Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Hai Mốt: của Liton. “Văn hoá của một xã hội là lề lối sống của các phần tử trong xã hội ấy. Đó là toàn bộ những ý tưởng và tập tục mà họ đã thâu lượm, chia sẻ và lưu chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá đem lại cho mỗi người của mỗi thế hệ những cách giải quyết hữu hiệu và lập thành về tất cả các vấn đề mà họ sẽ gặp phải. Những vấn đề này được nêu lên vì những nhu cầu sống trong một đoàn thể có tổ chức”1La culture d’une société est le mode de vie de ses membres, c’est l’ensemble des idées et des habitudes qu’ils acquièrent, partagent et transmettent de génération en génération. …La culture fournit aux membres de chaque génération des solutions efficaces et toutes prêtes pour la plupart des problèmes qui se poseront vraisemblablement aux. Ces problèmes sont eux-mêmes soulevés par les besoins d’individus vivant au sein d’un groupe organisé. – L’Originalité des Cultures (Unesco), p.12, note I. (22).

Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Hai Mươi Hai: của Campagnolo. Có một số người đặt nặng vấn đề “Sáng Tạo” trong Văn hoá đã có định nghĩa Văn hoá là SÁNG TẠO.

Campagnolo chủ trương : “Văn hoá là sáng tạo những giá trị mới, không nhất thiết nô lệ quá khứ, không nhứt thiết chạy theo cái đã có, mà phải luôn luôn hướng về sự đổi mới.”2Je ne sais pas si l’on peut définir toute culture comme la fonction de créer des valeurs qui ne sont ni la reproduction, ni la dérivation des valeurs existantes. – Comprendre No 16, Rencontre Est-Ouest, 5ème séance, p. 267. (23)

Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Hai Mươi Ba: của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ. Trong cuộc nói chuyện về đề tài “Văn Hoá Là Gì?” của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ do Trung Tâm Nghiên Cứu và Thông Tin Tân Định tổ chức tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc chiều ngày Chủ Nhật 13.7. 1969 – Bài nói chuyện về Văn hoá của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ rất súc tích. Đặc biệt tác giả đề cập đến 3 nền Văn hoá và 3 bình diện sống của con người:

Ba nền văn hoá là:

  • Văn Hoá Thần Linh (Culture Spirituelle)
  • Văn Hoá Nhân Bản (Culture Humaniste)
  • Văn Hoá Kỹ thuật, Vật chất (Culture Mterialiste – Techique)

Ba bình diện sống của con người:

  • Thần linh, hay Tâm linh, hay Thiên Đạo
  • Nhân Tâm, Nhân Bản hay Nhân Đạo
  • Vật Chất, Kinh tế hay Địa Đạo.

Bàn về định nghĩa Văn hoá, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ cho rằng: Trước tiên, muốn định nghĩa về văn hoá, tôi nghĩ nên có một định nghĩa hết sức rộng rãi, hết sức linh động để có thể phổ cập mọi nơi, mọi đời.

Vì lẽ đó mà tôi muốn định nghĩa “Văn hoá là tất cả những nỗ lực của muôn thế hệ nhân quần để vươn lên cho tới tinh hoa hoàn thiện, cho tới một đời sống lý tưởng về một phương diện nào hay về mọi phương diện và tất cả những công trình đã thực hiện được, những giai đoạn đã vượt qua được trên bước đường tiến hoá ấy”3Cuộc nói chuyện của Trung Tâm Nghiên Cứu và Thông Tin Tân Định với đề tài “Văn Hoá là Gì” của B.S. Nguyễn Văn Thọ tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc hồi 17 giờ Ngày Chủ Nhật 13.7.1969 (24).

Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Hai Mươi Ba có ưu và khuyết điểm sau:

1. Ưu điểm:

Đúng như nguyện vọng của B.S Nguyễn Văn Thọ. Định nghĩa văn hoá của tác giả rất rộng rãi và hết sức linh động…

Tác giả quan niệm “Thành quả của văn hoá là nỗ lực của nhiều người của nhiều thế hệ trong nước xây dựng lên.

Văn hoá có mục tiêu là giúp cho con người vươn tới tinh hoa hoàn thiện hướng tới một lý tưởng cao cả.

Sau cùng, Văn hoá còn là công trình mà con người đã thực hiện hay đã vượt qua trong tiến trình tiến hoá văn hóa xã hội…

2. Khuyết điểm:

Tác giả không xác định rõ Bản Chất Văn Hoá là gì? Hai mặt “Động” và “Tĩnh” của Văn hoá ra sao?

Sứ mạng Văn hoá trong hiện tại và tương lai như thế nào ?

Định Nghĩa Văn Hoá Thứ Hai Mười Bốn: của Phó giáo sư, Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm Trong cuốn “Tìm về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam”, trong lời nói đầu sách tác giả viết: “Về văn hoá Việt Nam cho đến nay, tuyệt đại bộ phận các công trình được viết ra theo hướng “lịch sử văn hoá” mang tính chất miêu tả, công phu tỉ mỉ, như của Lê Quí Đôn (1773), Phan Kế Bính (1915), Đào Duy Anh (1938), Nguyễn Văn Huyên (1944), Toan Ánh (1966-1969), Lê Văn Siêu (1972), Ban văn hóa văn nghệ Trung ương (1989) v.v… Bên cạnh giá trị tư liệu hết sức quí báu, các công trình loại này có 3 nhược điểm chủ yếu: a) tản mạn, thiếu tính hệ thống, tính qui luật, b) do vậy mà còn chứa rất nhiều mâu thuẫn nội tại, và c) thường bị chi phối một cách vô thức bởi căn bệnh “lấy Trung Hoa làm trung tâm”. Chỉ còn một số ít tác giả đã ít nhiều thoát ra khỏi tình trạng trên, như Kim Định (1973), Trần Quốc Vượng (1989), Phan Ngọc (1994) nhưng các công trình này hoặc còn mang nhiều cảm tính-cực đoan (như Kim Định) hoặc chưa tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh”

Từ nhận định khái quát trên, Tiến Sĩ Trần Ngọc Thêm đã “vận dụng cách tiếp cận hệ thống cấu trúc kết hợp với phương pháp so sánh – loại hình để tiến hành khảo sát văn hoá Việt Nam…”

Riêng về định nghĩa Văn hoá tác giả viết: “Nhược điểm lớn nhất của nhiều định nghĩa văn hoá lâu nay là ở chỗ coi văn hoá như một phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận. E.B Taylor định nghĩa văn hoá như một “phức hợp (Chu Tấn in đậm) bao gồm trí thức tín ngưỡng, nghệ thuật đạo đức, luật pháp, phong tục, cũng như mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội… tiếp thu được”. Định nghĩa văn hoá trong các loại tự điển, các công trình nghiên cứu …thường mở đầu bằng câu ‘Văn hoá là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các giá trị”… Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học-khi mà văn hoá chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập”

Sau khi vận dụng cách tiếp cận hệ thống cấu trúc kết hợp với phương pháp so sánh – loại hình tác giả khám phá thấy văn hoá có 4 tính chất đặc trưng sau đây:

  • Tính Hệ Thống.
  • Tính Giá Trị.
  • Tính Nhân Sinh.
  • Tính Lịch Sử…

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong 4 tính đặc trưng nói trên tính Hệ Thống quan trọng nhất! và tác giả đã định nghĩa Văn hoá như sau:

“Văn Hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,(tác giả TNT ghi đậm) trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”4Trần Ngọc Thêm – Tìm Về Bản Sắc Văn Hoá Viêt Nam trang 21-27 Nxb TP Hồ Chí Minh 1997. (25).

Trước khi nhận định về Định Nghĩa Văn Hoá thứ 24 này, chúng tôi xin phép được tóm tắt quan niệm của tác giả và sau đó đưa ra những nhận xét của cá nhân chúng tôi:

1. Quan niệm của Tác giả Trần Ngọc Thêm về định nghĩa Văn hoá:

Trước hết T.S Trần Ngọc Thêm “chê” các định nghĩa về văn hoá từ lâu nay đều có nhược điểm (Chu Tấn in đậm) là coi văn hóa như một phép cộng đơn thuần (?) của những trí thức bộ phận…điển hình như định nghĩa văn hoá của E.B Taylor… các định nghĩa lâu nay (?) đều có tính cách “cảm tính” (Chu Tấn in đậm)

Các định nghĩa văn hoá lâu nay (?) sở dĩ có nhược điểm đó theo Trần Ngọc Thêm là vì không nhìn ra tình chất “Hệ Thống” quan trọng trong văn hoá. Hơn nữa trước đây người ta nghiên cứu văn hoá theo các bộ môn nghiên cứu riêng rẽ, nên chưa có cái nhìn tổng quan nhất là khi môn “Văn hoá Học” chưa ra đời.

Tác giả Trần Ngọc Thêm áp dụng phương pháp “hệ thống Cấu Trúc” kết hợp với “phương pháp so sánh loại hình” mà tác giả cho là phương pháp mới để khám phá Văn Hoá Việt Nam.

Vẫn theo tác giả Trần Ngọc Thêm văn hóa có 4 tính chất tượng trưng mà trong đó tính chất Hệ Thống là quan trọng nhất. Do đó tác giả đã đi tới định nghĩa “Văn hoá là một Hệ Thống Hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn”.

2. Nhận xét của chúng tôi về định nghĩa văn hoá thứ 24 của TS Trần NgọcThêm:

Trước hết chúng tôi thấy tác giả Trần Ngọc Thêm chê các nhà nghiên cứu văn hoá trước ông như Lê Quí Đôn, Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh, Lê Văn Siêu, hay Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương (1989) v.v…khi định nghĩa về văn hóa đều mắc bênh “tản mạn, không nhìn ra tính hệ thống, tính qui luật của văn hóa”? Lời phê bình này của tác giả Trần Ngọc Thêm không những là “phiến diện” mà còn mang tính “hàm hồ” vì chính tác giả Trần Ngọc Thêm vô tình hay hữu ý đã đánh mất đi tinh nghĩa hay cái hồn của văn hoá! Điều chúng ta không phủ nhận là văn hoá – nhất là “Văn hoá Lý tính”, “Văn hoá Nhận thức” mang tình hệ thống, hay tính qui luật, nhưng còn “Văn Hoá Nghệ Thuật”, “Văn Hoá Tình Yêu” hay “Văn Hoá Tâm Linh”… không hề mang tính “Hệ Thống” hay Tính “Qui luật: nào cả! Vậy mà tác giả Trần Ngọc Thêm lại đem tính “Hệ Thống” ra để định nghĩa Văn hoá tổng quát nói chung thì có phải là “khiên cưỡng”, “phiến diện” hay “quáng gà “hay không?

“Đem bục công an đặt giữa trái tim người
Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước”!

(Thơ Lê Đạt  trích trong Nhân Văn Giai Phẩm)

Ai cũng hiểu để điều hành việc giao thông trong thành phố thì phải theo một “qui ước” hay “qui luật nhất định” nhưng tình cảm yêu đương trong trái tim con người có theo một qui luật hay một hệ thống nào đâu? Vậy nếu ai không định nghĩ Văn hoá là môt “Hệ Thống” như kiểu định nghĩa của Trần Ngọc Thêm thì đều là tản mạn, cảm tính hết hay sao?? Những người theo chủ thuyết Cộng sản hay định nghĩa văn hoá là “Ý Thức Hệ” và quả quyết rằng Văn hoá chỉ là Ý Thức Hệ của đấu tranh giai cấp chứ không là gì khác, nay Trần Ngọc Thêm áp dụng phương pháp Hệ Thống Cấu trúc khi định nghĩa Văn hoá là “Hệ Thống” hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần… chúng ta không lấy làm lạ.

Tác giả Trần Ngọc Thêm sau khi “chê” các nhà nghiên cứu Văn hoá trong nước, chê luôn các nhà nghiên cứu văn hoá thế giời tiêu biểu như Edward Bernett Tylor khi ông định nghĩa văn hoá là “một Tổng Thể Phức Hợp vì bao gồm nhiều thành tố như kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục tập quán…” Phải chăng Trần Ngọc Thêm không những không đồng ý với định nghĩa Văn hoá là một “Tổng thể” lại còn là Tổng Thể Phức Hợp” mà ông cho rằng là một “phép cộng đơn thuần của những trí thức bộ phận…” nên có nhược điểm “không biết tổng quát hoá thành Hệ Thống” vì lý do “Cảm Tính” hay vì giới hạn lịch sử, khi khoa “Văn Hoá Học” chưa ra đời như một bộ môn Văn Hoá chuyên ngành có tính cách độc lập nổi bật như hiện nay. Lối “chê” này của Trần Ngọc Thêm vừa mang tính chủ quan “phiến diện” vừa mắc bệnh “duy lý” đến mức “quá đà” khi cho rằng bất cứ loại hình văn hoá nào cũng có thể “tổng quát hoá”, “qui luật hoá” thành “Hệ Thống”. Điều mà TS Trần Ngọc Thêm không biết rằng yếu tính hay bản chất văn hoá vừa có tính chất “hệ thống” vừa “phi hệ Thống” vừa “siêu hệ thống”. Chính vì yếu tính diệu kỳ này nên học giả Lowell đã thú nhận rằng: “Tôi đã được ủy nhiệm nói về văn hoá, nhưng ở trên đời này không có gì phiêu diêu, mông lung hơn là danh từ văn hoá. Người ta không thể phân tách văn hoá, vì thành phần nó vô cùng tận…Người ta không thể mô tả văn hoá vì nó muôn mặt. Muốn cô đọng ý nghĩa văn hoá thành lời lẽ thì cũng như tay không bắt không khí: Ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm được gì…”5Thus in their introduction to the Volume Culture: A critical Review of Concepts and Definitions, the anthropologists L. Kroeber and Clyde Kluckhohn quoted Lowell’s confession: «I have been entrusted with the difficult task of speaking about culture. But there is nothing in the world more elusive. One cannot analyse it, for its component are infinite. One cannot describe it, for it is a Protean in shape. An attempt to encompass its meaning in words is like trying to seize the air in the hand, when one finds that it is everywhere, except in one’s grasp.» – Cf. Gerald Holton, Science and Culture, Houghton Mifflin Co, Boston, The Riverside Press, Cambridge 1955, p. VII. (26)

Về cách tiếp cận “cấu trúc” kết hợp với phương pháp so sánh loại hình mà tác giả Trần Ngọc Thêm đã áp dụng khi nghiên cứu văn hoá Việt Nam, chúng ta thấy gì? Theo dòng tiến hóa của lịch sử, càng ngày nhân loại càng tìm tòi sáng tạo ra những đường hướng mới, phương pháp khám phá mới về văn hoá. Đây là những bước tiến mới rất đáng mừng, rất đáng hoan nghênh, nhưng khi nhà nghiên cứu văn hoá chọn lựa và áp dụng bất kỳ một phương pháp mới nào thì phải hiểu rằng “Đường lối hay phương pháp mà mình áp dụng chỉ là “Phương tiện” để khám phá chân lý văn hoá mà thôi – có thể phương pháp tân tiến này hay hơn các phương pháp nghiên cứu văn hoá cũ – nhưng chỉ hay hơn về phương pháp – nói theo thuật ngữ Phật giáo là “Phương tiện thiên xảo” hơn các phương tiện khác mà thôi, chứ không thể tôn vinh một phương pháp tân tiến nào như là cùng đích của văn hoá có thể giúp mình nắm chân lý Văn hoá ở trong tay! Thái độ quá tin tưởng trở thành “cực đoan”, “hãnh tiến” hay “kiêu ngạo” này rất nguy hiểm! vì mang tính chất bạo động với chân lý! Những ai mắc phải thái độ hãnh tiến vô lối này thì thường đi từ một cực đoan này tiến sang một cực đoan khác, vừa không khám phá ra chân lý hoặc chỉ ôm lấy những “mặt trời mù” thay vì tìm ra Chân Lý đích thực của Văn Hoá! Thực vậy, ngay cả những nhà nghiên cứu sáng tạo ra trường phái “Cấu trúc” hay phương pháp so sánh loại hình cũng chưa ai lên tiếng định nghĩa “Văn Hoá là một Hệ Thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần…” như Trần Ngọc Thêm đã khẳng định! Dĩ nhiên đây không là lỗi tại “đường hướng” hay “phương pháp” mà tác giả đã chọn lựa để nghiên cứu văn hoá nhưng chỉ là thái độ “Bảo hoàng hơn Vua” do óc phê phán chủ quan phiến diện của tác giả mà ra nông nỗi!!! Lối định nghĩa văn hoá khẳng định chắc nịch bao quát tất cả các loại hình văn hoá theo kiểu Trần Ngọc Thêm không những không thuyết phục được mọi người mà còn có tác dụng làm khô cứng làm thui chột, và đánh mất “Hồn tính” của văn hoá vậy. Khi định nghĩa văn hoá là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần của con người…” là tác giả đã vô tình thu hẹp các bảng giá trị văn hoá nhân loại vào trong hệ thống “Nhị giá”, “vật chất” và “tinh thần” trong khi giá trị Văn hoá nhân loại là “Đa giá” không phải chỉ có giá trị “vật chất” và “tinh thần” mà thôi đâu! Thí dụ như nền Văn hoá Đông phương hay nói “Văn Hoá Tuệ Giác”, “Văn Hoá Bát Nhã” hay “Văn Hoá Tính Không” thì không thể cô đọng trong một hệ thống nào cả! vì bản chất nó là phi vật chất, phi ý niệm …phi phi tưởng và hơn thế nữa bản chất nó đã là “Tánh Không”… ”Bản Lai Vô nhất Vật” như lời phát biểu của Lục Tổ Huệ Năng… Chỉ cần đơn cử một hai thí dụ như trên chúng ta thất ngay sự phiến diện, thiếu sót quá đáng hay sự “thiển cận quáng gà” về nhận thức Văn hoá của tác giả Trần Ngọc Thêm!

Định Nghĩa Văn Hóa Thứ Hai Mươi Lăm: của Chu Tấn. Là kẻ hậu sinh, hậu học, Chu Tấn tôi cũng xin mạo muội đưa ra một định nghĩa Văn hoá mới tương đối trung thực, chính xác và đầy đủ đáp ứng nhu cầu Thời đại Toàn Cầu Hóa” như sau:

“Văn hoá là hiện tính của Sự Sống và là tinh hoa của Đạo Sống con người. Văn hoá thường biểu hiện trên hai mặt Động và Tĩnh..Xét về “phương diện TĨNH” Văn hoá là trạng thái thích nghi với hoàn cảnh, ứng xử với tha nhân, làm thành “thói quen”, “nếp nghĩ”, “nếp sống”, “phong tục tập quán”, “thuần phong mỹ tục”, hình thành các “giá trị truyền thống” của cả dân tộc “truyền thừa” cho các thế hệ sau…. Xét về “phương diện ĐỘNG” Văn hoá là động lực tiến hoá cá nhân và xã hội, hướng tới dự phóng tương lai theo tiến trình “Dung Hoá”, “Sáng Hoá” và “Sống Hoá” sự sống con người, dân tộc, thế giới và thời đại. Văn hoá không những có sứ mệnh giáo hoá con người mà còn có sứ mệnh giải thoát con người, xây dựng xã hội, gìn giữ Hòa Bình và xây dựng nền “Thái Hoá Nhân Loại” (Xin xem “Sứ Mệnh Văn Hóa cũng trong Tuyển Tập này).