Đây là bài viết trích từ tạp chí THE WAY, (1987) tt. 88-100. Bài viết này là bản ghi rút ngắn của cuộc linh mục Roland Walls nói chuyện tại tu viện Phật giáo Amaravati, ở Great Gaddesdon, Hertfordshire, Anh quốc. Cha Roland Walls đã từng làm giáo sư lâu năm tại các đại học Cambridge và Edinburg, Anh quốc. Sau 41 năm làm linh mục Anh giáo, năm 1981, ngài đã được đón nhận vào trong Giáo hội Công giáo, và năm 1983 thì được thụ phong linh mục công giáo. Từ năm 1965 đến nay, ngài là thành viên trong Cộng đoàn đại kết Biến Hình tại Roslin. Lời mở đầu và phần đáp từ là của Đại đức Sumedho, tu viện trưởng Tu viện Phật giáo Tiểu thừa tại Hertfordshire.
Sáng nay, tôi muốn xin cha Roland Walls cho phép tôi trình bày cảm nghĩ riêng của tôi về đời sống tôn giáo, vì tôi tin rằng hiện nay, rất nhiều người đang bắt đầu lần mò đi tìm trở lại một con đường tôn giáo. Còn các tôn giáo thì dường như đang bị đóng khung vào trong những lập trường giáo lý cùng truyền thống hiện hành, và như thế tầm nhìn của chúng ta bị cản ngăn, không thể thấy xa hơn được. Vấn đề tôi muốn nêu lên ở đây là: Cái gì sẽ xảy tới, nếu không còn lời để nói nữa? Và lúc đó, liệu còn có kinh nghiệm tôn giáo nữa hay không? Nếu bất thần, tất cả chúng ta đều mất đi khả năng để nói hay để xử dụng các ký hiệu, thì thử hỏi còn có thể có được một kinh nghiệm tôn giáo sung mãn và đầy sức soi sáng, vượt ra ngoài biên giới của ngôn từ và ký hiệu hay không?
Tôi được nuôi nấng và dạy dỗ như một người Kitô, và tôi nhận thấy rằng đa số chúng ta ở đây đều có kinh nghiệm như thế. Chúng ta đã lớn lên trong một nước theo Kitô giáo, và do đó, không thể nào tránh được sự việc là có một số nhận thức sẽ ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của chúng ta, cho dù mức hiểu biết của chúng ta về đạo giáo có ít ỏi đến mấy đi nữa. Nói cách khác, chúng ta vẫn còn thừa hưởng kiến thức giáo lý ấy như là một phần trong di sản văn hoá của chúng ta. Điều này ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ và nhìn về cuộc sống.
Giữa các tín đồ Phật giáo ở Âu châu và Mỹ châu, đôi khi tôi thấy có những người gạt bỏ hẳn Kitô giáo và đã đi tìm chân lý cùng những giải đáp về tôn giáo ở trong Phật giáo, và tôi cũng nhận thấy là họ đau khổ vì nuôi một thứ thành kiến hay ác cảm đối với Kitô giáo. Như thế là vì họ thấy những gì họ được dạy vẽ về Kitô giáo, đều như thể là không đúng với thực tế và với sự thật. Khi nói chuyện với cha Roland, tôi cảm thấy rằng lời nói, từ vựng và ký hiệu không phải là vấn đề thực sự cần được đặt ra. Như thế là vì nếu có người thật sự quyết tâm thực hành một hình thức đạo giáo, thì khi ấy, mức độ cảm nghiệm sẽ hết sức sâu thẳm và vượt quá hẳn những quy ước đã được định rõ của tôn giáo. Ngay cả khi chúng ta cố dùng ngôn từ và ký hiệu đặc biệt mà mô tả cho được nó, thì cảm nghiệm ấy vẫn là một kinh nghiệm khôn tả. Nhưng trong thực tế, còn biết làm gì hay hơn là dùng ngôn ngữ quy ước hiện có của tôn giáo.
Linh Mục Roland Walls: Con Đường nào?
Có một thời, tôi rất thích tìm hiểu về hết mọi hình thức của đời sống chiêm niệm, cho dù các hình thức ấy có Kitô hay không, và đặc biệt là tìm hiểu các hình thức suy niệm của Phật giáo. Kiến thức tôi có về Phật giáo không phải là thuộc loại chuyên môn. Kiến thức này, tôi đã thâu lượm được nhờ có dịp tiếp xúc cá nhân với nhiều người; trong số những người này, có một vị ưu việt nhất mà mới đây tôi được hân hạnh tiếp xúc, đó là Đại đức Sumedho; và cuộc gặp gỡ này đã giúp tôi sống lại mối thịnh tình lâu dài mà tôi ấp ủ đối với Phật giáo, cũng như đối với “con đường quang khải” (the way of enlightenment). Tôi hài lòng với đề tài chúng ta đang bàn tới, nói về “kinh nghiệm cá nhân”, vì như Đại đức đã phát biểu trên đây, cần phải ra sức tránh xa lối trao đổi tư tưởng mà chỉ đứng trên một bình diện thuần túy suy lý; bởi lẽ thông thường thì các tư tưởng chỉ đóng một vai đơn thuần là mở đường hướng đến mức thấu hiểu thực sự. Còn khi chúng ta nói chuyện với nhau một cách thân tình và tự phát, về những gì hiện đang xảy ra cho chúng ta, thì chúng ta sẽ nhận ra là chúng ta đang ở trên những con đường có thể đồng quy về một điểm, và chắc chắn là có thể tương hợp với nhau được.
Ngay cả những tư tưởng suy lý mà thường khi chỉ dẫn đến kết cục là đối chọi, cũng có thể nhường bước trước một cách thức trao đổi kinh nghiệm như thế. Vì vậy, theo cách nghèo nàn của riêng tôi, tôi xin trình bày cùng quý vị về con đường (đạo là đường) trong đó, tôi đã được dẫn dắt đi. Qua cuộc phát biểu này, chúng ta sẽ khám phá ra cách thức một người Kitô cảm nghiệm về hai chân lý cuối trong “con đường tám lối cao quý” của nhà Phật; đó là: chiêm niệm đúng (chính niệm) và chú tâm đúng (chính tỉnh).
Năm 1965, tôi nghe được một tiếng gọi từ trong nội tâm, thối thúc tôi tham gia trào lưu canh tân phục hồi lối sống đạo theo khuôn mẫu và tinh thần bình dị của các tu phụ sống trong sa mạc vào các thế kỷ thứ ba, thứ tư và thứ năm của kỷ nguyên Kitô. Như quý vị thừa biết, trong quá khứ, đã từng có một tình trạng ảnh hưởng hổ tương về mặt văn hoá giữa Kitô giáo bên Đông phương, tức là Chính Thống giáo Đông phương, và truyền thống Tây phương mà phần lớn là do những người Nga di dân sang Paris mang tới, trong thế kỷ này kể từ sau thời Cách mạng. Năm 1965, cùng với một nhóm nhỏ, tôi lo sửa soạn để lập một skete (Các tu sĩ sống trong những căn lều, túp lều, hoặc nhà nhỏ tách biệt, thường cách nhau một khoảng nhất định), tức là một loại tu viện nhỏ, chỉ gồm hai, ba, bốn hoặc năm người; và không bao giờ được quá năm người, vì tu viện phải sống ẩn danh ẩn dật làm sao để tránh cái cảm tưởng là mình đang làm một điều gì đó có tầm ảnh hưởng lớn. Nếu không, chúng tôi lại bị rơi vào trong vòng ảo tưởng cho mình là quan trọng.
Dĩ nhiên là truyền thống của loại tu viện đó cần phải được hiện đại hoá và làm cho thích ứng với văn hoá địa phương, tức là, cách riêng trong trường hợp của chúng tôi đây, với văn hoá Tây Âu và xứ Êcốt. Mẫu sống kia đã triển khai và vẫn còn giữ vững gốc rễ ở nơi truyền thống Núi Athos (bên Hy lạp): một truyền thống đang được sống mạnh đặc biệt là tại các tu viện nhỏ tụ tập quanh phía ngoài các tu viện bảo tàng to lớn nằm trên Núi Athos. Ở Roslin đây, chúng tôi đã cố gắng làm cho lối sống ấy thích ứng với văn hoá bán đô thị hoá tại một ngôi làng thợ mỏ phải nói là dơ bẩn, nằm cách Edinburgh lối tám dặm về phía nam.
Ngay từ lúc đầu, chúng tôi đã nhận thấy ngay là mình đang đồng nhất hoá với truyền thống nhà Phật, nghĩa là qua các kinh nghiệm riêng của mình, chúng tôi được trao ban cho một kho tàng ba mặt (xin thú thật là tôi cần được Đại đức dẫn giải thêm cho để có thể hiểu biết nhiều hơn về kho tàng vừa nói); ba mặt đó là: vị sư phụ, sangha (Tăng chúng) hay là cộng đoàn, và giáo huấn. Đó là ba trụ cột của cuộc sống chúng tôi. Có thể nói rằng vị sư phụ là Đức Kitô, Ngài đến với chúng tôi qua trung gian của các người chỉ đạo đã thấu suốt truyền thống và đã dùng hoặc là văn bản hoặc là sự hiện diện trực tiếp mà chuyển đạt đến tận chúng tôi. Sangha hay là cộng đoàn giúp cho chúng tôi có được ổn định: tình trạng ổn định này sẽ tạo tin tưởng cho cá nhân mỗi đan sĩ để biết vững dạ xác tín rằng anh em bên cạnh mình có thể nâng đỡ mình trong những giây phút yếu đuối và không thể thấy rõ được như bình thường, hay trong những lúc mình mất hết sốt sắng hăng say và ánh sáng soi dẫn.
Sự hiện diện của sangha là một môi trường hỗ trợ mạnh cho bước tiến của mỗi cá nhân. Còn lời giáo huấn thì được chuyển đến cho chúng tôi qua một bộ văn bản gọi là Philokalia1Palmer, G.E.H. et al, eds, THE PHILOKALIA, cuốn 1, (London, 1979).. Tôi nhận thấy rằng văn bộ này có rất nhiều điểm tương đồng với truyền thống nhà Phật, đến độ làm như giữa chúng, có một mối liên hệ văn chương nối kết. Philokalia là một tuyển tập các văn bản của các giáo phụ Đông phương kể từ thế kỷ thứ ba cho đến thế kỷ thứ mười ba kỷ nguyên Kitô; lúc đầu, văn bộ này chỉ được thu thập theo hình thức truyền khẩu, rồi vào cuối thế kỷ thứ mười tám đã được mang sang Nga, và từ đó, đã được phổ biến trong khắp thế giới nhờ các bản dịch qua nhiều thứ tiếng khác nhau.
Truyền thống ấy, từng học được trong các chuyến đích thân viếng thăm tìm hiểu Đông phương cũng như trong văn bộ nói trên, đã giúp chúng tôi bắt đầu một mẫu sống có thể được coi như là một hình thức canh tân truyền thống của đời đan tu kitô: trên kia, tôi đã nhắc tới điểm này rồi, nhưng xin lưu ý thêm là chúng tôi đã thực hiện lối sống canh tân ấy bằng cách vượt xa hơn lề lối chính thức cần phải có, vì trong nhiều trường hợp, cách tiến hành theo thể thức như thế được coi như là một phần trong “Tổ chức”. Có thể là lề lối tổ chức này đã bị ràng buộc quá nặng nề với các thứ thói lệ và tập truyền tôn giáo có khuynh hướng che khuất những gì đang thực sự giúp chúng ta sống, như Đại đức đã lưu ý. Bây giờ, tôi xin phép được mô tả sơ qua về cộng đoàn của chúng tôi.
Chúng tôi đã tậu được Viện Thợ mỏ với giá 800 đồng tiền Anh. Làm bằng tôn dợn sóng, Viện này đã được người địa phương đặt cho cái tên là “Nhà Tạm bằng thiếc”. Chúng tôi đã tìm được một vị hướng dẫn mà chúng tôi gọi là cha linh hướng, đó là cha Columban Mulcahy, làm viện phụ của một Đan viện Xitô ở cách xa chỗ chúng tôi hai mươi dặm: ngài là một bậc tu hành thánh thiện, đã giúp hướng dẫn chúng tôi trong những năm đầu cho tới lúc qua đời vào năm 1972. Bây giờ, người hướng dẫn của chúng tôi là một nữ tu dòng kín Anh giáo: Mẹ Mary Clare ở Fairacres, Oxford. Sau khi mua ngôi nhà nói trên, chúng tôi thấy cần phải có một hàng rào im lặng. Thế là chúng tôi đã dựng lên năm cái lều rộng sáu bộ, dài tám tám bộ, ở bên trong khu vườn nhỏ. Không ai có thể sống được trong một diện tích nhỏ hẹp như thế: chỉ có những chiếc quan tài thì mới nhỏ hẹp hơn thế mà thôi! Ở giữa các chiếc lều kia, chúng tôi dựng lên một ngôi nhà nguyện nhỏ: Chúa được ở trong một lều lớn hơn một tí, rộng tám bộ, dài hai mươi bộ; nhà nguyện rất xinh, nhất là phía bên trong. Vậy là cả thảy gồm có năm chiếc lều, ngôi nhà nguyện và khoảnh vườn. Ai đã bước vào phía trong hàng rào, thì cũng đều biết mình đi vào đó để làm gì: để suy niệm, để tìm thinh lặng, để tiếp tục tiến bước trên con đường. Ngôi nhà được xử dụng cho cộng đoàn, và cộng đoàn không phải khi nào cũng chỉ gồm có chúng tôi mà thôi, nhưng còn gồm cả những ai đến đây nữa. Những lần Đại đức Sumedho cùng với hai người bạn lưu ngụ tại đây: các vị cũng là thành phần trong cộng đoàn chúng tôi. Bởi thế, đã có sẵn, nhưng cộng đoàn cũng vẫn mãi mãi ở trên đường thành hình. Nó có đó khi bạn gia nhập nó, nhưng nó cũng là một thực thể đầy sức sáng tạo; mãi mãi nó vẫn là món quà bạn đang tiếp nhận, và mãi mãi nó mang lại nhiều bất ngờ. Không bao giờ bạn biết được cộng đoàn sẽ biến đổi ra sao và ai sẽ gia nhập.
Người nghèo cũng tham gia cộng đoàn. Tôi không nghĩ rằng chúng tôi có thể sống mà không có người nghèo. Hiện thời, chúng tôi có hai người già đang cố gắng để thoát ra cho khỏi cảnh sống lang thang ngoài đường phố: họ đã kéo lê cuộc sống vỉa hè như thế suốt cả đời họ: thoát ra cho khỏi là chuyện rất khó; chỉ có Ban Ngoại chẩn của bệnh viện mới có thể giúp họ làm được việc ấy. Vì vậy, chúng tôi đã nhận hai người già này và để họ sống tại đây cho tới lúc họ được chính quyền địa phương cấp phát nhà cho.
Chúng tôi nhận thấy rằng người nghèo rất cần cho chúng tôi; bởi vì họ đã sẵn có một sự từ bỏ: đối với họ là bắt buộc, nhưng đối với chúng tôi, đó là một điều tự nguyện cần phải đạt tới cho được. Người nghèo dạy cho chúng tôi biết sống cho giây phút hiện tại, đừng băn khoăn về quá khứ, cũng như đừng lo nghĩ về tương lai, vì họ không có một tương lai nào cả. Vì thế, họ dạy cho chúng tôi biết tập trung cả tâm trí vào những gì đang xảy đến bây giờ đây. Chúng tôi có thể quả quyết rằng việc sống sát cạnh người nghèo là cần cho sự sống còn của lối sống chúng tôi đang theo đuổi.
Có thể là khác với truyền thống nhà Phật và cả với phần lớn các truyền thống đan tu Kitô, Đức viện phụ Mulcahy đã bảo chúng tôi phải lo tự túc ngay từ đầu. Và tôi nghĩ là chúng tôi đã được chỉ giáo rất chư lý đối với hoàn cảnh của chúng tôi. Vì nhờ thế, chúng tôi đã có thể sống ẩn dật trong một làng nhỏ; rồi một người hoặc là một người rưởi có thể làm việc để giúp cho lối sáu người sinh sống, vì với một phần rưởi lương căn bản cộng với số tiền trợ cấp nho nhỏ của Nhà nước cho tôi, chúng tôi thấy là quá đủ. Như tôi đã trình bày trên kia: chúng tôi là một cộng đoàn nhỏ, và phải tiếp tục nhỏ như thế thì mới đi đúng với đường lối của truyền thống skete; và phải như thế thì mới có được yên tỉnh và tình người, nghĩa là làm sao mọi người đều thấu hiểu nhau, cũng như nhận ra và tiếp xúc với bất cứ người khách nào đến thăm. Trong một tu viện lớn, có thể có một người khách đến viếng thăm một vài ngày mà nhiều thầy dòng vẫn không hay biết đến sự hiện diện của người này.