “Return to your cell, and in the future recognize your own weakness. The devil has either not noticed or has despised you, and so not thought you worth fighting. Not that there has been any question of a fight: you could not stand up to his provocation even for a day! This has happened to you because, when you received a younger brother who was being attacked by our common enemy, you drove him to despair instead of preparing him for battle. You did not recall that wise precept: ‘Deliver them that are being led away to death; and redeem them that are appointed to be slain’ (Prov. 24:11. LXX). You did not even remember the parable of our Saviour, which teaches us not to break a bruised reed or quench smoking flax (cf. Matt. 12:20). None of us could endure the plots of the enemy, or allay the fiery turmoil of our nature, if God’s grace did not protect our human weakness. Seeing, then, that God has had this compassion for us, let us pray to Him together and ask Him to withdraw the whip with which He has lashed you. ‘For He wounds but binds up; He strikes but His hands heal’ (Job 5:18). “The Lord kills and gives life; he brings down to the grave and raises again. . . . He brings low and lifts up’ (1 Sam. 2:6-7).” After Abba Apollos had said this and had prayed, the attack which had been launched against the elder was at once suspended. Finally, Abba Apollos advised him to ask God to give him “the tongue of the learned” so as to know “how to speak a word in season” (Isa. 50:4)
Thấy điều đã xảy ra, Abba Apollos đi đến gặp vị trưởng lão, và hỏi ông: “Cha đi đâu vậy? Vì sao cha lại bối rối và đau khổ đến thế?” Vị trưởng lão, biết rõ rằng vị thánh của Thiên Chúa đã hiểu điều gì đang xảy ra trong lòng mình, nhưng xấu hổ không dám thốt nên lời. Bấy giờ Abba Apollos nói với ông: “Hãy trở về cella của cha, và từ nay hãy nhận ra chính sự yếu đuối của mình. Ma quỷ trước đây chẳng hề để ý đến cha, hoặc coi thường cha, vì nó thấy cha không đáng để giao chiến. Không phải là cha đã chiến đấu, bởi vì cha đã không thể đứng vững trước sự tấn công của nó dù chỉ trong một ngày! Điều này đã xảy ra bởi vì khi một người anh em trẻ hơn, bị kẻ thù chung của chúng ta tấn công, đến xin cha trợ giúp, thay vì nâng đỡ và chuẩn bị cho anh ta chiến đấu, cha lại đẩy anh ta vào tuyệt vọng. Cha đã quên lời dạy khôn ngoan của Kinh Thánh: “Hãy cứu những kẻ bị dẫn đến chỗ chết, và hãy chuộc lại những người bị đem đi để bị giết.” (Cn 24,11 – Bản Bảy Mươi) Cha cũng đã không nhớ dụ ngôn của Đấng Cứu Thế, Đấng dạy ta rằng: “Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng,” (x. Mt 12,20) Không ai trong chúng ta có thể chống lại mưu kế của kẻ thù, hoặc dập tắt ngọn lửa đam mê trong bản tính mình, nếu ơn thánh của Thiên Chúa không chở che cho sự yếu hèn của ta. Vậy, vì Thiên Chúa đã thương xót chúng ta, hãy cùng nhau cầu nguyện, và xin Người cất khỏi cha cây roi phạt mà Người đã giáng xuống, bởi vì, như Kinh Thánh nói: “Người gây thương tích, cũng chính Người băng bó, đánh bầm dập xong, lại ra tay chữa lành.” (G 5,18) Và còn rằng: “ĐỨC CHÚA là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. ĐỨC CHÚA bắt phải nghèo và cho giàu có, Người hạ xuống thấp, Người cũng onhắc lên cao.” (1 Sm 2,6–7) Khi Abba Apollos nói xong và cầu nguyện, cơn tấn công mà ma quỷ đã giáng trên vị trưởng lão lập tức chấm dứt. Cuối cùng, Abba Apollos khuyên ông rằng: “Hãy cầu xin Thiên Chúa ban cho cha ‘lưỡi của người môn đệ’, để cha biết nói một lời đúng lúc mà nâng đỡ kẻ mệt nhọc.” (x. Is 50,4)
‘From all that has been said, we may conclude that nothing leads so surely to salvation as to confess our private thoughts to those fathers most graced with the power of discrimination, and in our pursuit of holiness to be guided by them rather than by our own thoughts and judgment. Nor should the fact that we may encounter an elder who is somewhat simple-minded or lacking in experience either prevent us from confessing to the fathers who are truly qualified or make us despise our ancestral traditions. Many texts from the divine Scriptures make it clear that the fathers did not say these things according to their own-lights, but were inspired by God Himself and by the Scriptures to hand down to their successors the tradition of asking advice from those who had traveled far along the spiritual path. This is borne out especially by the story of the holy Samuel, who from infancy was dedicated by his mother to God and was granted communion with Him. He still did not trust his own thoughts, and in spite of having been called three times by God, he went to the elder, Eli, and was instructed and guided by him about how he should answer God (cf. 1 Sam. 3:9-10). Although God called him personally, none the less He wanted Samuel to receive the guidance anddiscipline of the elder, so that by means of this example we too might be led towards humility.
Từ tất cả những điều đã được nói đến nay, ta có thể kết luận một cách chắc chắn rằng: Không có gì dẫn con người đến ơn cứu độ một cách chắc chắn hơn là thành thật xưng thú những tư tưởng thầm kín của mình với những vị cha được Thiên Chúa ban ơn phân định cách dồi dào, và trong hành trình nên thánh, để cho đời sống mình được hướng dẫn bởi họ, chứ không phải bởi ý nghĩ hay sự phán đoán riêng của bản thân. Chúng ta không được để cho việc gặp phải một vị trưởng lão có phần chất phác hay thiếu kinh nghiệm khiến ta chán nản, không muốn bày tỏ lòng mình với những vị cha thực sự khôn ngoan, cũng đừng vì thế mà coi thường truyền thống linh thiêng đã được các tổ phụ truyền lại cho chúng ta. Nhiều đoạn trong Thánh Kinh cho thấy rằng các thánh phụ không nói theo ý riêng của họ, nhưng được chính Thiên Chúa soi sáng và được Kinh Thánh hướng dẫn, để truyền lại cho các thế hệ sau truyền thống thánh thiện này: luôn tìm lời khuyên của những người đã đi xa hơn ta trên đường thiêng liêng. Câu chuyện về Thánh Samuen (Samuel) minh chứng điều đó cách đặc biệt. Từ thuở ấu thơ, ông đã được mẹ dâng hiến cho Thiên Chúa, và được diễm phúc thông hiệp với Người. Thế nhưng, ông vẫn không dám tin tưởng vào phán đoán của chính mình; dù được Thiên Chúa đích thân gọi đến ba lần, ông vẫn chạy đến với vị lão trượng Êli, để hỏi ý kiến và xin được chỉ dạy cách đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa (x. 1 Samuel 3,9–10). Mặc dù Thiên Chúa đích thân kêu gọi ông, Người vẫn muốn ông được hướng dẫn và rèn luyện qua tay của bậc lão trượng, để qua tấm gương đó, chúng ta cũng học biết con đường của khiêm nhường, là nền tảng của ơn phân định và của mọi nhân đức.
When Christ Himself spoke to Paul and called him, He could have opened his eyes at once and made known to him the way of perfection; instead He sent him to Ananias and told him to learn from him the way of truth, saying: “Arise and go into the city, and there you will be told what you must do” (Acts 9:6). In this manner He teaches us to be guided by those who are advanced on the way, so that the vision rightly given to Paul should not be wrongly interpreted; otherwise it might lead later generations presumptuously to suppose that each individual must be initiated into the truth directly by God, as Paul was, and not by the fathers.
Khi chính Đức Kitô hiện ra và nói với Thánh Phaolô, Người hoàn toàn có thể mở mắt ông ngay tức khắc và tỏ cho ông biết con đường của sự hoàn thiện. Thế nhưng, thay vì làm như thế, Người sai ông đến với ông Khanania (Anania) và bảo ông học hỏi nơi vị ấy con đường chân lý,nói rằng: “Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì.” (Cv 9,6) Bằng cách ấy, Đức Kitô muốn dạy chúng ta rằng phải để mình được hướng dẫn bởi những người đã đi xa hơn ta trên đường thiêng liêng. Nhờ vậy, thị kiến mà Phaolô đã nhận được cách chính đáng sẽ không bị diễn giải sai lạc, và sẽ không trở thành cớ vấp phạm cho những thế hệ mai sau, khiến họ tự phụ mà cho rằng mỗi người đều có thể trực tiếp được Thiên Chúa mặc khải chân lý, như Phaolô đã được, mà không cần đến sự hướng dẫn của các cha linh hướng.
“That this is the correct interpretation of these incidents can be seen not only from what is said here, but also from St Paul’s own actions. He writes that he went up to Jerusalem to see Peter and James, and “laid before them the gospel I preach … in case I was running or had run in vain” (Gal. 2: 2); and he did this even though the grace of the Holy Spirit was already with him, as can be seen from the miracles which he performed. Who, then, can be so proud and boastful as to be satisfied with his own judgment or opinion, when St Paul himself admits that he needs the advice of those who were apostles before him? All this shows with complete clarity that the Lord reveals the way of perfection only to those guided to it by their spiritual fathers. This accords with what He Himself has said through the Prophet: “Ask your father, and he will show you; your elders, and they will tell you” (Deut. 32:7).
Rằng cách hiểu ấy là đúng, ta có thể thấy rõ không chỉ qua những lời đã nói, mà còn qua chính hành động của Thánh Phaolô. Ngài viết rằng ngài đã lên Giêrusalem để gặp Phêrô và Giacôbê, và trình bày với các ngài Tin Mừng mà ngài đang rao giảng, “Tôi lên đó vì được Thiên Chúa mạc khải, và đã trình bày cho người ta Tin Mừng tôi rao giảng cho dân ngoại, –cách riêng cho các vị có thế giá–, vì sợ rằng tôi ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích.” (Gl 2,2) Và ngài đã làm điều đó, mặc dù ân sủng của Chúa Thánh Thần đã ở cùng ngài, như có thể thấy rõ qua những phép lạ mà ngài đã thực hiện. Vậy thì, ai có thể tự phụ đến mức thoả mãn với phán đoán hay ý kiến riêng của mình, khi chính Thánh Phaolô — người đã được Chúa kêu gọi cách trực tiếp từ trời, người đã được soi sáng bởi Thần Khí — vẫn khiêm tốn nhìn nhận rằng mình cần đến lời khuyên của những vị Tông Đồ đi trước? Tất cả những điều ấy cho thấy một cách hoàn toàn rõ ràng rằng: Chúa chỉ mạc khải con đường trọn lành cho những ai được hướng dẫn trên đó bởi các cha linh hướng của mình. Điều này phù hợp với chính lời Người phán qua miệng Ngôn Sứ: “Hãy nhớ lại những ngày xưa tháng cũ, và ngẫm xem từng thế hệ qua rồi. Cứ hỏi cha ngươi là người sẽ dạy, thỉnh bậc lão thành, họ sẽ nói cho nghe.” (Đnl 32,7)
‘We should therefore make every effort to acquire for ourselves that gift of discrimination which is able to keep us from excess in either direction. For, as the fathers have said, all extremes are equally harmful. It is as dangerous to fast too much as it is to overfill the stomach; to stay awake too long as to sleep too much; and so on. I myself have known monks who were not defeated by gluttony, but were undermined by immoderate fasting and lapsed into gluttony because of the weakness caused by this fasting. Indeed, I can remember having experienced this one myself. I had kept such strict control over my food that I forgot what it meant to be hungry, remaining without food for two or three days and still feeling no desire for it whatsoever, unless prompted by others. Then, through the wiles of the devil, I was so tormented by insomnia that, having remained awake for many nights, I begged God to grant me a little sleep. Thus I was in greater danger because of my immoderate fasting and insomnia than I was from gluttony and too much sleep.
Vì thế, chúng ta phải nỗ lực hết sức để lĩnh nhận cho được hồng ân của sự phân định, ơn có thể gìn giữ chúng ta khỏi rơi vào những thái quá ở bất cứ phía nào. Bởi vì — như các Thánh Phụ đã dạy — mọi hình thức cực đoan đều nguy hiểm như nhau. Thật vậy, nhịn ăn quá mức cũng nguy hại chẳng khác gì ăn uống quá độ; thức canh quá lâu cũng có thể gây hại chẳng khác nào ngủ quá nhiều; và cũng như thế trong mọi sự khác. Chính tôi từng biết những tu sĩ, không bị hạ gục bởi tính tham ăn, nhưng lại sụp đổ vì việc ăn chay quá độ, đến nỗi sự yếu nhược do nhịn ăn thái quá đã khiến họ rơi trở lại vào chính tội tham ăn mà họ từng chiến đấu chống lại. Thật ra, chính tôi cũng đã có kinh nghiệm ấy. Tôi đã khắc khổ đến mức quên mất cảm giác đói, ở lại trong sa mạc hai hay ba ngày liền không ăn gì, và không hề cảm thấy một chút thèm ăn nào, trừ khi được người khác nhắc nhở. Nhưng rồi, vì mưu kế của ma quỷ, tôi bị dày vò dữ dội bởi chứng mất ngủ, đến nỗi sau nhiều đêm thức trắng liên tiếp, tôi van xin Thiên Chúa ban cho mình chỉ một chút giấc ngủ mà thôi. Như thế, tôi nhận ra rằng tôi đã lâm vào nguy hiểm lớn hơn do việc ăn chay và thức canh quá mức, hơn là do tội tham ăn và ngủ nhiều.
Abba Moses so cheered us with teaching of this kind that we could not help glorifying the Lord who grants such great wisdom to those who fear Him; for to Him belong honor and power through all the ages. Amen.
Abba Moses đã khích lệ chúng tôi bằng những lời giáo huấn như thế, đến nỗi chúng tôi không thể nào ngăn được lòng ca ngợi Thiên Chúa, Đấng ban tặng sự khôn ngoan cao cả như vậy cho những ai biết kính sợ Người. Vì muôn vinh quang, danh dự và quyền năng đều thuộc về Người, từ đời nọ sang đời kia, đến muôn thuở muôn đời. Amen.
(Ghi chú: Một số đoạn Kinh Thánh được sử dụng theo bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ)