Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Một: của nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Taylor. “Văn Hoá hay Văn Minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đao đức, luật pháp phong tục và bất cứ khả năng tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”1Dẫn theo M.J Herskovits trong “Les bases de l’anthropologie culturelle”Paris 1967 p5 (11).
Đây là cách định nghĩa theo miêu tả: Tác giả tìm hiểu nội dung Văn hoá bao gồm những yếu tố nào thì cố gắng liệt kê ra cho đầy đủ.
Đặc điểm của định nghĩa thứ 11:
Tác giả định nghĩa tổng quát Văn hoá là một “tổng thể phức hợp” Cách gọi này đa số người đồng ý, nhưng cũng có một ít người không đống ý hay chê trách và lên tiếng phản bác….
Tác giả quan niệm Văn Minh theo nghĩa rộng thì đồng nghĩa với Văn Hoá
Nội dung Văn hoá gồm 7 yếu tố: Kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, tập quán…
Không những thế, văn hoá còn là bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được từ…xã hội.
Định nghĩa này không đề cập đến những giá trị vất chất, cũng là một thiếu sót lớn.
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Hai: của UNESCO Tháng 11 năm 1989. “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động2Người Đưa Tin UNESCO Tháng 11-1989, trang 7 (12)
Đặc điểm của định nghĩa thứ 12:
Chính văn hoá làm thành bản sắc bản lĩnh của mỗi dân tộc khác nhau.
Trong định nghĩa Văn hoá thứ 11 của E B Taylor đã bỏ sót giá trị vất chất nên UNESCO 1989 đã bổ sung “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất (tức giá trị vật chất) cho đến tín ngưỡng, phong tuc, tập quán, lối sống và lao động” (giá trị tinh thần).
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Ba: Của Nhà Xã Hội học Mỹ Wiliam Isaas Thomas. “Văn hoá là các giá trị Vật chất và Xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử”3Dẫn theo Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn-Sdd 2004 Nxb Văn Hoá – Thông Tin trang 11 (13).
Đây là cách định nghĩa văn hoá nhằm xác định những chuẩn mực, hay những bảng giá trị xã hội và thời đại.
Đặc điểm và hệ luận của định nghĩa này:
Trong Văn hoá tác giả đưa ra 2 loại giá trị “Giá trị vật chất & Giá trị xã hội. Thực ra trong văn hoá Đông Phương và Việt Nam, còn nhiều giá trị khác, chứ không phải chỉ có 2 loại giá trị này mà thôi.
Chúng ta cần nghiên cứu kỹ để bổ sung thật đầy đủ các giá trị hình thành Văn hoá Việt Nam. Nhiên hậu, chúng ta mới có thể thiết dựng “Bảng giá trị mới” trong “Dân tộc Học” và “Văn hoá Học” Việt Nam.
Cánh cửa mới đã được mở ra đang chờ những nhà nghiên cứu Văn Hoá, Văn Minh, Văn Hiến Việt Nam bước vào….
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Bốn: của 2 nhà học giả Mỹ William Graham Sumner và Albert Galloway Keller thuộc Đại học Yale. “Văn hoá là tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hoá hay văn minh…Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”4Dẫn theo Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn sdd 2004 Nxb Văn Hoá – Thông Tin trang 11-12. (14).
Đặc điểm của định nghĩa thứ 14:
Lối định nghĩa này áp dụng khoa Tâm Lý học điều hoà, thích nghi, thích ứng với môi trường thiên nhiên cũng như xã hội, kể cả ứng phó với thiên tai (do thiên nhiên gây ra bão lụt, hỏa hoạn, sóng thần …) đến nhân tai (Do con người tạo ra như áp chế, độc tài bạo lực và chiến tranh) nhất là ứng phó với những mâu thuẫn xã hội, quốc gia và quốc tế.
Công việc thích nghi với môi trường, là cả một quá trình học hỏi rèn luyện hình thành thói quen, hình thành nếp nghĩ nếp sống, và lối ứng xử của con người trở thành tập tục và truyền thống.
Tác giả lưu ý chúng ta, những thích nghi của con người được bảo đảm bằng con đường “kết hợp” những thủ thuật như “biến đổi” “chọn lựa” và “truyền đạt” bằng “kế thừa”.
Các nhà nghiên cứu Âu Mỹ ít người nhìn vấn đề biến dịch theo quan niệm “Âm Dương” “Động- Tĩnh” như cách nhìn của Kinh Dịch. Nhưng bằng những phương pháp và đường lối khác họ cũng khám phá tiến trình của Văn hoá là tiến trình thích ứng, điều hoà của con người thành hình những “thói quen”, “nếp nghĩ”, “nếp sống”, “truyền thống” và vừa “kế thừa” quá khứ vừa “truyền thừa” cho các thế hệ sau trong tương lai. Đó là mặt TỊNH của Văn hoá. Còn Mặt ĐỘNG là kết hợp những “biến đổi”, “chọn lựa” (lấy cái này bỏ cái kia) “truyền đạt”, “kế thừa” và “Truyền thừa” . Giữa 2 mặt TỊNH và ĐỘNG là cây cầu: SỐNG- CÒN- NỐI- TIẾN- HÓA”. Quán chiếu bản chất của Văn hoá như trên, chúng ta có thể khẳng định 2 mặt TỊNH và ĐỘNG trong Văn hoá là 2 nguyên lý không thể thiếu được khi chúng ta định nghĩa Văn hoá hay muốn bảo tồn và phát huy Văn Hoá Việt Nam.
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Lăm: của Ralph một nhà Nhân Loại học Hoa Kỳ.
A- Văn hoá suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội.
B- Văn hoá là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa”5Dẫn Theo Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn Sdd 2004 Nxb Văn Hoá – Thông Tin trang 12. (15)
Lối định nghĩa này theo cấu trúc chú trọng về mặt tổ chức, cấu trúc của các nền văn hoá.
Đặc điểm và hệ luận của định nghĩa này:
Văn hoá suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội.. Có nghĩa là các thành viên trong xã hội tạo nên các phản ứng có tổ chức – lập đi lập lại ít hay nhiều như thế nào thì Văn hoá có sắc thái hay bản lĩnh đó.
Văn hoá là sự kết hợp giữa các lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa, có nghĩa là các lối ứng xử không phải của từng cá nhân mà lề lối ứng xử về bất cứ phương diện nào, hoàn cảnh nào, thành tố nào phải được các thành viên trong xã hội tán thành mới thành “thói quen”, “tập tục” hay “truyền thống” được kế thừa từ tổ tiên hay truyền thừa lại cho các thế hệ sau.
Khoa Văn hoá Tổ chức nay đã được nghiên cứu sâu rộng tại các Quốc Gia tân tiến Âu Mỹ, trong khi khoa này còn rất mới mẻ tại Việt Nam.
Tuy nhiên chúng ta cần ý thức một cách sáng suốt rằng mỗi khoa hay mỗi phương pháp nghiên cứu văn hoá đều có giới hạn của nó, hay nói đúng hơn đều có ưu điểm và khuyết điểm và chỉ là phương tiện phụng sự văn hoá và con người mà thôi. . Xin đừng ai lầm lẫn giữa “phương tiện” và “cứu cánh” hay nói theo lời Đức Phật dậy “Đừng lầm ngón tay ta và mặt trăng”…
Chưa có thời đại nào các vấn đề “Tôn giáo”, “Văn hoá”, “Chính trị” và “Xã hội” lại quan trọng và liên quan gắn bó mật thiết với nhau, gần như không thể tách rời cho bằng thời đại chúng ta.
Về mặt Tâm linh Minh triết hay mưu lược người Việt không thua kém ai, nhưng về mặt “Tổ chức” hay “Văn hoá Tổ chức” chúng ta còn kém (hay thua kém nhiều lắm!). Chúng ta nên nhìn thẳng vào khuyết điểm này để kịp thời sửa chữa. Bước đầu chúng ta nên đề cao tinh thần “Tự Phê”, “Tự Phán” một cách thành khẩn, không nên đổ lỗi cho người mà nên tự mình phải “Phản Tỉnh thâm uyên” (Chữ dùng cùa nhà Văn hoá Lý Đông A để tự phê, tự phán cá nhân mình, cũng như tổ chức của mình!), chắc chắn chúng ta sẽ tìm ra con đường Sáng, Con đường Sống, cho các tổ chức từ Đảng Phái cho đến Liên Minh, Mặt Trận, Lực Lượng, hay Phong trào chính trị của Phe Quốc Gia, bắt đầu từ hải ngoại cho đến trong nước.!
Cần duyệt xét lại từ nền tảng Nền Văn Hoá Chính Trị Việt!
Chúng ta cần có Tâm linh Việt, Minh triết Việt, Văn hoá Việt, Giáo dục Việt, Chính trị Việt, Xã hội Việt, Con mắt Việt, Tổ chức Việt và Hành động Việt. Hãy khóc lên ôi Quê hương yêu dấu!
Đã đến lúc chúng ta cần nghiên cứu thâm sâu Văn Hoá Tổ Chức của Âu Mỹ kết hợp với tinh hoa tổ chức của Văn Hoá Việt Nam.
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Sáu: của PGS Phan Ngọc. Khác với những định nghĩa trước đây thường mang tính chất “Tinh Thần luận”, PGS Phan Ngọc muốn định nghĩa văn hoá theo “Thao Tác luận”. Thực vậy, trọng cuốn “Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam” tác giả quan niệm: 1/Không có cái vật gì gọi là văn hoá cả và ngược lại bất cứ vật gì cũng có cái mặt văn hoá. 2/Văn hoá là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. 3/ Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng cho một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau tạo thành nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ. 4/ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo, đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lãnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác.
Từ những nhận định trên, tác giả đưa ra một định nghĩa Văn hoá như sau: “Văn hoá là mối quan hệ, giữa thế giới biểu tượng, trong óc của một cá nhân, hay một tộc người với thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này, hay tộc người này mô hình hoá, theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất, chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” 6Phan Ngọc – Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam trang 14-17, Nxb Văn Hoá Thông Tin Hà Nội -1998.(16).
Đặc điểm của định nghĩa thứ 16:
Phải nói ngay rằng các nhận định trên về văn hoá của tác giả Phan Ngọc khá độc đáo và hay.
Điều biểu hiện rõ nhất của văn hoá chính là sự lựa chọn (Thí dụ về cách ăn: Có dân tộc thích ăn bốc, người Việt ăn bằng đũa, người Tây Phương ăn bằng thìa, dao nĩa v.v…- Thí dụ về cách đối xử với người chết: cũng có những chọn lựa khác nhau: địa táng (chôn dưới đất), thủy táng (thả xuống nước), hỏa táng (đốt thành tro), điểu táng (để xác cho chim ăn thịt), ướp xác, tượng táng (biến xác chết thành pho tượng, quét sơn lên để giữ gìn v.v…) Không thể nói kiểu chọn lựa nào hay hơn kiểu chọn lựa nào vì đều là phương cách biểu hiện văn hoá của mỗi cá nhân hay của một dân tộc…
Tuy nhiên văn hoá, không chỉ là “quan hệ” – “giao tiếp” – và “chọn lựa” mà còn nhiều “tác năng” và “chức năng” khác nữa ….. Do đó chúng ta thấy rằng định nghĩa văn hoá theo “Thao tác luận” khá hay và độc đáo, nhưng chính “Thao tác luận” cũng bị “giới hạn” bởi chính “phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa!!! chẳng phải thế sao?
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Bẩy: của triết gia Jean Paul Sartre. Trong cuốn “Luận Cương về Văn Hoá Việt Nam” của học giả Vũ Ký có đề cập đến định nghĩa Văn hoá của triết gia Jean Paul Sartre chúng tôi xin trích lại như sau:
Nói văn hoá là nói sáng tạo, hấp thụ, và lưu truyền cho nên Jean Paul Sartre định nghĩa rất thông thường: “Văn hoá là hiện thể của quá khứ, và dự phóng hiện thể của tương lai” 7Dẫn theo Vũ Ký – Luận Cương về Văn Hoá Việt Nam trang 19 do Trung Tâm Văn Hoá Xã Hội Việt Nam xuất bản tháng 1 năm 1996 Bruxelles –Belgique. In lần thứ hai tại Hoa kỳ 1997.(17)
Tiếp theo trên, là lời nhận định tâm huyết của Học giả Vũ Ký mà chúng tôi rất lấy làm tâm đắc8Vũ Ký sdd trang 19-21 in lần thứ hai tại Hoa Kỳ 1997. (18).
“Do định nghĩa trên, ta có thể nói đến phương diện tịnh (=hiện thể của quá khứ) và động của văn hoá (=dự phóng hiện thể của tương lai).
“Xét về mặt tịnh, thì hiển nhiên, thực chất văn hoá của một đất nước, trong quá khứ trong hiện tại là đối tượng của sự nghiên cứu. Do đó việc truy nguyên, phân tích nhận định, không khó khăn. Ví dụ: bản sắc nền văn hoá ấy có những đặc tính nào? Các yếu tố hình thành gồm có những gì? Nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng ngoại lai nào? và ảnh hưởng ấy tác động ra sao? v. v…
Nhưng khi xét đến mặt động của văn hoá một dân tộc, nghĩa là sự chuyển vận, lưu hành hiện diện, sự trở nên của nó trong thời gian gần, trong tương lai xa, thì rất phức tạp, không dễ dàng. Cần vận dụng nhiều nghiên cứu sâu rộng và óc khảo sát, nhận định sáng suốt, căn cứ trên các dữ kiện văn hoá, các điều kiện tinh thần, tâm linh của dân tộc ấy cùng nhiều kinh nghiệm về văn hoá sử quốc gia và quốc tế để tiên liệu, đoán trước và định hướng cho nền văn hoá ấy tiến tới trong tương lai.
Các nhà làm văn hoá, các bậc thức giả, nhìn xa thấy rộng có thể gọi nhà tiên tri văn hoá không nhỉ? phải đi tiên phong trong hướng dẫn, chủ trương thúc đẩy văn hoá về mặt động của nó hòng đạt đến mục tiêu tối hậu là xây dựng cho kỳ được một nền văn hoá lương hảo cho cộng đồng dân tộc mình trong mai hậu. Nền văn hoá ấy chẳng những bảo tồn phát huy tinh hoa bản sắc dân tộc mà còn gạn lọc để du nhập chất liệu tốt đẹp, tiến bộ ngoại lai hòng nền văn hóa dân tộc mình khỏi sa vào đại họa hậu tiến, biến chất hoặc vong bản. Trách nhiệm định hướng để văn hoá tiến triển cùng sự thể hiện để hình thành nền văn hoá ấy là công trình của cả một tập thể, của cả một cộng đồng, biểu lộ sức sống, ý chí tự tồn tại của cả giống nòi.
Nói đến mặt tịnh của văn hoá, chúng tôi thường dùng đến từ ghép “văn hoá sử” biểu hiện tính chất tịnh, và đó là cơ sở, nền tảng của văn hoá sử. Và khi nói đến mặt động chúng tôi cũng dùng các từ “Giòng văn hoá sử” chỉ dẫn tiến trình, chuyển động, vận hành của văn hoá. Có người cho rằng chúng tôi dùng tiếng “sử” trong hai danh từ ghép đó là thừa. Và sở dĩ chúng tôi dùng tiếng văn hoá sử chứ không dùng tiếng văn hoá đơn độc là muốn gồm cho được nhiều giai đoạn văn hoá trên trình tự văn hoá làm nên lịch sử văn hoá của một đất nước. Nền văn hoá sử một đất nước có vững chắc, thì giòng văn hoá sử, mới khỏi chao đảo, nghiêng lệch sai lạc theo thời gian mà tác hại lâu dài đến dân tộc….”
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Tám: của Văn Hào Pháp André Malraux (1901-1976). “Văn hoá là tất cả các hình thái của nghệ thuật, tình yêu và suy nghĩ, những thứ mà trong sự tồi tệ cũng như trải qua bao nhiêu thế kỷ đã khiến cho con người trở nên ít nô dịch hơn”9André Mailaux (Sinh 3 Tháng 11 Năm 1901 mất Ngày 23 Tháng 11 Năm 1976 tại Cre’teil, Val-de- Marne) là một Văn Hào ( từng đoạt giải Goncourt) nhà phiêu lưu Pháp và là một chính trị gia (Từng làm Bộ Trưởng Văn Hoá Pháp 1058- 1969). (19)
Đặc điểm và hệ luận của định nghĩa này:
Nhiều nhà nghiên cứu Văn hoá Đông phương ảnh hưởng Kinh Dịch thường phân loại các khái niệm văn hoá hay các sự vật quy chiếu vào 3 phạm trù lớn là “Tam Tài” – Thiên Địa Nhân hay “Ngũ – Hành” (kim Mộc Thủy Hỏa Thổ). Văn Hào André Mailraux khi định nghĩa văn hoá đã qui chiếu các yếu tố tạo nên văn hoá vào 3 phạm trù: “Nghệ Thuật”, “Tình yêu” và “Suy nghĩ” thật là tuyệt vời.
Ai cũng phải công nhận rằng “suy nghĩ” hay Tư Duy (Lý trí, Tư Tưởng…) là một phạm trù lớn trong văn hoá vì có suy nghĩ, có tư duy mới phân biệt được phải trái, đúng sai, mới khái quát các hiện tượng rời rạc thành nguyên tắc, thành nguyên lý, thành hệ thống ….tạo thành triết lý, triết học, luật pháp, chế độ v.v….
Nhưng “Nghệ thuật” là sự hài hoà giữa “Lý” và “Tình” là hồn của sáng tạo nên “Nghệ Thuật” cũng là một trong bộ ba CHÂN THIỆN MỸ…Do đó nên Văn hào Andre Mailraux người đã có con mắt triết mới đưa nghệ thuật vào 3 phạm trù lớn tạo nên văn hoá là rất đúng.
“Tình Yêu” hay “Tâm hồn” không những là một phạm trù lớn trong văn hoá vì “Nhất âm nhất dương chi vi đạo” (Kinh Dịch) mà Tình Yêu còn thăng hoa siêu hóa Lý Tình (Âm Dương) nữa!. Nếu kéo dài trạng thái Tình Yêu (viết Hoa) thì con người sẽ “hòa đồng” cùng vũ trụ. Đây cũng là câu nói thời danh của triết gia Lục Tượng Sơn thời nhà Tống bên Tầu “Ngô tâm tiện thị vũ trụ, vũ trụ tiện thị ngô tâm”(= Tâm ta ở trong vũ trụ và vũ trụ ở trong tâm ta).
Khi Chúa Jesus nói “Thiên Chúa là Tình Yêu”, Ngài đã nói về tình yêu theo nghĩa vi diệu nhất này….
Nhà đạo học Oso Ấn Độ (nhiều người đã coi Olso như vị thầy vĩ đại-như một vị Phật sống trong thế kỷ 20 ) có nói rằng: “Chúa Jesus đã nói một câu rất hay “Thiên Chúa là Tình Yêu” còn tôi (Olso), tôi nói “Tình yêu là Thiên Chúa” …
Tình yêu đã quan trọng và vi diệu như vậy mà tại sao đa số những nhà văn hoá it ai đề cập đến tình yêu như một “phạm trù lớn” hay một “thành tố trong văn hoá. Tại sao vậy?? …Một phút lắng lòng…. Chúng ta đã hiểu vì sao rồi…..Chính giới trí thức trước hết phải tự chữa bệnh cho mình ….trước khi trở thành người hướng đạo về Văn hoá!
Qua định nghĩa trên, Văn hào Andre Malraux còn kín đáo cho chúng ta biết Văn hoá có sứ mạng giải phóng con người ra khỏi những cảnh tồi tệ, hay mọi hình thức “nô dịch” hoá con người”. Có điều trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề “Tổng hợp’” hay “Tập Đại Thành Văn hoá Đông Phương và Tây Phương” cần phải đặt ra như một nhu cầu cấp thiết nhất cho toàn thể nhân loại.Trong Ý hướng đó vấn đề Sứ Mạng Văn Hoá mà các học giả Nguyễn Đăng Thục, Hồ Hữu Tường và nhà Văn Hào Andre Malraux đã tiên phong nêu lên, chúng ta cần làm sáng tỏ hơn bao giờ hết! (Vì trong thời đại toàn cầu hoá, với phương tiện thông tin tối tân và nhanh chóng nhất hiện nay không có lý do gì nhân loại phải chờ đợi… thêm nhiều thế kỷ nữa như đã từng chờ đợi trong nhiều thế kỷ đã qua?!)
Sau cùng, muốn bảo tồn và phát huy Văn hoá, muốn hoà điệu nền Văn Hoá Đông Phương và Tây Phương, chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn: Tính Thể Văn Hoá là Gì? Như thế nào?
Ai đó làm thinh chớ nói nhiều….
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu…
(Thơ Hàn Mặc Tử)
Đa tạ thi sĩ siêu thoát Hàn Mặc Tử đã giúp chúng ta cảm nhận một cách sống động thế nào là “Tình Yêu” là “Tinh Nghĩa” là “Bản Chất” hay “Hồn Tính” Văn Hoá Việt Nam….
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Mười Chín: của TS Elot. Thực ra đây chỉ là một định nghĩa văn hoá “gián tiếp” của Eliot – Ông là một văn gia người Anh đã đoạt giải Nobel văn chương 1948, nhưng ông nhận thấy định nghĩa văn hoá là điều quá khó khăn, nên ông rất cẩn trọng (hay tránh né). Mặc dầu ông viết cả một cuốn sách bàn về văn hoá, nhưng chỉ khiêm tốn là “Những ghi chú để tiến tới một định nghĩa về Văn hoá” (Notes towards the Definition of Culture). Chúng tôi gọi là định nghĩa văn hoá gián tiếp của Eliot là như vây.
T.S Eliot viết “Đối với xã hội, văn hoá bao gồm tất cả những hoạt động đặc biệt của một dân tộc, như đối với dân tộc Anh là ngày đua ngựa ở Derby, đua thuyền ở Henl, đua du thuyền ở Cowes, cuộc đua chó, trò chơi phóng tên, hoặc ăn phó mát Wensleydale, bắp cải luộc xắt thành miếng, củ cải đỏ ngâm dấm, đi nhà thờ làm theo kiểu Gothic thế kỷ XIX, nghe âm nhạc Elgar…”10It includes all the characteristic activities and interests of a people: Derby day, Henley Regetta, Cowes, the twelfth of August, a cup final, a dog races, the pin table, the dart board, Wensleydale cheese, boiled cabbage cut into sections, beetroot in Vinegar, nineteenth-century Gothic churches and the music of Elgar … – TS. Eliot, Notes towards the Definition of Culture, p.21. (20)
Qua nhân định trên, chúng ta thấy Eliot cho rằng Văn hoá là tất cả những gì làm cho cuộc sống thêm tươi, thêm vui, thêm đẹp, thêm hương vị, thêm mầu sắc, thêm thích thú hay nói khác đi văn hoá làm cho cuộc đời lên hương, giúp cho con người vui chơi, giải trí hân thưởng nghệ thuật vui hưởng cuộc sống.
Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Hai Mươi: của nhà xã hội học Henri de Man. Khác với những nhà nghiên cứu văn hoá cổ điển khi định nghĩa văn hóa thường chú trọng vào giá trị tinh thần cao siêu thâm viễn của các cá nhân, những nhà xã hội học, nhân chủng học như Henri de Man hay Liton định nghĩa văn hoá là Lề Lối Sống Của Một Dân Tộc, Một Xã Hội Con Người.
Hen de Man định nghĩa: “Văn hoá là một lề lối sống dựa trên một niềm tin công cộng, vào một hệ thống và một tôn ti, trật tự, thứ bực giá trị làm cho đời sống có một ý nghĩa nhất định”11La culture est donc une configuration de la vie reposant sur la croyance commune à une hiérarchie de valeurs déterminées. Cette hiérarchie de valeurs donne à la vie une signification précise, elle s’incarne en un style de vie particulier, à travers des besoins et des normes communes de jugements. Henri de Man, L’Idée socialiste, p. 35. (21).