Kết luận

Một số đường hướng gợi mở cho cuộc đối thoại giữa Phật giáo và Kitô giáo1Anita C. Ray, John D’Arcy May, John R. Dupuche, “Doing Theology Inter-religiously?” in Australian eJournal of Theology, vol 20, No 2 (August 2013) at http://aejt.com.au:

Cầu nguyện và chiêm niệm. Như chúng ta đã bàn luận trên đây, con đường của thiền và cầu nguyện Kitô giáo chắc chắn có những khác biệt. Tuy nhiên, việc trở nên “Không” trong ý tưởng Phật giáo không phải là điều không đáng để chúng ta bận tâm. Rõ ràng, tôn sư Eckhart đã dạy cho chúng ta một bài học khi ngài cố thoát khỏi một “Thiên Chúa” (như khái niệm) để đạt đến “chính Thiên Chúa” (như Người là). Thế nên cuộc đối thoại này vẫn còn và sẽ luôn cần thiết cho hành trình nhân loại sống giá trị siêu nhiên ngang qua những thực tại trần thế.

Ân sủng và tự lực. Ân sủng là một trong những đề tài chính yếu không chỉ trong các bàn luận thần học mà cả trong đời sống thực hành đức tin của Kitô hữu. Vấn đề chúng ta muốn biết ở đây là liệu trong Phật giáo có thể có một niềm tin nào như thế về nguồn trợ lực đến từ bên ngoài không? Truyền thống Theravada không ghi nhận về vấn đề này nhưng truyền thống Phật giáo Mahayana sau đó lại cho thấy lý tưởng Bồ-tát là một hình thức trợ lực của những bậc đã giác ngộ đối với chúng sinh còn mê lầm trong vòng sinh tử.

Sáng tạo và hình thành. Thiên Chúa của Kitô giáo là Thiên Chúa sáng tạo. Đây là tiền đề cho việc khai triển nền thần học sáng tạo Kitô giáo. Nền thần học này nhìn thấy Thiên Chúa là chủ công trình tạo dựng nhưng Người vẫn còn đang tiếp tục hoàn thiện công trình ấy qua bàn tay con người. Và đối với hữu thể nhân linh này, Thiên Chúa không đặt để nó tách biệt khỏi thế giới còn lại nhưng ấn định hiện hữu của nó trong mối tương quan với vũ trụ, đồng loại và với chính Người. Phật giáo tuy không đề cập đến Đấng Sáng Tạo nhưng công nhận rằng toàn bộ thế giới, trong đó có con người, là một mạng lưới đan xen và liên hệ với nhau. Quy luật của nghiệp không gì khác hơn là quy luật của sự phụ thuộc này.

Ham muốn và từ bỏ. Mỗi truyền thống đều có mục đích và phương thế riêng để thực hiện việc từ bỏ, siêu thoát hay hãm dẹp mọi ham muốn. Phật giáo thời kỳ đầu cho thấy rằng họ là những người giữ luật nghiêm ngặt trong việc “diệt” mọi ham muốn hầu đạt đến mục tiêu cuối cùng. Chúng ta cũng không lạ gì với điều này trong truyền thống Kitô giáo cho đến trước Vaticanô II. Tinh thần “kiêng kỵ” của thánh Phaolô (x. 1Cr 9,24-27) nhằm đạt đến phần thưởng không bao giờ hư nát là một ví dụ điển hình về điều này. Như thế, có thể nói đời sống tâm linh cũng đồng thời phải là một đời “khổ hạnh” dường như là mạch chảy xuyên suốt của hai truyền thống Phật giáo và Kitô giáo.

Nghiệp và tự do. Một cách thoáng qua chúng ta có thể nhận thấy quy luật của Nghiệp mang màu sắc tất định; và dường như giá trị tự do bị đánh mất. Đang khi đó, thực tế lại phơi bày một thực trạng trái nghịch của thứ tự do “bị lạm dụng” (chúng ta cần phân biệt rõ giữa tự do như liberté và tự do phóng túng hay tháo thứ như libertin). Điều này không khỏi làm cho chúng ta phải suy nghĩ về trách nhiệm cá nhân trong mỗi hành động được gọi là tự do. Tự do đúng nghĩa là tự do có trách nhiệm và quy luật Nghiệp báo có lẽ cũng là một thứ định luật đòi con người phải trả lời cho chính tự do với tất cả trách nhiệm của mình.

Lịch sử và hy vọng. Đức tin Kitô giáo là một đức tin có lịch sử tính. Bản văn thư Rm 8,18-25 cho thấy chiều kích lịch sử này được diễn ra trong niềm hy vọng. Quả vậy, “chúng ta đã được cứu độ những vẫn còn phải trông mong” (x. Rm 8,24). Lịch sử là một “vũ đài” trên đó toàn bộ thực tại trong không gian và thời gian phải phô diễn tất cả hiện hữu của nó như một hành trình hướng đích, để dù quan niệm thế nào về hiện hữu này – chóng qua, giả tạo hay là một sự chuẩn bị cho vĩnh cửu – tất cả đều cần đến một sự khởi đầu và kết thúc cho toàn bộ lịch sử ấy. Trong ý nghĩa đó, một nền “thần học” Kitô giáo – Phật giáo có thể cùng nhau hợp tác để xây dựng một “niềm hy vọng” cho dòng chảy thời gian của lịch sử nhân loại.

Sách tham khảo

  • Amell, K. Contemplation et dialogue. Quelques exemples de dialogue entre spiritualités après le concile Vatican II. Thèse en missiologie pour le doctorat en théologie soutenue à l’Université d’Uppsala 1998.
  • Dumoulin, Heinrich. “Understanding Buddhism”. Translated and adapted from German by O’Leary, Joseph S. New York: Weatherhill, 1995.
  • _______. Christianity Meets Buddhism. LaSalle, Ill.: Open Court, 1974.
  • Fleischman, Paul R. Karma and Chaos: New and Collecteds Essays on Vipassana Meditation. Onalaska, WA: Vipassana Research Publications, 1999.
  • Giardini, Fabio. Pray without ceasing. Roma: Millennium, 1998.
  • Johnston, William. Zen et connaissance de Dieu. New York: Desclée de Brouwer, 1973.
  • _______. The Still Point. New York: Harper & Row, 1971.
  • Jung, Carl G. Psychology and Religion: West and East. London: Routledge and Kegan Paul, 1958.
  • Lonergan, Bernard. Method in Theology. New York: Herder and Herder, 1972.
  • Mello, Anthony de, Sadhana: A Way to God. Anand: Gujarat Sahitya Prakash, 1985.
  • Merton, Thomas. Contemplative prayer. New York: Herder and Herder, 1969.
  • Phan Tấn Thành. Đời sống tâm linh – tập 3. Roma: HVĐM, 2003.
  • _______. Đời sống tâm linh – tập 4. Rôma: HVĐM, 2004.
  • _______. Đời sống tâm linh – tập 5. Roma: HVĐM, 2005.
  • Pinckaers, Servais Théodore. La prière chrétienne. Fribourg: Éditions Universitaires, 1989.
  • _______. The Practice of Faith: A Textbook of Contemporary Spirituality. New York: Crossroad, 1986.
  • Rolheiser Ronald. The Shattered Lantern: Rediscovering a Felt Presence of God. New York: Crosscroad, 2001.
  • Shannon, William H. “Contemplation, Contemplative Prayer” in Downey, Michael (ed.). The New Dictionary of Catholic Spirituality. Minnesota: The Liturgical Press, 1993.
  • Suzuki, D. T. Mysticism Chritian and Buddhist. London: Buddhist Society, 2002.
  • Thích Minh Châu. Giới thiệu Pháp Thiền Nguyên Thuỷ của Đức Phật. “Hành Thiền”. Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên, 1993.

Các tạp chí và bài nghiên cứu

  • Béthune, Pierre-François de. “Contemplation and Interreligious Dialogue”. Bulletin 49 (Jan. 1994).
  • Blée, Fabrice. “Aux frontière du silence – Exploration du dialogue interreligieux monastique”. Théologique 7/2 (1999).
  • Duffy, Kevin. “Eastern Meditation Techniques and Chriatian Spirituality: The Example of Vipassa”. Australian eJournal of Theology, vol 12, No 1 (2008).
  • Goenka, S. N. Discourse Summaries. Bản Việt ngữ “Những bài giảng cương yếu của khoá 10 ngày tu tập Thiền Minh Sát Tuệ” do Thích Minh Diệu dịch. 1994. [CD-ROM].
  • O’Hanlon, Daniel J. “Zen and the Spiritual Exercises: A dialogue between Faiths”. Theological Studies, vol 39, Issue 4 (Dec 1978).
  • Ray, Anita C. & May, John D’Arcy & Dupuche, John R. “Doing Theology Inter-religiously?” Australian eJournal of Theology, vol 20, No 2 (August 2013).
  • Sudbrack, J. “Finding God in All Things”. The Way Supplement, 103 (2002).