III. Cầu nguyện Kitô giáo
1. Các yếu tố của việc cầu nguyện
Truyền thống cầu nguyện Kitô giáo cho thấy có ba yếu tố là thể xác, tâm hồn và thần trí được hoà quyện với nhau làm nên đời sống cầu nguyện Kitô giáo1Fabio Giardini, Pray without ceasing (Roma: Millennium, 1998), 16-31..
a. Yếu tố thân xác trong cầu nguyện
Truyền thống Kitô giáo khi đề cập đến vị trí thân xác trong đời sống cầu nguyện thường gắn liền nó với các yếu tố: cử điệu, không gian và thời gian. Ngoài ra, yếu tố thân xác trong đời sống tâm linh Kitô giáo có sự đa dạng, phong phú khác nhau. Chúng thuộc về khung cảnh cầu nguyện hay là những yếu tố ngoại cảnh2Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh – tập 3 (Roma: HVĐM, 2003), 147-151 hoặc Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh – tập 5 (Roma: HVĐM, 2005), 319-321. thánh Antôn trong sa mạc3Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh – tập 5 (Roma: HVĐM, 2005), 43., thánh Basiliô với đời đan tu Đông Phương mà khung cảnh là đời sống cộng đoàn trong môi trường đan tu4Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh – tập 5 (Roma: HVĐM, 2005), 120-127.
Nhìn chung, dù theo trường phái nào, chúng ta cũng nhận ra sự đồng quy của tiến trình cầu nguyện khởi đi từ yếu tố bên ngoài để đi vào bên trong, từ việc thanh luyện khỏi các nết xấu đến việc thực hành các nhân đức rồi tiến đến việc hoà hợp tâm hồn. Như vậy, yếu tố thân xác không thuần tuý chỉ là ngoại tại nhưng được xem là một sự diễn tả của những gì xảy ra bên trong.
b. Yếu tố tâm hồn trong cầu nguyện
Đằng sau tất cả những yếu tố bên ngoài thân ấy là một đòi hỏi của tâm bên trong. Một số tác giả cho rằng hoạt động của tâm bên trong thì quan trọng hơn. Giardini dẫn chứng chín cách cầu nguyện của thánh Đaminh và xem đó như là kết quả của một tâm hồn với một tình yêu mãnh liệt hướng về Thiên Chúa5Fabio Giardini, op. cit., 23-24.. Theo thánh Tôma, những tư thế và cử điệu của thân xác có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc cầu nguyện của tâm hồn. Và đến lượt nó, khi tâm hồn đạt đến một mức độ nào đó, nó sẽ làm bùng cháy ra bên ngoài bằng tất cả những biểu hiện của thân xác6Fabio Giardini, op. cit., 23-24..
Tuy vậy, đỉnh cao của đời sống cầu nguyện Kitô giáo là được kết hợp với Thiên Chúa. Điều này nếu chỉ với hoạt động của riêng thân và tâm thôi vẫn chưa đủ. Nhân học Kitô giáo cho thấy thần trí nơi con người là quan năng giúp con người nắm bắt Thiên Chúa. Cũng thế, trong đời sống cầu nguyện, thần trí đóng vai trò hướng con người đến kết hợp với Thiên Chúa.
c. Yếu tố thần trí trong cầu nguyện
Vấn đề của chúng ta là làm sao phân biệt được đâu là hoạt động của tâm và đâu là hoạt động của thần trí trong cầu nguyện. Thần học Tân Ước7Fabio Giardini, op. cit., 23-24. cho ta ý niệm chung như sau:
Thần trí nơi con người là phương diện qua đó Thiên Chúa gặp gỡ con người, đó là chiều kích của con người toàn diện nhờ vậy con người mở ra và đáp trả với Thiên Chúa, nó cũng là phần ý thức nhạy bén của con người đối với các vấn đề thuộc địa hạt tâm linh.
Nhân học Kitô giáo của Công đồng Vaticanô II đã tóm tắt lại quan niệm của Kinh Thánh về thần trí. Thật vậy, thân xác và linh hồn con người không dừng lại ở mức độ liên kết với nhau nhưng chúng làm thành một thể thống nhất (Gaudium et Spes, 14). Linh hồn mà Công đồng đề cập đến ở đây là linh hồn làm cho sống và linh hồn tâm linh (spiritual soul) hay còn được biết như là thần trí. Trong vai trò này, linh hồn tâm linh là một phần của linh hồn nói chung, là nơi Thánh Thần Thiên Chúa trực tiếp tác động trên con người8Thánh Tôma tiến sĩ đã giải thích về sự phân biệt này như sau: “Linh hồn suy lý gồm cả linh hồn và thần trí. Nó được gọi là linh hồn xét vì cái mà nó có chung với các loại linh hồn khác tức là mang lại sự sống cho thân xác… Nó được gọi là thần trí xét vì đây là điều riêng biệt của chính nó và không hề chung với bất kỳ một loại nào khác, tức là nó có một năng lực trí năng bất tử”. X. ST I, q. 97, a. 3..
Thần trí này đôi khi được ví như là chóp đỉnh của linh hồn. Thế nên, việc cầu nguyện được sản sinh ra nơi chóp đỉnh tâm linh này có thể được xem như là một “đỉnh cao của kinh nghiệm”. Điều này giải thích cho việc con người có thể đáp trả với Thiên Chúa qua việc thực tập các nhân đức đối thần được phú ban nhờ Thánh Linh. Vì thế, các giáo phụ xưa cũng như các nhà thần học ngày nay cho rằng chính Thánh Linh là Đấng đã sử dụng tinh thần của chúng ta để làm cho chúng ta yêu mến Thiên Chúa và ban sức sống cho lời cầu nguyện của chúng ta9Fabio Giardini, op. cit., 28-29..
d. Sự kết hợp của thân xác, tâm hồn và thần trí trong việc cầu nguyện
Những ai thực hành việc cầu nguyện trong thần trí không còn cần đến những cách thức diễn tả bên ngoài hay những việc làm gây náo động nữa (như việc ngước mắt lên, dang tay ra hay nói lớn tiếng…). Họ vẫn đứng, quỳ hay ngồi với đôi mắt nhắm lại, hai tay đan lại với nhau… trong khi vẫn không ngừng tập trung vào Đức Kitô hay Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng đang cư ngụ nơi thẳm sâu con tim họ.
… Khi dồn hết tâm trí vào cầu nguyện, chúng ta đang thực sự yên vị trong Thiên Chúa, và cứ thế, chúng ta để cho Thiên Chúa đỡ nâng toàn bộ con người chúng ta, Người làm mới con người chúng ta…10Dẫn theo Fabio Giardini, op. cit., 30: M. Basil Pennington, “Centering Prayer – Prayer of Quiet” in Cross and Crown, 1977, 11.
Trên đây, chúng ta vừa có sự phân biệt sơ bộ về các thành tố trong đời sống cầu nguyện. Sự phân biệt này còn cần được làm rõ hơn nữa trong hoạt động phức tạp của tâm hồn. Chúng ta thường nghe nói đến lời cầu nguyện của tâm (con tim) và lời cầu nguyện của trí. Sở dĩ có sự phân biệt như vậy là vì trong đời sống cầu nguyện có sự thay đổi về chất nơi tâm hồn những ai không ngừng muốn được kết hợp với Thiên Chúa. Thật vậy, tâm hồn người cầu nguyện sẽ dần dần có sự thăng tiến từ cấp độ thân thể đến cấp độ thần khí. Khi sử dụng quan năng hiểu biết, tâm hồn tạo ra hoạt động của trí tức là lời cầu nguyện của trí. Ngược lại, khi để cho con tim lên tiếng thì tâm hồn nhận được lời cầu nguyện của tâm.
Thông thường hoạt động của trí mang lại hiệu quả là sự tập trung, chú ý (attention). Do vậy, lời cầu nguyện của trí cũng đến từ sự tập trung ý thức vào đối tượng cầu nguyện. Đang khi đó, lời cầu nguyện của tâm thì đến từ ý (intention), tức là không do nỗ lực tập trung lý trí, nhưng bằng hoạt động của con tim.
2. Cầu nguyện: một góc nhìn từ thần học tâm lý (psychotheology)
Như vừa nói trên đây, Kitô hữu cầu nguyện với toàn thể con người. Đối tượng của họ là một vị Thiên Chúa siêu việt. Phân tích cặn kẽ hơn ta sẽ thấy việc cầu nguyện này được thực hiện nhờ hai quan năng nơi con người đó là quan năng của sự hiểu biết và quan năng của lòng mến11X. John Paul II, Christifideles Laici (Vatican City, Rome: Libreria Editrice Vaticana, 1988), số 37: “Giữa các thụ tạo khác trên mặt đất, chỉ con người là có ngôi vị, là hữu thể hiểu biết và tự do, vì thế nó là ‘trung tâm và đỉnh cao’ của các thụ tạo trên mặt đất này”. Cũng xem Gaudium et Spes,12.. Vì thế, để hiểu đời sống cầu nguyện Kitô giáo, cần thiết phải mô tả những hoạt động khác nhau phát xuất từ tâm trí và con tim. Chúng ta sẽ nói đến hoạt động của tâm trí như là “sự tập trung” (attention) và hoạt động của con tim như là một “ý hướng” (intention).
a. Tâm trí hoạt động qua các loại “tập trung” khác nhau trong cầu nguyện
Không thể nói đến việc cầu nguyện mà không có sự tập trung12Về sự cần thiết của việc tập trung xem ST, II-II, q. 83, a. 13 và phần bàn luận về điều này trong Servais Théodore Pinckaers, La prière chrétienne (Fribourg: Éditions Universitaires, 1989), 269-275.. Tuy vậy, tập trung cũng có nhiều hình thức khác nhau và đạt đến những mức độ ý thức khác nhau. Chúng ta không bàn luận rộng về vấn đề này mà chỉ đề cập đến ba loại tập trung quan trọng nhất trong việc cầu nguyện: tập trung tích cực (active), tập trung thụ nhận (receptive) và tập trung xuất thần hay nhập định (ecstatic). Sự tiến triển của đời sống cầu nguyện qua những bước tập trung cụ thể này mang lại cho người tín hữu sự tăng trưởng về nhận thức ở cả hai phương diện: (1) Càng ngày càng nhận ra sự hiện diện rõ ràng của Thiên Chúa hơn; (2) Mở rộng phạm vi chật hẹp của đời sống ý thức trước đây.
– “Tập trung tích cực” là việc tâm trí không ngừng hướng vào và suy nghĩ về Thiên Chúa với phương tiện đặc trưng của con người (human) đó là sự suy lý.
– “Tập trung thụ nhận” đó là việc con người mở tâm trí mình ra, chờ đợi, lắng nghe Thiên Chúa trong sự thinh lặng: một cách nào đó, phương cách thực hiện điều này ở tầm mức cao hơn tầm mức con người (superhuman)13Superhuman không tương đương với supernatural. Trực quan thuần tuý thụ nhận (receptive vision) hay bằng trí năng (intellectus) liên quan đến khả năng hiểu biết của con người bên cạnh nỗ lực suy lý hay bằng lý trí (ratio) vốn chỉ dành riêng cho con người được các triết gia Hylạp xưa và các triết Trung Đại xem như là “một kiểu thông dự và tri thức thuần tuý dành riêng cho sinh vật bậc cao, tức là những sinh vật có trực quan tâm linh (spiritual vision) (Aquinas, De Veritate, q.1, a.1). Vì thế, đời sống chiêm niệm (vita contemplativa) được xem là “non proprie humana sed superhumana” (CG, lib. III, cap. 112) dù rằng nó không phải là một cách thế hiểu biết có tính siêu nhiên có thể có đối với Kitô hữu. Cũng xem Fabio Giardini, op. cit., 56. bằng một trực giác hướng về Thiên Chúa.
– “Sự xuất thần hay nhập định” đó là một sự thu hút hoàn toàn xả kỷ vào mầu nhiệm Thiên Chúa: điều này hoàn toàn siêu việt khỏi con người (transhuman) khi toàn bộ tâm trí tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa.
Vì thế, tiến trình đi từ sự tập trung này sang một hình thức tập trung khác cao hơn là một tiến bộ dần dần trong việc từ bỏ sự kiểm soát của tâm trí trên đối tượng. Thật ra, mục tiêu cuối cùng của việc cầu nguyện Kitô giáo là được kết hợp và nên một với Đấng mà chúng ta cầu xin. Và để làm được điều đó, Kitô hữu phải dần dần khám phá thấy không phải chính họ là người sẽ nỗ lực để cho việc kết hợp được thành tựu. Rõ ràng, cầu nguyện suy lý như “khúc dạo đầu” sẽ phải chóng qua để người tín hữu còn có thể đi sâu hơn nữa vào sự thân tình với Thiên Chúa. Trong hành trình này, sự tập trung đúng nghĩa là không còn thấy có đối tượng bên ngoài để nắm bắt nữa nhưng đối tượng đã hoàn toàn tràn ngập nơi chính bản thân mình. Sự hiện diện của Thiên Chúa không còn là khách thể hay đối tượng nữa bởi lẽ giờ đây “chủ thể giả tạo” hay “cái tôi ảo tưởng” đã bị đánh tan và trong sự hiện diện đích thật ấy, người tín hữu chỉ còn biết hoàn toàn buông mình cho Đấng họ khao khát được nên một.
b. Hoạt động của con tim như là một “ý hướng” trong cầu nguyện
Có sự khác nhau giữa hoạt động “tập trung” của tâm trí và hoạt động “ý hướng” của con tim. Chúng ta sẽ tìm hiểu điều này qua hai ý sau đây: (1) Có sự hỗ tương giữa cầu nguyện của “trí” và cầu nguyện của “tâm” (con tim); (2) Lời cầu nguyện của con tim tiên vàn biểu thị chúng ta được Thiên Chúa yêu thương trước.
Thật vậy, biết và yêu không tách biệt khỏi nhau trong đời sống cầu nguyện. Chẳng hạn, khi nói về đức tin như một nhân đức thần học, thì điều đó không có nghĩa là chúng ta chỉ đơn thuần trình bày một tri thức thần học, nhưng chúng ta còn đang quảng diễn về một tri thức được sinh ra từ tình yêu14Bernard Lonergan, Method in Theology (New York: Herder and Herder, 1972), 115-117.. Điều này có nghĩa là trí năng không chỉ hiểu điều nó tin nhưng trên hết nó biết nó tự nguyện được lôi cuốn đến với sự thiện hảo mà nó yêu mến15“(Đức tin) là một khuynh hướng của tâm trí hướng nó thuận theo ý muốn quy về chân lý thần linh. Bởi tâm trí không bằng lòng với những sự thật mầu nhiệm chỉ nguyên vì các lý luận thuyết phục nhưng được ý chí đun đẩy để đi đến sự bằng lòng. Như thánh Augustino đã nói không ai tin nếu người đó không muốn tin”. X. ST, I, q.111, a.1; I-II, q.56, a.3.. Vì thế, khi các Kitô hữu tìm kiếm sự hiểu biết hơn về Thiên Chúa trong việc cầu nguyện là khi họ được thúc đẩy bởi tình yêu hướng về Người. Và khi họ có được thêm một sự hiểu biết nào đó về Thiên Chúa thì chúng ta cũng có thể nói rằng tình yêu họ hướng về Người cũng gia tăng.
– Một sự hỗ tương giữa “trí” và “tâm”
Chúng ta có thể nói tình yêu hay lòng mến đã hiện diện ngay từ bước tập trung đầu tiên, tập trung tích cực, của việc cầu nguyện Kitô giáo. Rồi cũng tình yêu ấy nuôi dưỡng sự chờ mong được hợp nhất với Thiên Chúa trong suốt chặng thụ nhận. Cuối cùng, khi đã hoàn toàn để cho Thiên Chúa ngự trong tâm hồn, người tín hữu cảm nếm được tình yêu ngọt ngào trong sự hợp nhất riêng tư với Thiên Chúa. Vì thế trong khi tâm trí tập trung đến chân lý thần linh trong các chặng của mình thì con tim cũng không ngừng bị thu hút bởi sự thiện hảo của Người cho đến khi tâm trí và con tim hoà nhập làm một với nhau trong con người cầu nguyện. Tuy nhiên, phải chăng các chặng tiến triển hay những ý hướng phát xuất từ con tim cũng diễn ra theo một trật tự như sự tập trung nơi tâm trí? Rõ ràng, con tim có những lý lẽ của riêng nó. Truyền thống và Kinh Thánh cũng như suy tư thần học cho ta thấy tiên vàn con tim bộc lộ niềm khao khát được yêu của nó qua việc mở lòng đón nhận Thiên Chúa. Thế nên, nhìn ở góc độ này thì đời sống cầu nguyện Kitô giáo tiên vàn không phải là sự chủ động hướng về Thiên Chúa nhưng là thái độ thụ nhận mở lòng ra trước Người.
– Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương trước
Có thể nói giao ước tình yêu là một trong những đề tài chính của Cựu Ước. Chính Thiên Chúa đã thiết lập với dân Người một giao ước tình yêu. Thế nên, đứng về phía con người, họ phải yêu mến Thiên Chúa vì tiên vàn chính Người đã thiết lập tương quan giao ước với họ và tương quan ấy làm nảy sinh nơi họ tình yêu dành cho Thiên Chúa. Israel có yêu mến Thiên Chúa của họ cũng chỉ bởi họ đã được yêu thương trước. Tình yêu mà dân đáp lại Thiên Chúa chính là lòng trung thành gắn bó với một mình Người (x. Đnl 30,20). Cũng vậy, trong Tân Ước, chính Đức Kitô Đấng đã trao tặng cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần để giúp chúng ta sống và sống đạo đức hầu bày tỏ cho chúng ta thấy chúng ta được Thiên Chúa yêu thương và kêu gọi thế nào (x. 2Pr 1,3).
Cũng một khẳng định như thế, thánh Gioan mở ra một chân trời mới trong tương quan giữa Đức Giêsu và các môn đệ. Tương quan trên nền tảng tình yêu hy sinh và đi bước trước này sẽ là một tương quan bạn hữu, tương quan của việc cho đi tất cả, cho đi cả mạng sống mình (x. Ga 15,13-16; 1Ga 4,10).
Chuyển động của niềm tin trong chúng ta được đặt trên cơ sở của tình yêu Thiên Chúa trong chúng ta (1Ga 4,16). Truyền thống các giáo phụ cũng cho chúng ta một cái nhìn sáng tỏ về điều này. Thánh Irênê đã nhắc lại tình yêu nhưng không của Đấng Sáng Tạo và Cứu Chuộc được tỏ bày cho con người ngay từ ban đầu16Dẫn theo Fabio Giardini, op. cit., 85: Adversus Haereses, IV, 14, 1. English translation in Liturgy of the Hours (New York: Cath. Book Co., 1975), vol. II, 77-78.. Thánh Augustino dạy rằng các Kitô hữu không thể yêu mến Thiên Chúa nếu Người không yêu thương chúng ta trước và để cho chúng ta yêu mến Người17Dẫn theo Fabio Giardini, op. cit., 86: Sermon 34,1-3. English translation in Liturgy of the Hours (New York: Cath. Book Co., 1975), vol. II, 712..
Gần chúng ta hơn cả trong những suy tư này là Công đồng Vaticanô II. Trong Hiến chế Gaudium et Spes số 19, Công đồng nhắc lại cả một truyền thống đạo lý có nền tảng từ Thánh Kinh và rút ra các hệ luận về nhân học như sau: “Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới kết hiệp với Thiên Chúa.”