II- Những Ghi Nhận Cần Lưu Tâm Và Đào Sâu Hơn Nhằm Phát Huy Tập Đại Thành Văn Hoá Việt Nam.

Sau khi đã nhận định sơ lược về 25 định nghĩa văn hóa nói trên; Giờ đây muốn phát huy Văn Hoá Việt Nam, chúng ta cần khách quan ghi nhận những sự kiện hay những nhận thức mới, tư tưởng mới, chân lý mới liên quan đến nội dung Văn Hoá Việt Nam như sau:

Ghi nhận 1: Điều không ai có thể phủ nhận được là “Nội Dung Văn Hoá” rất bao la bao gồm rất nhiều yếu tố…. nên việc đi tìm một định nghĩa Văn Hoá đúng nhất hay nhất là điều khó khăn vô cùng… Nhưng cũng chính vì vậy mà chúng ta phải cần lưu tâm tìm hiểu sâu xa hơn nhằm xây dựng nền tảng và phát huy Văn hoá Việt Nam…

Ghi Nhận 2: Một khi chúng ta thừa nhận rằng: “Văn hoá rất khó định nghĩa” nhưng khi một người hay một cơ quan văn hóa (như Cơ quan Văn Hoá Giáo dục UNESCO chẳng hạn) muốn thuyết minh một đề tài văn hoá, hay muốn công bố một chủ trương văn hoá nào đó hoặc muốn phát huy văn hoá, phổ biến văn hoá (thí dụ viết báo, viết sách….nói trên đài phát thanh, đài truyền hình v.v…) thì cá nhân, hay nhóm người hay cơ quan văn hoá lại không thể không định nghĩa văn hoá là gì ….(Vì nếu không định nghĩa văn hoá là gì? thì làm sao độc giả khán thính giả hay quần chúng hiểu được?). Đây lại là khó khăn thứ hai! Mà khó khăn này lại yêu cầu cá nhân, nhóm người hay cơ quan văn hoá – bắt buộc phải giải quyết! chứ không thể né tránh hay làm ngơ được ! (Smile)….

Ghi Nhân 3: Trước 2 khó khăn 1 và 2 nói trên, nhà nghiên cứu văn hoá hay cơ quan văn hóa chỉ có 2 cách giải quyết; Một là tác giả (cá nhân) hay cơ quan văn hoá (tập thể) tự đưa ra một “định nghĩa văn hoá mới”. Điều này cắt nghĩa vì sao với thời gian, số lượng định nghĩa văn hoá ngày một tăng thêm nhiều” (năm 1952 hai nhà nhân loại học Mỹ đã tổng kết có 164 định nghĩa văn hóa khác nhau và sẽ còn tăng lên nhiều nữa!). Hai là: dựa vào một định nghĩa văn hoá cũ mà tác giả hay cơ quan nghiên cứu văn hoá xét thấy là hợp tình hợp lý hơn cả….

Ghi Nhận 4: Vì nội dung văn hoá quá bao la nhất là văn hoá thuôc khoa học xã hội (Social science) và nằm trong “thế giới biểu tượng” (Symbolic world)” nên dù nhà nghiên cứu văn hoá hay cơ quan văn hoá có trình độ kiến thức chuyên môn, uyên bác đến đâu chăng nữa, và áp dụng phương pháp định nghĩa văn hoá tân tiến nào chăng nữa… thì cũng chỉ đi tới mục đích là tìm ra một định nghĩa văn hoá “tương đối hay”, “tương đối chính xác” và “thích hợp” với thời đại hơn cả mà thôi! Nếu những cá nhân nào, cơ quan văn hoá nào có cao vọng tìm ra một định nghĩa Văn hoá “tuyệt đối đúng”, “hay nhất”, “chính xác nhất” thì đó chỉ là ảo tưởng…. “Những ai không hiểu lẽ đời – Sẽ đau khổ mãi thiệt thòi tuổi xanh”. Dù có “hãnh tiến”, “cao ngạo” đến bực nào, họ chỉ chạy theo “cái ngã” của chính họ, và là nạn nhân của chính họ mà thôi.

Ghi Nhận 5: Vì nhu cầu tìm hiều, nghiên cứu, phát huy và phổ biến văn hóa nên có nhiều định nghĩa văn hóa khác nhau….Không những thế, theo dòng thời gian, nhân loại còn khám phá ra nhiều phương pháp định nghĩa văn hóa khác nhau từ phương pháp “Duy danh định nghĩa”, “phương pháp miêu tả”… phương pháp định nghĩa văn hoá “theo chức năng”, theo “mục đích hay cứu cánh” của văn hoá đến phương pháp “Xã hội học”, “Nhân chủng học” hay định nghĩa văn hoá theo “Tinh thần luận”, “Tính thể luận”, “Thao tác luận”, “Cấu trúc luận” v.v… Song ở đây người viết muốn đề cập tới phương pháp “Duy danh định nghĩa” vì phương pháp này tạo ra một lối nhìn, một nếp nghĩ về văn hoá của các học giả văn hoá Đông phương, có phần khác biệt với cái nhìn hay nếp nghĩ của các học giả văn hoá Tây Phương. Nguyên do như sau: Cách đây hơn 2 thế kỷ, khi nền văn hoá Tây phương tràn sang Đông phương, mà điển hình là tại 3 nước:Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Cả 3 nước này đều không có danh từ nào là Văn hoá cả! Việt Nam có danh từ “Văn Hiến” nhưng không có danh từ Văn Hoá theo nghĩa “Culture” (như trong ngôn ngữ Pháp và Anh) hay “Kutlura (theo tiếng Đức) và Cultus (Tiếng La Tinh). Vậy muốn dịch chữ “Culture” (văn hóa) rất thông dụng trong ngôn ngữ Tây Phương sang tiếng quốc gia sở tại phải làm sao? Vì sự thiếu sót về danh từ quan trọng này nên người Trung Hoa mới lấy chữ VĂN và chữ Hoá (hai chữ này nguyên thủy đứng riêng ) rồi ghép lại thành danh từ Văn Hóa (hai chữ ghép liền nhau) để dịch danh từ “Culture” của Tây phương. (Xin độc giả xem lại định nghĩa Văn Hoá thứ nhất, thứ nhì và thứ ba đã nói ở trên). Cũng có thuyết khác cho rằng Người Nhật là người dịch chữ Culture sang tiếng Nhật đầu tiên rồi người Trung Hoa và Việt nam mới bắt chước theo. Dù là thuyết nào đúng chăng nữa, chúng ta thấy danh từ Văn Hóa xuất hiện buổi đầu chỉ là do nhu cầu “Dịch thuật” (Tìm một chữ có khái niệm tương đương với danh từ “Culture” trong văn hóa Tây Phương) Nhưng sau khi người Trung Hoa hay người Nhật đã tìm ra thuật ngữ mới “Văn Hoá” để dịch chữ “Culture” rồi, thì danh từ này đã được các quốc gia khác tại Á châu như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Đô v.v… chấp nhận và nhanh chóng trở thành thông dụng hay phổ thông … Tiếp theo nhu cầu “dịch thuật” là “nhu cầu Định Nghĩa Văn Hoá là gì”? Tới đây nhiều học giả Trung Hoa và Việt Nam thường dùng phương pháp “Duy danh định nghĩa” (căn cứ vào tên để định nghĩa – cũng có người gọi là phương pháp triết tự) theo kiểu “Chữ Văn là dáng dấp, vẻ đẹp, nét cao quí, hay Văn là Văn học còn chữ Hoá là “thay đổi, hay giáo hóa”. Vậy Văn Hóa là “dùng Văn để giáo hóa con người, (cách định nghĩa thứ nhất ) hay “Văn hóa có chức năng thay đổi con người để ngày càng trở nên cao quí tốt đẹp hơn” (cách định nghĩa thứ hai!). Phương pháp duy danh định nghĩa như trên tuy có ưu điểm là “giản dị”, “dễ hiểu, dễ nhớ”, nhưng tất nhiên là thiếu sót vì văn hoá đâu phải chỉ có một chức năng duy nhất là Giáo hoá con người mà thôi đâu? Hơn nữa phương pháp “duy danh định nghĩa” này còn đưa tới “một lối nhìn”, “một nếp nghĩ” hay một “khẳng định” nếu không muốn nói là một “định kiến văn hoá “là chỉ có những gì “Đẹp”, “Đúng”, “Lành” (Chân thiện mỹ) mới là Văn Hoá còn những gì là “Sai, ác, xấu” không thuộc lãnh vực văn hoá hay sao? Phải chăng đây là lối nhìn hay quan niệm văn hoá theo các học giả văn hoá Đông Phương có phần khác biệt với các học giả văn hoá Tây Phương? Thật vậy, ngay cả học giả Hồ Hũu Tường của Việt Nam cũng quan niệm chỉ những gì “đẹp” và “cao quí” mới là Văn Hoá còn những gì là “xấu ác” hay “ bất thiện” “nghịch lý” hay “nhố nhăng” Hồ Hữu Tường gọi đó lá “Quái Hoá” ?? (Danh từ “Quái Hóa” do học giả Hồ HữuTường đặt ra nhưng không được thông dụng!) Lối nhìn văn hoá theo hướng “chân thiện mỹ” tới nay vẫn còn là lối nhìn “quen thuộc” hay “cổ điển” của khá nhiều các nhà nghiên cứu hay các học giả văn hoá Đông phương, nhất là Trung Hoa và Việt Nam! Song các nhà nghiên cứu hay học giả văn hoá Tây Phương nhất là trường phái định nghĩa Văn Hoá theo “Nhân học” (Anthropology), “Xã Hội iHọc”( Sociology) họ quan niệm tất cả những gì là phương thức biểu hiện của sự sống con người trong xã hội thì đều là Văn hoá cả. Hơn nữa họ quan niệm cứu cánh hay cùng đích của văn hoá nhằm đưa con người tới “Chân Thiện Mỹ” nhưng phương thức biểu hiện văn hoá không nhất thiết phải là “chân thiện mỹ”! Chính lối nhìn không bị “gò bó đóng khung” trong một qui phạm nhất định nên người Tây Phương và ngay cả người Việt chúng ta, những ai có cái nhìn mới về văn hoá đều có thể dùng chữ Văn hoá một cách “linh động” như “Văn hoá dân chủ” (Democratic culture), “Văn hoá truyền thống” (Heritage Culture), “Văn hoá… nhảy đầm” (Dancing culture), Đức giáo Hoàng Jean Paul II gọi “hiện tượng phá thai” tại các quốc gia như Hoa Kỳ là “Văn hoá của sự chết” (Culture of the death) đối nghịch với “Văn hoá của sự Sống” (Living culture). Người CS tự hào họ có “Văn hoá Mác- Xít” (Marxist culture), “Văn hoá đảng” (Party culture.) <…>!. Vậy đã rõ, nếu có “Văn Hoá tiến bộ”( Progressive culture) thì cũng có “Văn hoá suy đồi” (Cututal decadence) chúng ta không lấy làm lạ! và cũng không có gì là mâu thuẫn cả! Chỉ với cái nhìn chân xác, khoáng đạt về văn hoá như trên, chúng ta mới có thể “Diệu dụng” (Super effectiveness) được Văn hoá trong thời đại mới… 

Ghi Nhận 6: Học giả Đào Duy Anh đã phỏng theo giới thuyết của Fe’lix Sartiaux định nghĩa “Văn hoá tức là Sinh hoạt” (Xin xem lại Định Nghĩa văn hoá thứ tư đã nói ở trên) hay nói khác đi tất cả các hình thái hoạt động của con người đều là văn hóa… Định nghĩa này đúng chứ không sai, Nhưng động cơ nào? thúc đẩy con người họat động? vì mình hay vì đời hay vì cả hai? Động cơ đó phát xuất do “nhu cầu sinh lý, thể lý”…như “ăn mặc ở”, “làm ái tình” của con người? hay “nhu cầu tâm lý” ….như giáo tiếp…ứng xử, thưởng ngoạn, hân thưởng cuộc sống? hay do “nhu cầu tâm linh”…..thờ phượng “Thần linh”, tin tưởng và cầu nguyện “Thượng Đế” hay do “ý thức tìm tòi, tra vấn về ý nghĩa cuộc sống”, đưa tới nhu cầu “tự thức tỉnh”, nhu cầu tìm “con đường giải thoát” cho chính con người mình và đồng loại? Vậy động cơ nào, lý do thâm sâu nào thúc đẩy chi phối mọi hoạt động mọi sinh hoạt của con người? Đặt vấn đề như trên chúng ta thấy rõ: câu định nghĩa “Văn hoá tức sinh hoạt” của học giả Đào Duy Anh hay F’elix Sartiaux tuy đúng, nhưng mới nói lên tính chất “Biểu kiến” hay hình thái “Biểu hiện” của văn hoá mà thôi. Còn bản chất văn hoá là gì là điều mà học giả họ Đào cũng như Fe’lix Sartiaux chưa đào sâu, hay còn thiếu sót … mà thế hệ hậu tấn chúng ta có bổn phận phải tìm hiểu và khám phá vì văn hoá là tiến trình tìm hiểu, khám phá, sáng tạo không ngừng….

Ghi Nhận 7: Muốn tìm hiểu Bản chất văn hoá là gì? Chúng ta cần tìm hiểu “Bản chất con người là gì? theo cái nhìn của chủ nghĩa “DuyTâm”? (idealism) theo cái nhìn của chủ nghĩa “Duy Vật”? (Materialism.), hay theo lối nhìn của “Chân Lý Sự Sống” (The truth of life). Sự Sống vốn bao hàm cả “Tâm” và “Vật” nên cả hai thuyết “Duy Tâm” hay “Duy Vật” chỉ là cái nhìn “phiến diện” của “Chân Lý Sự Sống”. Sự Sống vốn “không có duy”… (Dù là “duy Tâm”,“duy Vật“, “duy Lý”, “duy Nghiệm” hay “duy Linh” đều là phiến diện và sai lầm cả!). Tới đây một câu hỏi khác quan trọng được nêu lên: Văn Hoá bắt nguồn từ đâu? Câu trả lời được tìm thấy là văn hoá bắt nguồn hay khởi đi từ “Sự Sống con người”. Con vật hay mọi loại chúng sinh đều có sự sống. Nhưng con vật không có văn hoá! Chỉ riêng con người là “linh ư vạn vật” mới có Văn hoá… như con cọp, con sư tử có sức mạnh hơn người… con chim “biết bay”, con ong biết “làm tổ”…(là do bản năng, con ong không có “lý trí” và “ý chí” nên muôn thủa con ong vẫn là con ong – Con chim biết bay, biết kêu, biết hót, nhưng con chim không biết nói – vì con chim không có khả năng sáng tạo ra ngôn ngữ… Do đó, con vật – bất cứ loại nào, đều không có văn hoá! Văn hoá là sản phẩm của con người, Văn hoá là đặc tính nổi bật, có thể nói là tinh hoa, ưu viêt của SỰ SỐNG, ĐẠO SỐNG  con người!

Thực vậy, muốn tìm hiểu “Bản chất văn hoá là gì?- người ta không thể không đề cập tới “Sự Sống Con Người” vì văn hoá bắt nguồn từ Sự Sống con người… Điều này mới nghe, ai cũng thấy là điều tự nhiên, quá tự nhiên (tự nhiên như hơi thở, tự nhiên như sự sống). Nhưng suy tư trầm tư, uyên tư (suy nghĩ từ đáy vực thẳm của tư tưởng…) về Sự Sống con người, chúng ta mới thấy sự Sống con người là điều quí giá nhất và chính sự sống lại là suối nguồn của mọi chân lý (Đây là điều sâu thẳm và kỳ diệu nhất …). Nhưng Sự Sống ở dây không là “sự sống nói chung” của muôn loài, (đất đá, cây cỏ thú vật đều có sự sống). Nhưng chỉ riêng “Sự Sống nơi con người” mới đạt đến phẩm chất “ưu việt” làm cho cho con người VƯỢT THOÁT, THĂNG HOA được chính mình! (Như đã chứng minh ở trên, “con ong”,“con chim”… hay loài vật nói chung đều không có văn hoá, chỉ có con người mới có văn hoá… vì sự sống nơi con người đã đạt tới phẩm chất “tinh anh, ưu việt” tạo nên “trí tuệ,  “ý thức”, “siêu thức”, “tiềm thức”, “lương tri”, ”lương năng”, “lương Tâm”, “trực giác” và “Trí huệ bát nhã” (Siêu trực giác), “Tình yêu” và sự Sáng tạo”. Chính do sự trầm tư, quán chiếu sâu sắc về “Sự Sống Con Người” chúng tôi đã tìm ra ánh sáng về câu hỏi “khó khăn nhất”, “hóc búa nhất” “bản chất văn hoá là gì?” Chúng tôi xin thưa: Xét về bản chất “Văn Hoá là Hiện tính của Sự Sống, là tinh hoa của Đạo Sống Con Người, Dân Tộc, Quốc Gia Và Thời Đại.”

Ghi Nhận 8: Mội trường Sống của con người hay con người và tương quan 3 thế giới. Môi trường Sống mà chúng ta đang đề cập tới, không chỉ là môi trường sinh thái….. (giữa con người và khung cảnh thiên nhiên) mà còn là mối tương guan giữa con người với 3 thế giới: “Thế giới thực tại” (Realistic world), “Thế giới Biểu Tượng” (Symbolic world) và “Thế giới Tâm Linh” ( spiritual world). Văn hoá khởi nguyên từ sự sống con người nằm trong thế giới thực tại, phản ảnh trong trí óc con người hình thành “thế giới biểu tượng” và cũng chính sự sống con người là “CẦU NỐI” giữa “thế giới thực tại” (trần gian) và “Thế giới tâm linh” (siêu xuất thế gian). Hiện nay đa số nhân loại chưa trực cảm được thế giới tâm linh ngoại trừ Chúa, Phật, Thần Thánh và các Thiền Sư hay Đại Thiền sư… Sau khi nhận rõ mối tương quan giữa con người và 3 thế giới vừa nói, chúng ta mới thấy hết giá tri và tầm quan trọng của văn hoá và đạt đến TINH HOA của Sư Sống Con Người. Sự Sống Con Người là kho tàng vàng ngọc, kim cương…vô giá vô biên vô lượng…còn tiềm ẩn trong con người mà con người chưa biết phát huy…chưa biết khám phá thế giới Tâm linh! Chúng ta đã thấy Ánh sáng của Sư Sống, chúng ta đã tri kiến được Sư Sống, song chúng ta chưa Ngộ Nhập Vào Chân Lý Sự Sống…là suối nguồn của chân Lý, suối nguồn của Văn Hoá…

Ghi Nhận 9: Có người sẽ hỏi chúng tôi: Tác giả định nghĩa văn hoá theo phương pháp nào? Chúng tôi xin thưa: Chúng tôi không định nghĩa văn hoá theo phương pháp: “Tinh thần luận” mà định nghĩa văn hoá theo phương pháp “Tính thể luận”

Về phương pháp “Tính Thể luận:”

Muốn định nghĩa văn hoá là gì? chúng tôi đặt câu hỏi: Bản chất văn hoá là gì? Văn hoá bắt nguồn từ đâu? Nếu không phải là bắt nguồn từ Sự Sống con người??. Đây là ánh sáng đầu tiên mà chúng tôi đã khám phá ra….Cùng có sự sống mà tại sao các loài vật dù là con vật thông minh nhất, vẫn không có văn hoá? Mà chỉ có con người mới có văn hoá? Phải chăng văn hoá là sản phẩm đặc thù, độc sáng của con người? “Trầm tư,” “uyên tư” về câu hỏi này, chúng tôi mới ngộ ra: Chỉ có sự sống nơi con người mới đạt đến “yếu tính” hay “tính năng ưu việt” khiến con người Tự Phản Tỉnh, Tự Sáng Tạo,Thăng Hoa được chính mình. Chính con người có Khả Năng Tự Vượt Mình, Tự Thắng Mình… Con người không có đôi cánh để bay trong không gian như con chim bay trong bầu trời…..Nhưng con người lại có “Trí năng”, “Tâm năng”, hay “Sống năng” Vượt Thoát Chính Mình, Hòa Đồng Với Vũ Trụ, Hòa Đồng với Thế Giới Tâm Linh… Do sự trầm tư và quán chiếu sâu sắc này chúng tôi đi tới nhận định: Xét về mặt bản chất hay theo phương pháp “tính Thể luận” Văn hoá là  “Hiện tính” của Sự Sống và là tinh hoa của Đạo Sống Con Người” (xin xem lại định nghĩa văn hóa thứ 25 của tác giả đã nói ở trên).

Ghi Nhận 10: Tính chất căn bản đặc trưng của Văn hoá. Văn hóa có các tính căn bản, đặc trưng như sau:

Tính Không gian: Văn hoá biểu hiện sinh hoạt của con người trong từng địa phương khác nhau nên mang sắc thái đặc thù của từng địa phương, từng vùng, hay từng quốc gia….nên chúng ta có Văn hoá Việt Nam, Văn hoá Trung Hoa, Văn hoá Ấn Độ, Văn hoá Đông Phương, Văn hoá Tây Phương, v.v… 

Tính Thời Gian: Văn hoá không chỉ mang tính không gian mà còn gắn liền với thời gian của từng thời kỳ hay thời đại của mỗi dân tộc nên người ta thường chia ra: ”Văn hoá thời Nguyên Thủy”, “Văn hoá Thời Phục Hưng”, “Văn hoá Hiện Đại” hay “Văn hoá Hậu Hiện Đại” v.v… Văn hóa có tính thời gian, cũng gọi là tính lịch sử… kết hợp với tính không gian làm thành “các Trào Lưu Văn Hoá” v.v…

Tính Nhân bản: Văn hoá khởi đi từ Sự Sống con người nên mang bản tính người (Nhân Tính) mọi sinh hoạt văn hoá phải qui về con người lấy con người làm gốc (Nhân Bản). Tính nhân bản và triết lý Nhân bản là ánh sáng là bó đưốc soi đường cho Văn hoá phụng sự nhân loại.

Tính Nhân Chủ: Văn hoá tuy khởi đi từ Sự Sống con người, nhưng không hoàn toàn mang tính thụ động, mà còn giúp con người vượt lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, và làm chủ chính mình nên đặc tính cao nhất của văn hoá là tính Nhân Chủ.

Tính Hệ Thống: Con người là sinh vật có lý trí, có nhận thức , có tư tưởng nên con người có khả năng “hệ thống hóa” các khái niệm, nhận thức, thành “nguyên lý”, thành “hệ thống” thành “qui luật “…áp dụng vào trong xã hội …. Do đó văn hoá nhận thức mang tính chất “Hệ Thống” là điều dễ hiểu, chúng ta không lấy làm lạ.

Tính Phi Hệ Thống, Siêu Hệ Thống và Vô Hệ Thống: Con người không chỉ có Lý trí, (khối óc) mà còn có tình cảm (Con Tim) và còn có “siêu thức,“vô thức” và nhất là có “tâm linh”, nên văn hóa vừa có “Tính hệ thống” vừa có “Tính phi hệ thống”. “Siêu hệ thống” và nhất là “Vô hệ thống …” nữa .

Tính giá trị: Văn hoá do con người sáng tạo ra nên mục tiệu trước hết là phục vụ con người, phục vu xã hội nhân loại, phục vụ “liên hành tinh”… nên Văn hoá mang “Tính giá trị” và hình thành các “Bảng giá trị” của xã hội thời đại.

Tính tranh đấu, ứng phó và thích nghi: Con người sống là “tranh đấu” tranh đấu với thiên nhiên, tranh đấu với xã hội, tranh đấu chống kẻ thù xâm lăng bảo vệ độc lập dân chủ và bảo toàn lãnh thổ…. Mặt khác con người phải biết điều hòa, ứng phó và thích ứng với hoàn cảnh lịch sử xã hội trong mọi tình huống. Do đó tính tranh đấu, ứng phó và thích nghi cũng là đặc tính của văn hoá.

Tính Hoá giải và Điều hợp: Trong cộng đồng và xã hội bao gồm nhiều con người nên luôn luôn phát sinh “mâu thuẫn” về tư tưởng cũng như quyền lợi (Song cũng chính nhờ có mâu thuẫn giữa những con người, giữa những phe nhóm, tập thể… mà xã hội mới tiến bộ! Nhưng không phải mâu thuẫn nào cũng đi tới hận thù, chém giết và tiêu diệt lẫn nhau như lý thuyết giai cấp đấu tranh của Mác–Lê đã chủ trương, mà văn hoá còn giúp cho con người hoà giải, hoá giải mọi mâu thuẫn bằng con đường “Điều hợp”, ”cùng thăng tiến cộng tồn”.

Tính Sáng Tạo: Nhà văn hào André Mailraux đã cô đọng văn hoá trong 3 phạm trù : NGHỆ THUẬT, TÌNH YÊU VÀ SUY NGHĨ – hay Tư duy – nhận thức – tư tưởng – (Xin độc giả xem lại Định nghĩa văn hóa thứ 18 đã nói ở trên). Phạm trù “Suy nghĩ” sẽ hình thành “Văn hoá Nhận Thức” mà con người có thể “khái quát hoá” và “hệ Thống hoá: mà đặc điểm nổi bật là Tính Hệ Thống. Song còn 2 phạm trù lớn kia là “Nghệ Thuật” và “Tình Yêu” thì không ai có thể “khái quát hoá” hay “hệ thống hoá” được cả! Tất cả mọi “hệ thống” đều thất bại thảm thương! và hoàn toàn xa lạ với 2 phạm trù này! Nó không chỉ là Lỗ Hổng Lớn mà là Chân Trời Viễn Mộng, hay Vũ Trụ Mộng Mơ, là Mạch Sống Vô Hình hay Hồn Tính Của Văn Hoá… làm nên Giá Trị Tuyệt Vời Vô Giá của Văn Hoá. Với hai phạm trù “Nghệ Thuật” và “Tình Yêu” người ta không thể định nghĩa được, nhưng con người có thể Cảm Nhận  được, có thể “hoà đồng” và “cảm thông” trọn vẹn. Biên giới giữa “chủ thế” và “khách thể” không còn nữa mà cả hai đã trở thành một. Nói về tình yêu nam nữ là cả hai đã “phải lòng nhau” “mê đắm nhau”… Tính cảm thông, hoà đồng sâu sắc trọn vẹn trong nghệ thuật đó là “Tính Sáng Tạo” và là “Tính Nhập Thể” trong Tình yêu đôi lứa cũng như tình yêu huyền nhiệm tôn giáo. “Anh với Em là Một” “Ta với Vũ Trụ không hai”

Tính Chuyển Hóa: Bản chất Văn Hoá là “Sống” và “Động”- là thay đổi sáng tạo không ngừng- nên Văn hoá có tính Chuyển Hoá – là điều tự nhiên. Đặc tính này rất quan trọng, Muốn “phát huy” văn hoá, “diệu dụng” văn hoá, chúng ta phải quan tâm đến đặc tính quan yếu này.

Tính Dung Hoá:  Vào thập niên 1960 Nhà Văn Hóa Nguyễn Đức Quỳnh (1909-1974) thành lập “Đàm trường Viễn Kiến” đã sáng tạo ra danh từ “Dung Hoá” mà nhiều người rất thích từ mới này. Tác giả giải thích: “ Dung Hoá” không phải là “Dung hoà”- vì dung hoà là “hoà cả làng” -.Còn “Dung Hoá” là -Tôi “dung” Anh để tôi “hoá” Anh – Ngược lại Anh “dung” tôi để anh “hoá” tôi. Chúng ta cùng “dung nhau” để cùng “hoá nhau” – Muốn thay đổi ai phải hoà đồng bao dung  bạn trước rồi sau mới “hoá” – góp ý kiến để thay đổi bạn cho tốt hơn: Đây là cách ứng xử hay nhất tốt đẹp nhất  của người có Văn Hoá.1Nhận Diện Vóc Dáng Nguyễn Đức Quỳnh của Thế Phong – Nguồn: Newvietart.com (trang Newvietart.com đã bị đóng) (27)

 Sáng Hoá: “Sáng Hoá” là gì? là “Sáng tạo” trong lĩnh vực Văn hoá vì Văn hoá trước hết là một “gia sản tinh thần” được các thế hệ tổ tiên truyền lại cho thế hệ đương thời. Các thế hệ đương thời một mặt “kế thừa di sản” văn hoá của tiền nhân và mặt khác, “tiếp thu tinh hoa văn hoa thế giới” và dựa trên 2 yếu tố ấy (1- kế thừa Văn hoá truyền thống và 2-Tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới) để ứng xử hoá và sáng tạo những tư tưởng mới phong thái mới và tạo ra nếp nghĩ, nếp sống mới…nên văn hoá còn có tính năng ưu việt khác là tính Sáng Hoá.

Tính Sống hoá: Sống hoá là gì? là thấm nhuần Văn hoá đến đợt thâm sâu nhất hoà nhập vào “cốt tủy” của Sự Sống. Như người ta thường nói “Tin Đạo” không bằng “Hiểu đạo”, hiểu đạo không bằng “Sống Đạo”. Một triết gia đã nói: “Sống là “sống cùng…”, “sống với”. Sống còn là “hội nhập”,“hoà đồng”,“thể nghiệm ”và chứng nghiệm” nữa… Sống Hoá là thể nghiệm chứng nghiệm văn hoá bằng chính sự sống tự thân nơi mỗi người chúng ta. Không thấm nhuần văn hoá đến đợt sâu thẳm và tinh hoa nhất, thì không thể “Sáng Hoá văn Hoá” được. Ngược lại “Sáng Hoá” lại đưa Sống Hoá đến đỉnh điểm cao nhất “tỏa sáng hào quang tính thể văn hoá”. Tính “Sống Hoá” còn có tên gọi khác là “Tính Bất Nhị”: có nghĩa siêu vượt “âm dương” và “siêu hoá âm dương” …

Tính Quốc Dân: Cứu cánh văn hoá là phục vụ con người, nên một số nhà nghiên cứu văn hoá gọi là “Tính Nhân Sinh”. Gọi là “tính Nhân sinh” cũng đúng chứ không phải sai, nhưng là cách gọi tổng quát không sát nghĩa, không thực tế, và không thực tiễn. Vì con người là sinh vật xã hội, luôn luôn tiếp cận, tương quan với người khác. Do đó có “con người cá thể”, có “con người tập thể” (như “Đoàn Lũ”, “Toán”, “Tổ chức”, “Hội”, “Phong trào”, “Lực lượng”, “Liên minh” hay “Đảng” v.v… và v.v…). Và “Con người toàn thể” thường được gọi dưới 3 danh từ: “Quần chúng”, “Nhân Dân” hay “Quốc Dân”. Nhiều người hay gọi tập hợp số đông người là “Quần chúng”. Người cộng sản hay dùng danh từ “Nhân dân”. Danh từ “nhân dân” thực ra cũng hay vì “nhân” vừa là “Người” vừa là “Người Dân” trong một nước. Tuy nhiên danh từ này đã bị “lạm dụng” và mất đi ý nghĩa và giá trị nguyên thủy, nên chúng tôi, dùng danh từ Quốc Dân theo cách gọi và cách định nghĩa rất hay, rất tuyệt của nhà Chí Sĩ Phan Bội Châu.: “Gọi là Quốc Dân” vì “Dân” là “dân “Nước” – “Nước là Nước Dân” (Hai “thực thể” này không thể tách rời). Cứu cánh của văn hoá là phục vụ “Quốc Dân” trước khi phụng sự “Nhân Loại”. Có quan niệm rõ “con người toàn thể” đứng trên “con người tập thể” mới giải cứu con người thoát khỏi ách họa “độc tài đảng trị” và có đặt “con người toàn thể” trong tương quan “Quốc gia Dân Tộc, mới xác định được hướng đi của Văn Hoá. Đây là tư tưởng và là chủ trương đứng đắn và sâu sắc của chúng tôi khi khẳng định Văn hoá có Tính Quốc Dân.

Ghi nhận 12: Chức năng và vai trò quan trọng của văn hoá. Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh định nghĩa “Văn hoá là văn vật và giáo hoá – Dùng văn tự mà giáo hoá cho người” (Hán Việt Từ Điển trang 527) hay Việt Nam Tự Điển của Lê văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa: “Văn Hoá là văn học và giáo hoá tức sự học hỏi dạy dỗ bằng chữ nghĩa văn chương” (Việt Nam Tự Điển trang 1749). Tiến Sĩ Trương Bổn Tài người khảo cứu và phát huy Việt Học (Việt ontology) cũng định nghĩa Văn Hoá: ”Dùng văn để giáo hóa”. Lối định nghĩa có tính cách phổ thông, dễ hiểu dễ nhớ này, tuy không sai nhưng thiếu sót vì nội dung Văn hoá không chỉ thu hẹp trong phạm vi “văn học” và chức năng của văn hoá cũng không chỉ là “giáo hoá” con người. Càng ngày người ta càng thấy văn hoá có chức năng và vai trò rất quan trọng:

Văn hoá ngoài chức năng giáo hoá con người…

Văn hoá còn là động lực thúc đẩy sự tiến hoá của xã hội nhân loại….

Văn hoá quả có là mầm mống tạo ra chiến tranh, tạo ra sự mất quân bình trong “xã hội thường thái” chỉ vì động cơ tiến hóa tự thân của nhân loại. (Muốn hiểu nguyên nhân sâu xa khởi phát bất cứ một loại chiến tranh nào, dưới bất cứ hình thái nào (Chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh bành trướng, chiến ttranh thực dân (cũ và mới) chiến tranh “nồi da xáo thịt”, “huynh đệ tương tàn”, “chiến tranh qui ước” “chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, chiến tranh ủy nhiệm ,chiến tranh ý thức hệ, chiến tranh giữa các nền văn minh, chiến tranh nguyên tử vv…và v..v..) đều có thể tìm ra nguyên nhận tối sơ bộc phát chiến tranh trong văn hoá.

Cũng chính văn hoá có khả tính tạo lập lại thế “Quân Bình Mới” (Quân bình trong thế Đông, chấm dứt chiến trtanh, vãn hồi Hoà Bình trong xã hội nhân loại. Do đó, nguyên nhân tạo ra Chiến tranh, cũng bắt nguồn từ Văn hoá. Và nỗ lực kết thúc chiến tranh kiến tạo hoà bình, gìn giữ hoà bình nhân loại cũng sẽ tìm thấy đáp số ngay trong Văn hoá.

Nếu Adam Smith quan niệm có một Bàn Tay Vô Hình trong Kinh tế học, thì người viết lại phát hiện ra có một “Bàn Tay Vô Hình Trong Văn Hoá Học” (Điều này rất lý thú, tác giả sẽ có dịp trình bầy trong một bài khác).

Văn hoá là nền tảng tinh thần xây dựng và phát triển quốc gia, xây dựng nền hòa bình, hay thái hoà trong nhân loại.

Văn hoá còn có vai trò định hướng và điều tiết các hoạt động chính trị xã hội, định hướng và điều tiết các nền văn minh trong xã hội loài người.

Nền văn hoá nào thì sẽ sản sinh ra chế độ đó! Chỉ cần tìm hiểu nghiên cứu nền văn hoá của một quốc gia có bản chất gì? có đặc tính và bản sắc như thế nào là chúng ta biết giá trị tốt xấu của chế độ đó ra sao?!…chắc chắn không sai !

Tóm lại “Muốn Cứu Quốc, Kiến Quốc, Hưng Quốc, kiến tạo Hoà bình Nhân loại đều phải lấy Văn Hoá Làm Chủ Đạo”

III. Kết Luận.

Khởi đi từ nhu cầu tìm học và tìm hiểu về một số định nghĩa văn hoá, tiêu biểu của Việt Nam và trên thế giới, trước hết là cho cá nhân người viết, hiểu được ý nghĩa căn bản của danh từ văn hoá. Mục đích ban đầu chỉ giản dị như vậy thôi! Nhưng càng tìm hiểu càng thấy biển học mênh mông, đầy sóng gió và thử thách…. Văn hoá mở ra một khung trời viễn mông, hơn thế nữa, cả một thế giới lung linh sâu thẳm và huyền ảo… “Huyền chi hựu huyền” (Lão Tử Đạo Đức Kinh)… . Người viết cảm thấy tò mò thích thú và đam mê, say sưa đi tìm và say sưa khám phá, “Suy tư”, “Trầm tư” và “Uyên Tư” để…tìm hiểu, và “quán chiếu” sâu hơn về “Nội Dung Văn hoá”, “Bản chất Văn hoá”, “Các Đặc Tính căn bản, tượng trưng của Văn hoá”… “Sứ Mệnh Văn hoá” và sau cùng “Chủ Đạo Văn hoá”… Điều vui mừng hơn của người viết là căn bản đã “ngộ ra” vì sao nền Văn hoá Việt Nam nói riêng và Văn hoá Đông Phương nói chung tuy cao siêu và sâu thẳm, nhưng cũng huyền bí quá, phức tạp và rối rắm quá, nhất là“rêu mốc phủ đầy…” Chân lý Sự Sống bị khỏa lấp….Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho Văn hoá Việt Nam hay Văn hoá Đông phương nói chung bi trì trệ, không tiến lên được, không khai quang được!! Người viết cũng đã “ngộ ra” vì sao nền Văn hoá Tây phương bị khủng hoảng tận gốc rễ… Nhất là muốn “Hoà điệu” hay “Tập Đại Thành Văn hoá Việt Nam”, “Văn hoá Đông phương” và “Tây phương” trên căn bản nào, nền tảng nào…

Giấc mơ Văn hoá của Cha Rồng mẹ Tiên; Giấc mơ Văn hoá của Vạn Hạnh thiền sư; Giấc mơ Văn hoá của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm; Giấc mơ Văn Hoá của Nguyễn Trãi; Giấc mơ Văn hoá của Lý Đông A; Giấc mơ Văn hoá của Hồ Hữu Tường….luôn luôn được “ấp ủ”, “bảo lưu” qua nhiều thế hệ …. Đây là “Niềm tin” và là “Hoài bão” lớn lao của Tổ Tiên nòi giống Việt luôn được “ấp ủ”, “trao chuyền” , “gửi gắm” tới các thế hệ con cháu mai sau…

Thế hệ hậu tấn chúng ta hôm nay được vinh hạnh nhận lãnh trách nhiệm, sẵn sàng chấp nhận thử thách với sứ mạng kế thừa và phát huy “Sống Đạo Văn Hoá Việt Nam”

Người xưa ví Văn hoá như cánh chim Phượng Hoàng… “Phượng Minh”… “Phượng Minh”… “Phượng Minh”… tiếng kêu của Chim Phượng Hoàng báo hiệu điềm lành… Văn Hoá Việt Nam Con Phượng Hoàng Cất Cánh…

San Jose Mùa Lễ Tạ Ơn 2015

Nguồn: thonminhtriet.com