Đại Đức A-Sumedho

1. Tất cả những gì một người có thể nói về kinh nghiệm tôn giáo, đều gồm tóm ở trong điều này là kinh nghiệm ấy mang tính chất hết sức cá biệt và chủ quan, nhưng đồng thời cũng phổ quát. Bởi luôn luôn được miêu tả dựa theo cách suy nghĩ và truyền thống riêng của chúng ta, cho nên đôi lúc kinh nghiệm ấy bị hiểu sai, vì không có ngôn từ cho thích đáng. Do đó, khi hỏi là kinh nghiệm của tín đồ Phật giáo và  Kitô hữu có giống nhau hay không, chúng ta chỉ có thể nói một điều một là nếu thực sự chúng ta có kinh nghiệm về cả hai, thì lúc đó chúng ta mới biết được. Làm sao tôi có thể biết được cái cảm nghiệm của người khác? Tôi chỉ có thể tin vào những gì người ấy nói, và cố gắng san bằng những giới hạn của ngôn ngữ và ký hiệu để mà hiểu. Theo trực giác riêng của mình, tôi thiết tưởng kinh nghiệm ấy không thể nào lại không giống nhau, vì chân lý tối hậu chỉ có một. Chân lý ấy nhất thiết phải là khôn tả, vì không có ngôn từ nào, ký hiệu nào thích hợp cho nó cả. Điều này muốn nói rằng chân lý ấy không thể là cái gì khác ngoài “nơi mà tất cả mọi sự đều chấm dứt”, nơi mà các ký hiệu không còn có khả năng mang lại được một ý nghĩa nào nữa. Dù chúng ta có miêu tả nó dưới một hình thức nào đó hay không, dù chúng ta có gọi tên nó là kinh nghiệm Phật giáo hay Kitô giáo, thì cũng không có gì là khác cả. Đó chỉ là những kiểu diễn tả của loài người. Có lẽ mẫu số chung nằm ở nơi sự kiện này là một thứ kinh nghiệm như thế vượt sang bên kia: bên kia lòng ích kỷ, bên kia thói ham muốn, bên kia bất cứ loại sợ hãi hay ảo tưởng nào. Vì ánh sáng, trực kiến, quán triệt sự thật chính là nó.

Phương thức tiến hành của nhà Phật là một đường lối tâm lý rất khéo léo; nó hệ tại ở chỗ này, là cứ để cho sự vật cứ rơi rụng đi. Điều này sẽ xảy tới nhờ biết xem xét và khảo sát. Và như thế, các ý niệm về bản ngã không còn được coi như là điều chúng ta đã cầm chắc trong tâm nảo, mà là điều còn cần phải được xét lại. Bản ngã là gì? Một khi chúng ta đã để cho tất cả những gì ràng buộc trí tuệ rơi rụng đi, thì cái còn lại chính là trí tuệ tinh ròng. Không thể miêu tả được nó, nhưng nó không hẵn là giống như một “chỗ để trống” (a blank). Nó sung mãn và vẹn toàn. Làm như thế không có nghĩa là vứt bỏ hay là giấu giếm đi một cái gì cả. Thực ra, đó là cách thế giúp cho tâm trí khỏi bị những vẻ ngoài hay những điều kiện ràng buộc trí tuệ, lừa bịp.

Trong trường phái Phật giáo Tiểu thừa của chúng tôi, thực sự không có một lối giải thích siêu hình học nào cả. Điều này thường bị hiểu lầm, nhất là bởi những truyền thống có giáo huấn nhấn mạnh nhiều về siêu hình. Đối với họ, loại Phật giáo này có vẻ như là đi đến với trí tuệ qua con đường lạnh giá của bệnh viện, để hư vô hoá mọi sự ở trong đó cho đến lúc không còn gì nữa. Không còn cảm giác, không còn tình yêu, hơi ấm cũng không còn. Nhưng đó không phải điều sẽ xảy ra. Chính khi từ bỏ sở thích và đòi hỏi cá nhân, là lúc chúng ta cư ngụ thật ở giữa lòng trí tuệ. Ở đó có thuần khiết cùng ánh quang rực rỡ, và chính đó mới là nơi chúng ta bắt đầu cảm nghiệm được những thực tại như tình yêu, niềm vui, đam mê cũng như niềm an bình đích thực. Hễ càng cố sức bao nhiêu để tạo cho được những điều kiện như thế, thì chúng ta càng trở thành ích kỷ và nhầm lẫn bấy nhiêu. Chỉ khi biết hoàn toàn từ bỏ mọi ham muốn và mọi chờ mong, thì chúng ta mới đạt tới được những thực tại kia: trong tinh thần tự hiến và tùng phục trọn vẹn. Vì vậy, nếu chúng ta có gọi điều đó là trống không, thì nó cũng vẫn là sung mãn và vẹn toàn. Nó trống rỗng không phải như là một khoảng chân không, nhưng như là một tình trạng không còn một bóng ảo tưởng nào nữa. Đó là tình trạng của một trí tuệ đang mở rộng ra cho mọi sự. Một trí tuệ còn đầy ắp những ý kiến và quan niệm, thì không thể nào cởi mở được. Chúng ta thường dựa theo thiên kiến riêng mà giải thích mọi việc liên hệ đến cuộc sống chúng ta. Đã chứa đầy ham muốn và sợ hãi, thì trí tuệ chỉ biết phản ứng lại, chứ không biết ôm choàng hay đón nhận lấy sự sống.

2. Có thể so sánh ý niệm nada theo Gioan Thánh giá với nirvana hay không? Tôi không muốn liên hệ nirvana với Thượng Đế. Đôi lúc nirvana được dịch bằng từ “tiêu vong” (extinction ). Hiểu như thế là biến Phật giáo thành học thuyết tịch diệt. Nhưng chúng ta tự hỏi: cái gì đã tiêu vong? Ấy chính là lòng vị kỷ, ảo giác và khổ đau. Để nói về kinh nghiệm của mình, người Kitô thường có khuynh hướng dùng đến những biểu tượng có tính cách cá nhân và mãnh liệt hơn nhiều.

Bởi thế, hiểu cho được đường lối phủ định (negation Thánh Gioan-Phaolô II, Tông Hiến Sacrae disciplinae leges, trong Bộ Giáo Luật, do Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ xuất bản, 1987, tr. XXVI. nothing) thì có vẻ như là nói rằng không có Thượng Đế. Tuy nhiên, đối với một Phật tử, điều đó muốn nói rằng chân lý tối hậu không phải là một sự vật, hiểu theo nghĩa đen của từ này. Sự vật là những trạng thái: chúng hiện hiện ẩn ẩn, hợp rồi tan; chúng không có thực thể thật sự, và luôn tùy thuộc vào các sự vật khác.

Nếu là một sự vật, thì Thượng Đế phải là một ảo ảnh. Nhưng nếu chúng ta nói rằng Thượng Đế là vô sự vật, điều đó muốn nói rằng chúng ta vứt bỏ hết đi các định nghĩa và mọi sự vật cũng như mọi trạng thái bất toàn bất hảo. Nếu làm người Kitô hữu, thì tôi sẽ nghĩ về Thượng Đế như là vô sự vật, vì quan niệm như thế thì hữu ích hơn là cứ khăng khăng nhìn Thượng Đế qua hình ảnh của một đấng thượng phụ.

3. Hiện đang có một mối quan tâm ngày càng gia tăng, đối với việc đối thoại giữa người Kitô và tín đồ Phật giáo, đặt biệt là tại Anh quốc và Hoa kỳ, và nhất là giữa các giới tu sĩ nam nữ. Vì trong đời tu trì, chúng ta cùng cảm thấy có một sự dấn thân chung. Tôi cảm thấy rằng đây đúng là lúc cần phải mở cuộc đối thoại về tôn giáo, vì chúng ta đang có nhu cầu tìm hiểu lại các hình thức tôn giáo cố cựu để kiếm cách mà tự cải tân chính mình, cũng như để nhờ đó mà thấu hiểu rõ ràng hơn về kinh nghiệm tôn giáo theo chiều kích đại đồng phổ quát, chứ không phải là theo kiểu nhìn tôn phái hẹp hòi.

Đầu óc bè phái là điều rất xấu. Mọi thái độ tiếp tay cho những lập trường chia rẽ thì đều là sai quấy. Còn tình yêu thương là một kinh nghiệm làm cho đoàn kết nên một, và là sở hữu chung của tất cả chúng ta. Dù đó là tình yêu đối với Thiên Chúa, hay đối với một người nào đó, hoặc là đối với mọi sự vật, thì vẻ đẹp của nó cũng vẫn là ở chỗ không mảy may kỳ thị.

Bùi Hữu Thư chuyển ngữ
Nguồn: https://htth.net/cam-nghiem-chan-ly-toi-hau-buoc-dau-mot-cuoc-doi-thoai-giua-kito-giao-va-phat-giao/