Tác giả: Gioan Phê Ny Ngân Giang, O.P.
Trích Thời sự Thần học, số 64 – tháng 5/2014, tr. 140-186

Dẫn nhập

Công đồng Vaticanô II đã mở ra một con đường mới trong việc giới thiệu Giáo hội với thế giới cũng như đón nhận thực thể đa dạng của các niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng và sự phong phú của các nền văn hoá khác. Trong bối cảnh đó, Giáo hội đã chọn cho mình phương cách “đối thoại” như là một trong những lối tiếp cận mang tính xây dựng, học hỏi và soi sáng trên nhiều phương diện: công tác bác ái, giáo lý, tâm linh…

“Thiền và Cầu nguyện Kitô giáo” không phải là một đề tài mới trong việc đối thoại giữa niềm tin Kitô giáo và Phật giáo. Đã có nhiều tài liệu viết về chủ đề này. Tuy nhiên, cũng một đề tài ấy, có thể có nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Bởi thế, việc “hướng đến một cuộc đối thoại tâm linh” là góc tiếp cận sẽ được xây dựng trong bài viết này. Ngoài ra, để thuận tiện cho việc tìm hiểu hai truyền thống tâm linh lớn Kitô giáo và Phật giáo, bài viết sẽ được triển khai theo hướng nhìn từ góc độ tâm lý đến những giá trị tâm linh. Xét vì hai yếu tố thân và tâm như là hai điểm nhấn được gặp thấy trong cả Thiền và Cầu nguyện nên các điểm trình bày sẽ xoay quanh hai trục này để người đọc dễ theo dõi.

Dù thực tế có những nét tương đồng, nhưng chúng ta không đơn giản đồng hoá cả hai lối chiêm niệm này. Điều cần lưu ý là nhận ra điểm sáng trong mỗi truyền thống như là một cuộc “trao đổi – học hỏi” hơn là việc loại trừ. Vậy nên, bài viết sẽ được bắt đầu bằng những định hướng về một tinh thần đối thoại được Giáo hội cổ võ cùng những lưu ý mà một người tham gia vào lĩnh vực này cần nắm rõ.

I. Một vài định hướng cho việc đối thoại tâm linh

1. Lá thư gửi các Giám mục bàn về một vài phương diện của đời sống chiêm niệm Kitô giáo (Bộ Giáo lý Đức tin, 15/10/1989)1Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the Catholic on some aspects of Christian meditation; http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_19891015 _meditazione-cristiana_en.html

Lá thư được đặt trong bối cảnh nhiều Kitô hữu ngày nay thực hành các phương pháp cầu nguyện kết hợp với lối tâm linh Đông phương. Một sự “giao lưu” như thế hẳn là thú vị nhưng cũng cần có những hướng dẫn về mặt đạo lý lẫn mục vụ. Như thế, lá thư nhắm đến đối tượng chính yếu là các Kitô hữu, những người đang sống đức tin Công giáo trong cuộc đối thoại với các nền tôn giáo khác. Do đó, tiên vàn cần biết rõ truyền thống tâm linh của tôn giáo mình trước khi bắt đầu tìm hiểu hay kết hợp một số phương pháp bên ngoài. Tựu chung, có thể nắm bắt các điểm chính sau:

– Cầu nguyện Kitô giáo là việc cầu nguyện dưới ánh sáng mạc khải. Thật thế, nền tảng của việc cầu nguyện này được cắm sâu trong Lời Chúa nơi Sách Thánh. Bởi thế, Giáo hội nhắc nhở con cái mình hãy đọc Lời Chúa như là nguồn mạch của việc cầu nguyện.

– Ngay sau khi bàn về nguồn mạch cầu nguyện Kitô giáo, lá thư cũng lưu ý đến những cách cầu nguyện sai trái. Điều này đã xuất hiện từ thời các giáo phụ với Giả-Ngộ đạo thuyết (Pseudognosticism) và phái Messalian2“Ngộ đạo thuyết” cho rằng vật chất là không thanh sạch và tệ hại, đã bao phủ linh hồn trong sự vô tri. Chỉ có cầu nguyện mới giải thoát linh hồn và đưa nó đạt đến tri thức cao hơn, đến tình trạng thanh sạch. Tất nhiên không ai có thể làm được điều này trừ những con người hoàn toàn thiêng liêng, vì đối với những tín hữu đơn thành, đức tin và tuân giữ mệnh lệnh Đức Kitô gồm trọn tất cả. Đang khi đó, chủ nghĩa Messalian, một bè phái dị đoan vào khoảng năm 350, chủ trương loại bỏ việc lành và Bí tích, chỉ cần kiên tâm cầu nguyện là có thể vượt được những ràng buộc; nhờ khổ tu là có thể đạt tới vinh phúc trực quan.. Tuy nhiên, cám dỗ về một thứ “ngộ đạo” như thế vẫn luôn là nguy cơ cho những Kitô hữu quên mất chiều kích hiện diện thần linh qua công trình cứu chuộc của Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể và trong ân ban của Thánh Thần. Thế nên, cần thấy rằng, những lối thực hành Đông phương ngoài Kitô giáo, một cách nào đó chỉ là sự chuẩn bị về mặt tâm-thể lý cho việc chiêm niệm Kitô giáo thật sự.

– Tiếp theo, điều lá thư quan tâm là trình bày những đường lối cầu nguyện đúng đắn theo tinh thần Kitô giáo. Việc cầu nguyện này không có mục đích nào khác hơn là đưa người tín hữu đi vào sự hiệp nhất với Thiên Chúa (các số 13-15). Con đường cầu nguyện Kitô giáo là con đường không ngừng thành luyện con tim khỏi mọi cản trở khiến nó xa rời Thiên Chúa. Nhưng nên nhớ rằng, để làm được điều này, Kitô hữu không thể cậy dựa sức riêng cũng như không phải họ là người phát khởi hành trình tìm về Thiên Chúa nhưng tiên vàn chính Thiên Chúa ban ân sủng và soi sáng cho họ để họ nhận biết Đức Kitô là Đấng mà ai thấy Người là thấy Cha. Trong tiến trình này, ân sủng Thánh Thần được ban cách dư đầy cho tín hữu (các số 16-25).

– Trước khi kết thúc lá thư với chủ đề trọng tâm dẫn lại lời Đức Giêsu: “Chính Ta là con đường”, các yếu tố về tâm-thể lý cũng được bàn đến như là một nét tích cực có trong phương pháp của Đông phương. Đồng thời, lá thư cũng chỉ cho thấy việc thực hành “Kinh nguyện Giêsu” cũng là một phương pháp thuộc loại này của truyền thống Kitô giáo. Tóm lại, cầu nguyện Kitô giáo là hành trình hiệp nhất với Ba Ngôi trong Đức Kitô và nhờ Thánh Thần. Đây có thể nói được là chiều kích tâm linh của đời chiêm niệm Kitô giáo (các số 26-31).

2. Các tài liệu của FABC

Từ năm 1970, FABC đã khẳng định rằng đối thoại là phương thế nền tảng cho sứ vụ tại Á Châu3K. Amell, Contemplation et dialogue. Quelques exemples de dialogue entre spiritualités après le concile Vatican II, Thèse en missiologie pour le doctorat en théologie soutenue à l’Université d’Uppsala 1998, 33-36. Cũng xem F. Wilfred, in : For All the Peoples of Asia, 1992, xxv.. Việc đối thoại này cũng đã được FABC xây dựng trên ba phương diện: đối thoại với các nền văn hoá (hội nhập văn hoá), đối thoại với các tôn giáo (đối thoại liên tôn) và đối thoại với người nghèo tại Á Châu. Từ năm 1979, FABC cũng đã đẩy mạnh công tác đối thoại này với việc tổ chức một loạt các chuyên đề về công tác đối thoại liên tôn viết tắt là BIRA (Bishops’ Institute for Interreligious Affairs), trong đó BIRA I (1979), BIRA II (1979) và BIRA III (1982) bàn về việc đối thoại với các tôn giáo lớn như Phật giáo, Hồi giáo và Ấn giáo. Riêng BIRA IV là loạt 12 chuyên đề (1984-1991) nghiên cứu việc phát triển một nền thần học đối thoại. Các chuyên đề mới trong BIRA V gồm 5 số (1991-1996) đề cập đến Kitô hữu và tín đồ các tôn giáo khác với mục đích nghiên cứu sự đóng góp của các tôn giáo cho sự hài hoà trong xã hội.

Riêng về phương diện tâm linh, FABC thấy rằng nó có vai trò nền tảng trong việc đối thoại. Hội nghị FABC lần II tại Calcutta (1978) cũng đã xác nhận rằng cầu nguyện là linh hồn cho việc đối thoại, là nơi người ta gặp gỡ nhau bằng con tim. Hơn thế, phương diện tâm linh còn là điều gì không thể bỏ qua nếu như chúng ta muốn tìm lối vào cho sự hội nhập văn hoá (theo BIRA IV/1-1984). Quả vậy, FABC I (Taiwan, 1974) đã thấy rằng những ngôi đền thờ của các tôn giáo cổ kính ở Á Châu chính là những ngôi nhà cầu nguyện, chúng là thành phần của văn hoá, là cánh cửa hướng mở về phía Thiên Chúa. Thế nên, để tiếp xúc với tinh thần Á Châu, không cách nào khác hơn là phải hướng về việc cầu nguyện và chiêm niệm. Trong nhiều văn kiện, FABC cũng đã cổ võ cho sự thực hành những hình thức hội nhập văn hoá trong việc cầu nguyện. Chẳng hạn như FABC II đã đề cập đến sự phong phú trong việc kết hợp giữa thể xác-tâm hồn-thần trí và giới thiệu những hình thức chiêm niệm có tính nội tâm và nội tại sâu sắc như Zen, Yoga, những câu niệm đơn giản, ngắn gọn (như nam-japa và bhajana). FABC rất ý thức về tầm quan trọng của thinh lặng trong việc đối thoại đối với sự kiếm tìm trong chiêm niệm. Cần có những khoảng lặng cũng nhưng những lúc trao đổi để đạt tới một tình bạn sâu xa. BIRA IV/12 đề cập đến hai cấp độ của ngôn ngữ trong việc đối thoại: ngôn ngữ thường nhật với những trao đổi bằng chữ viết hay lời nói, và một ngôn ngữ khác ở cấp độ sâu hơn nơi người ta có thể ghi nhận được thế giới nội tâm của người khác và gặp gỡ được con tim của họ. Chiêm niệm, thinh lặng… không tách biệt nhưng thuộc về lối sống của người Á Châu. Kỳ họp thứ năm của FABC (Bangdung, Indonesia, 1990) bàn về chủ đề “Một linh đạo cho thời đại chúng ta”. Tài liệu này viết rằng Châu Á cần nhiều chứng nhân hơn thầy dạy. Để trở nên khả tín trong bối cảnh thấm đượm chất tâm linh như chiều kích chiêm niệm này, việc từ bỏ, không bám chấp, sự khiêm tốn, lòng đơn thành và sự thinh lặng là những điều các sơ và các thầy ở Á Châu cần nhận biết. Điều này cũng làm nên một nét tâm linh qua đó người ta có thể nhận ra lòng thương cảm, sự liên đới với người nghèo và sự bất bạo động. Những giá trị Tin Mừng này đã cắm rễ sâu trong những nền văn hoá Châu Á. Thực hành những giá trị này trong chính cuộc sống hằng ngày là một lời loan báo sống động về Đức Giêsu Kitô (FABC V, 1990)4K. Amell, op.cit., 34-35..

3. Những đòi hỏi cho việc chiêm niệm và đối thoại tâm linh trong đời sống đan tu

Các nước Kitô giáo Âu Mỹ đã dấn thân cho con đường đối thoại này từ những năm 70 của thế kỷ trước với hai uỷ ban DIM (Dialogue Interreligieux Monastique) ở châu Âu và MID ở Bắc Mỹ5Ủy ban này trước đây có tên gọi là North American Board for East-West Dialogue (1970) nhưng sau này vào năm 1993 được đổi thành Monastic Interreligious Dialogue (MID). Xem Fabrice Blée, “Aux frontière du silence – Exploration du dialogue interreligieux monastique” in Théologique 7/2 (1999) 79-94.. Về phía Kitô giáo, chủ thể trong các cuộc đối thoại này chính là các đan sĩ, những người đã có kinh nghiệm tâm linh ít nhiều về một cuộc gặp gỡ với Đấng Tuyệt Đối. Chính họ, có thể nói rằng là “người trong cuộc”, sẽ tìm cách khai thông cho một hướng đối thoại xem ra còn lắm gian nan. Chúng tôi cũng ghi nhận dưới đây một số điểm lưu ý như thế.

Thật vậy, một vấn đề thường được đặt ra: Chúng ta có nguy cơ đánh mất căn tính của mình không, khi áp dụng một cách thức cầu nguyện nào đó ngoài truyền thống chúng ta? Để trả lời cho vấn đề này cần để ý đến những đòi hỏi sau6Pierre-François de Béthune, “Contemplation and Interreligious Dialogue” in Bulletin 49 (Jan. 1994) tại http://monasticdialog.com/ au.php?id=24:

– Cộng đoàn: yếu tố cộng đoàn cho thấy một cá nhân khi dấn thân cho sứ vụ đối thoại này là đang thực thi ơn gọi của mình nhân danh một cộng đoàn hay chỉ là một việc làm riêng rẽ.

– Sự trưởng thành: yếu tố này cho thấy mức độ triển nở nhân bản của một cá nhân thích hợp cho việc dấn thân trong cuộc đối thoại tâm linh với các tôn giáo khác.

– “Sự bén rễ” của cá nhân: người ta chỉ đánh mất mình khi thiếu đi cảm thức về cộng đoàn và cảm thức thuộc về Giáo hội. Sự hiệp thông với truyền thống Kitô giáo là yếu tố nến tảng để ta có thể nói đến việc đối thoại. Vì không ai có thể đối thoại với người khác đang khi đánh mất căn tính của mình.

– Biện phân xác thực tính và thẩm quyền: chúng ta phải xác định cho được đâu là những yếu tố xác thực trong thực hành của các truyền thống, đâu chỉ là những “phụ chú” được thêm vào. Bên cạnh đó, thẩm quyền thầy dạy trong truyền thống Đông phương giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, không phải là không có các yếu tố giúp biện phân thẩm quyền này. Chẳng hạn, sự khiêm nhường, thanh thoát khỏi vướng bận vật chất, mức độ gắn bó và thể hiện những yếu tố nền tảng của một truyền thống tâm linh… tất cả phần nào làm nên diện mạo vị thầy có thẩm quyền hay có mức độ thế giá nào đó đối với chính truyền thống tâm linh của họ.

– Một khung cảnh cho sự tĩnh lặng: tĩnh lặng là nơi chốn thật sự cho cuộc đối thoại. Một cuộc đối thoại tâm linh chỉ có thể được đụng chạm đến ngang qua con đường của “tâm”, chỉ có từ “tâm đến tâm” người ta mới có thể mở ra một “diễn đàn chung”, trên đó, giá trị tâm linh là điều được trân trọng và là mục tiêu hướng tới của bất kể tôn giáo nào7Fabrice Blée, “Aux frontière du silence – Exploration du dialogue interreligieux monastique” in Théologique 7/2 (1999) 79-94..