Truyền Thống Tĩnh Nguyện (Hesychasm)

Bây giờ, tôi xin trình bày sơ về truyền thống Philokalia, vì chính đó là nơi chúng ta có thể hiểu nhau. Truyền thống được gọi là hesychast. Tiếng Hy lạp, hesychia có nghĩa là thinh lặng, không phải chỉ về mặt thể chất mà thôi, và thinh lặng đóng một vai trò quan trọng. Truyền thống này xuất hiện kể từ thế kỷ thứ sáu về sau, và có thể đã bắt đầu xưa hơn về trước. Ngôn từ của nó thường giống gần hệt với giọng văn trong các văn bản nhà Phật. Xin trưng dẫn một đoạn trích từ tập Một trăm câu đầu nói về tình yêu tức là một trăm câu ngạn ngữ của thánh Maximus Confessor (CE 580-662)1Palmer, G.E.H. et al, eds, THE PHILOKALIA, cuốn 2, (London, 1981) tt. 81 và 83.:

Bao lâu tâm trí chúng ta chưa mặc lấy thanh trong mà vượt lên trên bản thân của mình cũng như lên trên tất cả những gì không phải là Thiên Chúa, thì bấy lâu chúng ta chưa đạt tới thì các tư tưởng chỉ đóng một vai đơn thuần là mở đường được mức hoàn hảo thường tồn. Khi nhờ tình yêu mà trạng thái cao quý ấy được thiết đặt vào trong chúng ta, thì chúng ta mới thấu hiểu được sức mạnh của lời hứa. Bởi vì chúng ta phải tin rằng ở đâu nhờ tình yêu mà trí năng chúng ta làm cho sức mạnh của mình đâm rễ vào, thì ở đó các thánh sẽ tìm thấy được một nơi cư ngụ bất biến. Ai chưa vượt được lên trên chính mình và lên trên tất những gì chịu lệ thuộc dưới một hình thức nào đó, vào hoạt động của trí năng, cũng như chưa đạt được tới chỗ cư ngụ ở trong trạng thái thinh lặng nằm bên kia giới mức của hoạt động trí năng, thì người đó không thể nào hoàn toàn thoát cho khỏi tình trạng biến dịch được… Giữa muôn vàn sự vật hiện hữu, tất phải có tình trạng dị biệt, bất tương đồng và khác nhau. Nhưng trong Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối chỉ có một và hiện hữu một mình, thì chỉ có thể có đồng nhất, đơn nhất và đồng dạng mà thôi.

Và đây, chúng ta có thể đối chiếu những gì vừa trình bày với kinh sách nhà Phật. Tôi trưng dẫn đoạn văn trên đây để chứng tỏ cho thấy rằng đó là một điểm có thể bắt gặp chính kinh nghiệm của Đại đức về Phật giáo, kinh nghiệm mà tôi xin Đại đức cho phép được tìm hiểu học hỏi.

Hesychasm – học thuyết tĩnh nguyện dựa trên bốn yếu tố chính. Tôi không thể nói là tôi đã có kinh nghiệm về tất cả các yếu tố này đến một độ sâu nào đó đáng kể, nhưng ít ra những gì tôi phác thảo ra đây cũng có thể được coi như là một bản hoạ đồ giúp nhận ra con đường trên đó chúng tôi chỉ mới đi được một vài bước.

1. Trước tiên hesychasm là một cuộc trở về với bản ngã đích thực, giữa một thế giới đầy dẫy những lạm dụng, xuyên tạc và ảo tưởng. Trong tập Philokalia, các giáo phụ đã nhắc đi nhắc lại đến điểm này. Ảo tưởng xảy tới khi ta hiểu sai về những gì xảy đến cho ta, khi có những nhân tố đưa trí tuệ ta đến chỗ nhận định sai lầm về người khác, về các biến cố và sự vật. Và như thế, rốt cuộc, ta thấy mình đang sống trong một thế giới mà cái gì cũng đều bị xuyên tạc và lạm dụng. Tất cả những điều ấy đều do patheia mà ra; patheia là tình trạng ham muốn và đam mê đã ăn rễ sâu và có mặt ở khắp nơi. Khi nào chúng ta cũng dựa theo những phản ứng tức thời mà phán đoán về sự vật, về các biến cố và những người khác cả; và như thế chúng ta phán đoán một cách hoàn toàn thiếu óc phê bình. Do đó, các phản ứng này dồn ta đến chỗ sống trong những trạng thái tâm hồn như là: ác độc, đầy dự tính đen tối, luyến tiếc, sợ hãi, ham mê, nhục dục và tham lam. Bởi thế, toàn bộ nổ lực luyện tập phải nhắm tới cố gắng kiếm cách để trở về cho được với tình trạng apatheia, tức là tình trạng không đam mê. Vậy, nếu các kinh thư nhà Phật đã bị những người ngoài Phật giáo giải thích sai, thì hệt như thế: các văn bản Kitô giáo cũng đã bị ngay cả những Kitô hữu chưa thực sự đích thân khám phá, giải thích không đúng. Vì thế mà có chuyện nhiều người quan niệm là chúng ta phải sống theo một lối sống khắc kỷ, cứng đờ như gỗ, và trong khuôn mẫu ấy, chúng ta phải làm cho mình biến thành như là những bức tượng đồng nguyên chất! Thực ra, làm như thế là hoàn toàn đi trái ngược lại với chiều hướng apatheia. Vì apatheia đích thực phải dẫn chúng ta tới tình trạng giải phóng, dẫn tới một patheia đích thực. Chỉ có một niềm say mê đích thực độc nhất, đó chính là lòng say mê của tình yêu. Khi đọc kinh sách nhà Phật, tôi đã từng nghe bàn tới một điều gọi là vanapreti. Có thể là tôi nghĩ không đúng, nhưng điều gọi là vanapreti này xem ra đồng nhất với ý niệm về patheia. Từ ngữ nói trên của nhà Phật đã được dịch ra bằng từ lòng sốt sắng: có lẽ cách dịch này không được chính xác cho lắm. Khi tôi gặp thấy từ này, tôi nghĩ rằng tôi cần phải tra cứu lại các kinh sách nhà Phật mà tôi đã đọc, và tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy rằng từ “sốt sắng” xuất hiện nhiều lần trong các văn bản: sốt sắng theo đuổi con đường đang đi; sốt sắng tỏ lòng xót thương… Đó là một loại nghị lực, và chắc chắn không phải là thái độ cứng đờ như một khúc gỗ, chỉ biết chống cưỡng lại bất cứ những gì là bên ngoài.

Dĩ nhiên, đối với Kitô hữu, “bản ngã” Đức Kitô chính là sức mạnh nâng đỡ cho toàn bộ cuộc hành trình mình đang thực hiện, và cũng chính là tiêu đích mà cuộc hành trình ấy nhắm tới. Theo nghĩa đen, thì phải nói rằng có một sự biến hình của bản ngã giả tạo, là một bản ngã hời hợt luôn luôn tìm cách can dự vào trong ý thức. Tiêu đích mà trong lúc hướng tới một mẫu người mới, mỗi cá nhân nhắm tới trong đời sống cộng đoàn, là làm chủ cho được bản ngã, là biến hình theo mẫu gương của Đức Kitô. Mẫu người mới này được tạc thành hình ở nơi Đức Kitô siêu việt, là Đấng đã biến hình trên núi, chan hoà ánh sáng. Ngài là người được soi sáng và cũng là Đấng sáng soi. Thoạt tiên, chúng ta có thể cho rằng điều này không tương hợp với truyền thống nhà Phật; tuy nhiên, trong kinh sách nhà Phật, tôi thấy có ghi lại là trong tư cách là một người được soi sáng, Đức Phật thường được coi như là người soi sáng, là vị thầy hay là vị truyền dạy sự sáng soi. Điều này không đồng nhất hoá với Đức Kitô biến hình. Tôi nghĩ rằng có một sự khác biệt rõ rệt giữa tính chất đồng nhất nơi Đức Kitô và tình trạng mất đồng nhất tính nơi Đức Phật. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tiêu đích người Kitô nhắm tới, là đạt cho được con đường sáng, nơi đó ánh sáng trở thành ánh sáng thực sự, và ánh sáng thì trở thành bản ngã. Nếu tôi phải định nghĩa tiêu đích mà tôi mong đạt tới và con đường mà tôi đang đi, thì tôi sẽ nói rằng tôi mong ước được thấy chính tôi trở thành ánh sáng với ánh sáng, cũng như được thấy bản sắc của tôi ở trong ánh huy hoàng của sự Biến Hình. Đó là một trong những lý do tại sao chúng tôi đã chọn Sự Biến Hình làm tước hiệu cho skete của chúng tôi. Sự Biến Hình của Đức Kitô không những là mục tiêu mà thôi, nhưng còn là một tiến trình đưa dần đến mẫu nhân tính được soi sáng. Một lý do khác đã làm chúng tôi chọn tước hiệu Biến Hình, đó là vì đúng hai mươi năm trước chính cái ngày chúng tôi bắt đầu thành lập skete, tức là nhằm vào ngày lễ Biến Hình năm 1945, bom hạt nhân đã rơi xuống trên thành phố Hiroshima: đó là cả một cuộc biến dạng bóp méo bộ mặt con người, và là một cuộc bừng dậy của tử thần. Tôi nghĩ là có một cuộc đối đầu giữa con đường sáng dẫn đến sự sống, và tia kinh hoàng của tử thần xô đẩy vào tối tăm cùng hủy hoại, vào hư vô cùng chết chóc.

2. Việc trở về với bản ngã đích thực thì bao hàm cả nổ lực tự làm cho chính mình ra trống rỗng đi nữa. Kỷ cương này giống hệt như của nhà Phật, nghĩa là đòi phải có một cách thức luyện tập nghị lực riêng của chính mình. Tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Đức Kitô là sự sáng của mọi ánh sáng, tuy nhiên, con đường dẫn đến sự sống cũng phải có một hình thức hiệp lực, tức là cần phải hợp tác. Dù có yếu đuối, tôi cũng cần phải dùng kỷ luật mà đi con đường riêng của mình. Nếu không, cả thế giới này có giúp, thì cũng chỉ công toi mà thôi. Nổ lực tự làm cho mình ra trống rỗng không đồng nghĩa với khổ hạnh để khổ hạnh, nhưng đó là một loại khổ hạnh có mục đích tạo cho có chỗ cho nhau. Tôi không thể sống, nếu bạn không cho tôi có đủ chỗ (đang lắng nghe tôi đây là quý vị đang dành chỗ cho tôi vậy). Bạn đang làm cho mình ra trống rỗng đi để tôi có thể sống trong kẻ khác. Bởi vì, tôi không thể sống tự riêng một mình tôi. Tôi cũng phải dành chỗ cho bạn bằng cách chú ý đến thái độ đáp trả của bạn. Tạo cho có chỗ, làm cho ra trống rỗng, trở thành hư không: những điều ấy chính là cuộc sống của tôi. Đó không phải là một cảnh tiêu điều ghê gớm, mà là một khoảng trống có chủ đích.

3. Tôi cần phải tỉnh táo mà chú ý tới những gì đang xảy ra ở trong trí năng lý tính của tôi. Thường xuyên có đủ thứ chuyện xảy tới, và dường như là tôi không kiểm soát được chúng. Tuy nhiên, cũng có cách để trở thành tỉnh táo đối với những gì đang xảy ra. Có một cái tôi sâu thẳm hơn nằm bên dưới cái tôi bên ngoài, và cái tôi sâu thẳm ấy có thể nói không.

Bên trong tiềm thức của tôi, có nhiều điều thoáng hiện lên, và bao lâu chúng chưa trở thành ý thức, thì tôi không hiểu được chúng. Bởi thế, tôi cần phải thường xuyên tỉnh táo. Tôi không được phép sợ hãi, nhưng phải cảnh giác để không có một điều gì xảy ra mà không được ghi nhận lại ở trong tôi. Việc tập trung tư tưởng, việc ý thức và tỉnh táo như thế sẽ tìm được một nguồn trợ lực hữu hiệu ở nơi bầu khư thinh lặng có được nhờ một số điều kiện thể chất bên ngoài, như là: ánh sáng mờ dịu, các tư thế của thân mình, tượng ảnh chẳng hạn một mẫu ảnh Chúa Kitô, đối với Kitô hữu, một ngọn đèn nhỏ, hoặc là một tấm thảm màu nhạt…

Và cả điểm này nữa cũng còn cho thấy một nét tương đồng khác đối với Phật giáo, vì một lần nữa, truyền thống nhà Phật lại dạy cho người Kitô biết ý thức nhiều hơn về vai trò sinh tử của thân xác. Thân xác cũng khát mong được dự phần vào trong cuộc hành trình của con người. Chúng tôi không dám coi thường hoặc bỏ quên những phương thức truyền thống thường được dùng tới để giúp tạo thinh lặng, nhập định và chú ý trong nội tâm, bởi một lý do rất đơn giản là vì chúng đã được truyền thống giữ lại!

4. Cuối cùng, trong skete của chúng tôi đây, chúng tôi chú trọng rất nhiều đến danh xưng độc từ (monologistic ), tức là việc lặp đi lặp lại một tên gọi rất giống với danh xưng nam mô bổn sư của nhà Phật. Trong khi lặp đi lặp lại như thế, tên gọi sẽ trở thành điểm tụ cho việc tập trung tư tưởng, và sẽ tạo ra được một khoảng trống bằng cách trừ bỏ mọi hình thức phức tạp và phân hoá có thể xảy tới cho hoạt động của tâm trí. Chính cái tên gọi đọc lên như thế sẽ có sức giúp cho cái bản ngã hời hợt khỏi bị lôi kéo chạy lang lang theo những con đường ngông cuồng. Việc đọc tên thường phải được một cố gắng tập thở ra hít vào đi kèm theo: qua lối thực tập nầy, chính hơi thở, và việc cần phải thở cũng như tính cách vô thức của việc thở sẽ trở thành có ý thức. Dính liền với tên gọi, sẽ có động tác hít danh xưng vào và thở danh xưng ra. Và như thế, tên gọi sẽ làm cho những khuấy động bên trong cũng như bên ngoài lắng dịu xuống, và đưa chúng ta đến với bình an cùng giải thoát. Danh thánh Chúa có một sức mạnh thực sự.

Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng sau một hồi lặp đi lặp lại tên Giêsu, tôi từ từ di chuyển từ tên Giêsu sang danh xưng Abba (Cha ơi!). Rốt cuộc, “từ ngữ lặp đi lặp lại” (mantra ) trong hình thức cầu nguyện độc từ này chính là danh xưng Abba.

Dĩ nhiên là không thuộc truyền thống này, nhưng thánh Gioan Thánh giá cũng đã chỉ vẽ giúp cho chúng tôi hiểu rõ về cách thức chiêm niệm theo truyền thống bên Tây phương là nơi thánh nhân còn có ảnh hưởng rất lớn. Ngài tóm lược phần lớn những gì tôi đã cố miêu tả trên đây bằng từ “nada”, tức là hư không. Chúng ta đang đi về cõi hư không. Chính con người của tôi phải trở thành hư không: không gì khác hơn là khoảng không mà thôi. Và nhờ thế mà ở trong chính khoảng không ấy, tôi trở thành “todo”: tất cả. Và đây, chúng ta sắp phải bàn đến một vấn đề có tính cách suy luận, đã được bàn cãi nhiều mà vẫn chưa tìm ra nổi một câu trả lời cho êm đẹp. Tuy nhiên các Phật tử và người Kitô có thể đem so sánh những ghi nhận về kinh nghiệm đối với điều mà thỉnh thoảng chúng ta có thoáng nhìn thấy, nhưng vẫn ở rất xa. Cái gì là mục tiêu?

Một cõi hư vô? Phải, vì đó là “nada”, là hư không. Vậy mà, ngược đời thay, đó lại là ánh sáng; không phải là hư vô. Trong một tuyển tập các văn bản2Foy, Whitfield: MAN’S RELIGIOUS QUEST (London, 1978), tt. 234 và các tt. sau.,[4] tôi đã được đọc biết một Phật tử người Nhật, tên là Honen. Ông sống vào khoảng thế kỷ thứ mười hai. Nếu tôi nhớ không sai, thì ông ta đã nói đại để như thế này: Hư vô, nhưng không thành phần nào của nó là hư vô cả. Diễn tả theo kiểu tiêu cực, thì phải nói rằng đó là hư không bởi vì nó không giống với một cái gì trên trái đất này cả. Vì thế, không thể bàn về nó. Nói theo kiểu tích cực, thì vì cần nên phải ấp úng thốt lên một điều gì đó! Nó là hư vô mà cũng không phải là hư vô. Tôi thiết tưởng rằng cái nada này còn gần với “nirvana” (niết bàn) thực sự hơn là với cái niết bàn hiểu theo lối nhiều người Kitô thường hay giải thích sai lầm, coi đó là một cõi hư vô thật sự. Liên quan đến đề tài này, còn có cả một rừng vấn đề rộng lớn cần được nghiên cứu, nhưng đó là công tác khó khăn, bởi vì thỉnh thoảng tôi mới tình cờ có được một vài tia sáng trực giác về ý nghĩa của nó.

Một Người Thuộc Bản Đồ

Kinh nghiệm mà tôi kể lại trên đây, thực sự đã diễn tiến như thế nào trong thực tế? Trước hết, đó là một kinh nghiệm nguy hiểm! Cần phải có sự giúp đỡ của sangha (tăng chúng), của cộng đoàn, cũng như cần phải có một vị linh hướng, tức là một abba hay staretz. Cần có một người thuộc bản đồ để bằng mọi giá, phải nhận cho ra lộ trình của chuyến đi, và cũng còn cần đến một người cũng đi cùng đường, nhưng đã tiến xa hơn một chút và sẵn sàng bước lùi lại đằng sau để giúp đỡ một người anh em. Bởi vì bản ngã bản ngã ảo tưởng chính là kẻ thù nằm vùng ở trong mỗi cá nhân.

Nguy hiểm là vì, trên đường tiến đến giải thoát, chúng ta phải đi qua giữa những tư tưởng và năng lực đã từng bị dồn nén vào trong bản ngã ngày trước của mình. Sở dĩ bản ngã củ này ưa dồn nén, là vì nó muốn gây cho mình có cảm tưởng là mình cũng tốt. Suốt ngày dài, nếu tôi không cảnh giác, thì tôi sẽ dồn nén nhiều điều, và, hệt như xưa kia, tôi sẽ cố đậy chiếc nắp trở lại lên trên miệng cái tôi thùng rác của mình! Thế là vì tôi không ưa coi mình như là thùng rác chỉ chứa có hai phần ba dung tích. Tuy nhiên, việc cố đậy nắp lại như thế có khi cũng làm cho tất cả nổ tung lên. Con đường đưa đến quang khải phải hàm xúc cả sự việc này nữa: là bản ngã đích thực hiện còn nằm trong tiến trình hướng tới tình trạng một bên là được giải thoát ra khỏi cái đòi hỏi buộc phải dồn nén, và bên kia là được giải thoát để trở thành tỉnh táo mà ý thức về các hình thức dồn nén kia. Trong nổ lực giải thoát hai chiều này tức là giải thoát cho khỏi nhu cầu dồn nén và giải thoát ngõ hầu trở thành sáng suốt đối với ý nghĩa thật sự của các sự vật, có một mối nguy hằng rình chực, đó là các cá nhân nếu để riêng rẽ một mình, thì có thể bị lung lạc sâu rộng đến tận gốc rễ. Chúng tôi đã nhận thấy điều ấy ở nơi các tập sinh của chúng tôi. Trước đây, chúng tôi đã có năm người đến sống với cộng đoàn chúng tôi, nhưng họ đã từ giả để đi lập gia đình hoặc để theo đuổi một hình thức tu trì khác. Một vài người trong họ lúc ra đi, đã tỏ ra phân vân bất định hơn lúc mới đến nhập viện. Vì nếu một người phải ở trong một chiếc lều nhỏ chỉ rộng sáu bộ dài tám bộ, và không có một sinh hoạt nào trong nhà cả, hay là không phải đi làm để sinh sống, thì đó là một điều rất nguy hiểm; chẳng khác chi cảnh loại nồi hầm nhuyễn thức ăn. Đâu có phải là một cõi lúc nào cũng vui thú! Thỉnh thoảng, có người đến nói là họ rất thèm cuộc sống thanh thản của chúng tôi! Tôi hiểu ý họ, vì thực sự chúng tôi có được khả năng cũng như những phương tiện để có thể đạt tới một mức độ thanh thản nào đó. Tuy nhiên, con đường dẫn tới thanh thản không nhất thiết phải là một lối đi lúc nào cũng dễ chịu.

Có một điều thứ hai chúng tôi nhận ra khi càng tiến tới trên con đường này, đó là chúng tôi bắt đầu thấy rằng đối với các sự vật, đối với người khác và ngay cả đối với côn trùng, mình không còn có một mối quyến luyến nào nữa, mà chỉ có một lòng xót thương thôi! Việc đầu tiên làm tôi để ý tới sau một thời gian lâu sống trong chiếc lều riêng của mình, là: chiếc lều bị đầy dẫy những mối mọt phá hại ở phía trên mái, và chúng còn rơi ngổn ngang trên mọi thứ đồ đạc nữa. Lúc đầu, tôi bực mình và thầm nghĩ “sao chúng dám làm thế! “. Sau đó, tôi mới ý thức rằng cũng như tôi, chúng có quyền sống trong chiếc lều này. Do đó, tôi đã làm bạn với chúng và còn nói chuyện với chúng nữa. Tôi bảo “chúng rằng chúng mày cứ ở bên phía chúng mày, còn tao ở phía của tao”. Nói chung thì chúng đã giữ đúng như vậy. Một ít năm sau, chúng đã di chuyển đi nơi khác, có lẽ là dời qua một căn lều nào khác, chỉ còn một vài con nằm lại để thỉnh thoảng thoảng lại chui ra dòm tôi! Bây giờ, loại lưu tâm kiểu đó đối với một chi tiết bé nhất của cuộc đời, lại trở thành một món quà đặt trên con đường đang đi, và như chúng ta đều rõ, đó là một món quà hết sức quý giá. Quý giá vì nó giúp cho vượt thắng được cảm giác ghê tởm đối với nhện chẳng hạn, và cho thấy cảm giác này tan biến, nhường chỗ cho những bước đầu chớm hiểu thế nào là thân phận của một con nhện. Đó là một món quà mà tôi đánh giá rất cao.

Tôi còn cũng muốn được nói lên ở đây một kinh nghiệm khác: kinh nghiệm về tự do. Tự do làm cho thoát khỏi mọi lo âu. Cho tới khi vào tu viện, tôi đã từng sống một cuộc sống thật bề bộn. Hồi đó, tôi chỉ biết lo tiếc nuối những gì mình đã làm trong quá khứ, hoặc là ước mong cho có một cái gì xảy tới, tốt đẹp hơn. Hoặc là lo đến tương lai: coi tôi sẽ phải làm gì đây, và làm sao để tiến hành mọi việc cho tốt đẹp. Tôi đã không thực sự sống cho hiện tại. Bây giờ, kinh nghiệm sống trong đường lối tu trì này đã dạy cho tôi biết rằng hiện tại là gồm tất cả những gì mình đang có đây, và nó có một giá trị hết sức quý báu. Sự thật là thế, không ai chối cãi được. Nó nằm ngoài giới mức của đo lường, và không ai có thể nắm giữ nó lại được. Hiện tại qua mất đi trước khi có ai có thể bàn về nó. Vì thế, sống giây phút hiện tại là được tự do. Người Kitô hữu sẽ thêm rằng: tự do cho Chúa, tự do cho sự sống, tự do cho ánh sáng.

Cuối cùng, còn có sự trợ giúp của cộng đoàn nữa. Các bạn tu sĩ nam và nữ, các bạn đã biết sức mạnh của cộng đoàn lạ lùng đến thế nào rồi. Nó chống đỡ cho chúng ta đứng vững cho dù có yếu đuối. Chúng ta không thể sống mà không có nó dưới một hình thức nào đó được. Có lỏng lẻo đến mức nào đi nữa, thì nó cũng vẫn đem lại sức mạnh hơn tất cả gì khác. Thật là tuyệt diệu đời sống cộng đoàn trong đó các bạn đang cùng sống với nhau. Còn phụng vụ giờ kinh của cộng đoàn, puja, tức là việc ngâm các thánh vịnh và các đoạn Kinh thánh khác theo một giọng trầm dịu, thì ai trong chúng ta lại không thể hăng hái tham dự suốt hàng giờ cũng được. Các bạn bước vào trong một bầu khí đã có sẵn, để cùng hưởng bình an và thanh thản chung với cộng đoàn. Mỗi ngày bốn bận, chúng tôi đến nhà nguyện nhỏ của chúng tôi để nguyện kinh như thế. Tôi không biết điều này có giống ở một điểm nào với bên nhà Phật không, vì đối với chúng tôi, Thánh Thể với những biểu tượng đơn sơ của việc ăn và uống, là một cuộc “tập trung thánh” trong một cách thức đặc biệt. Chúng tôi được hấp thụ bởi cái mà chúng tôi hấp thụ, một cách mầu nhiệm. Vì một mầu nhiệm chính là điều trái ngược lại với vấn đề. Vấn đề là cái bạn làm chủ được. Còn mầu nhiệm là cái làm chủ bạn. Như thế, đối với chúng tôi, Thánh Thể là mầu nhiệm trung tâm, là cuộc tập trung và là trạng thái chú tâm hằng ngày. Rồi còn có sự trợ giúp của các lời thệ nguyện nữa. Tất nhiên là không nên biến các lời thệ nguyện này thành một hành động nặc mùi pháp lý ghê gớm, một thứ thủ tục cứng nhắc, chỉ có tính cách bó buộc và tiêu cực. Sống khó nghèo, sống từ bỏ và sống tùng phục là sống đượm đầy nhiệt tình và ánh sáng. Đó là đường đưa tới tự do.

Tôi đã cố thực thi điều thánh Tôma Aquinô nói: món quà cao quý nhất của tình yêu là chia sẻ ơn huệ của Thánh Linh, bằng cách chia sẻ với các bạn một chút kinh nghiệm về những gì đã xảy đến cho tôi trên con đường tôi đang đi. Và từ tất cả những gì trình bày trên đây, tôi xin rút ra ba câu hỏi như sau:

  1. Cảm nghiệm trên đây tương ứng tới mức nào với hai điểm cuối trong con đường cao quý của nhà Phật?
  2. Có thể so sánh cõi hư vô hay nirvana với nada-todo của đường hướng tu đức Kitô hay không?
  3. Xét cho cùng và cho thực tế, thì đến bao giờ mới có thể có được một cuộc trao đổi hữu hiệu giữa các giới tu trì Phật giáo và Kitô?