II. Thiền – Nhìn từ góc độ tâm lý đến tâm linh
Thực hành thiền nếu nhìn từ góc độ chữa trị thì không gì khác hơn là việc làm cho các yếu tố của đời sống tâm lý được thể hiện ra trên bề mặt ý thức. Về phương diện tâm lý học, Jung cho rằng việc chữa trị này sở dĩ thành công vì phá bỏ được những thành kiến đã định hình trên những phần hạ cấp và thuộc bản năng nơi con người1William Johnston, Zen et connaissance de Dieu (New York: Desclée de Brouwer, 1973), 52-66; Carl G. Jung, Psychology and Religion: West and East (London: Routledge and Kogan Paul, 1958), 552: “Có một góc nào đó, một kiểu ca-bin nào đó, chất đầy những nỗi hổ thẹn riêng tư dù rằng chúng không hoàn toàn bị che giấu mà chỉ là không được nhớ cách trọn vẹn… Vô thức là khuôn của tất cả những giả thuyết siêu hình, của mọi thứ huyền thoại, mọi thứ triết lý (trong mức độ mà chúng không phải là một nhận định tinh tuyền) và của tất cả những cách thế diễn tả của đời sống được xác lập trên nền tảng tâm lý học”..
1. Ý thức được hoàn toàn tỉnh thức
Trong thiền, ý thức dường như được dẫn dắt đến “điểm tử” (point mort). Dòng suy nghĩ bị cắt đứt. Hành giả nhận biết bản chất “không gì cả” và sẽ tìm cách ngừng bước tiến của dòng suy lý nhờ vào “công án”2Đây là cách được Thiền Tông thuộc hệ phái Đốn Ngộ sử dụng. Theo cách trình bày trên đây, chúng ta biết rằng mỗi phương pháp thiền sẽ có cách thế của riêng mình chẳng hạn như chú tâm vào các đề mục thiền.. Một sự định tâm (concentration mentale) sẽ thế chỗ vào đó và ý thức sẽ được vận hành theo một cách thức khác. Dòng tư tưởng theo “phương ngang” ấy được thay thế bằng dòng tư tưởng theo “chiều dọc”. Mọi thứ ảo ảnh bị chặn lại. Tinh thần bắt đầu “lặn xuống” những tầng sâu trong cái “là” của chính nó.
Như thế, ngôn ngữ thiền gợi lên cho chúng ta một ý tưởng về “sự đi xuống”. Đó là nỗ lực chọc thủng tất cả những lớp vô thức. Vai trò của “công án” hay một thứ đề mục thiền nào đó nhằm tước đi tất cả những bám víu còn vướng phải nơi hành giả. Tinh thần bị nhốt chặt trong sự dày vò khôn tả mà không sao tìm thấy lối thoát. Tuy nhiên, các bậc Thiền sư cho thấy rằng sự xáo trộn ấy là cơ hội đẩy hành giả tìm kiến sự chiếu sáng (illumination). Điều này như thể khi các lối thoát đều bị bịt kín thì một sự bùng nổ của năng lượng tâm linh sẽ đưa đến sự chiếu sáng, sự giác ngộ đang chờ hành giả ở đó.
Trên bình diện tâm lý học chiều sâu, giác ngộ là tình trạng ý thức được bừng dậy mà trong điều kiện bình thường chúng ta đã lãng quên sự hiện hữu của nó. Sự chiếu sáng, xét cho cùng chỉ là một kinh nghiệm mới từ chính cuộc sống quá quen thuộc hằng ngày. Jung đã viết rằng đối tượng mà chúng ta quán sát không thay đổi mà chỉ thay đổi cách chúng ta quán sát chúng3Carl G. Jung, op. cit., 546.. Bản chất của ý thức mới này không phải là một thứ siêu ngã nào đó được tạo ra nhưng là sự nhận thức về vô ngã (non-ego). Đây là kinh nghiệm về sự xuyên thấu khi một ý thức vốn xưa nay bị giới hạn trong hình thái bản ngã giờ thấy mình là vô ngã, tức thấy “cái tôi vô ngã”. Điều này giúp chúng ta phân biệt đâu là “cái tôi vô ngã” và đâu là “cái bản ngã thường nghiệm” của mình.
2. Nhận thức bản ngã chân thật
Bản ngã thường nghiệm là “cái tôi” quen thuộc của chúng ta, nhưng xét về một phương diện nào đó, nó chỉ là một thứ “ảo ảnh”. Bởi lẽ, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta xây dựng cho mình một bản ngã phù hợp với chính mình, một thứ bản ngã được tạo ra từ ảo vọng khi chúng ta ước muốn là một ai khác, trong khi cái tôi thật của chúng ta lại không như vậy. Và như vậy, cái tôi chân thật chỉ có thể hiển lộ khi cái hư ảo kia bị phá huỷ.
Thực tại kinh nghiệm “bên kia” của chủ thể và đối tượng không còn bị từ chối nữa. Thiền gọi đây là một thứ kinh nghiệm, dù được coi là huyền bí tôn giáo hay một điều gì đó đại loại như vậy, thì cũng thuộc về chính bản chất con người, nghĩa là trong mức độ mỗi người để cho ý thức hoạt động, ý tưởng “chủ thể” trở nên “đối tượng”, thì sự biến mất của cái tôi thường nghiệm và sự chìm ngập trong cái tôi thật sự “vô ngã” là điều hoàn toàn có thể.
Với những trình bày trên đây, hẳn chúng ta sẽ không mấy bàn cãi về giá trị chữa trị của thiền xét trong lãnh vực tâm lý học, nhất là tâm lý học chiều sâu mà khoa tâm lý ngày nay rất quan tâm. Tuy vậy, điều chúng ta muốn đi sâu hơn nữa, đằng sau sự chữa trị ấy của thiền, là lối mở hướng đến một giá trị tâm linh mà những ai mong mỏi có thể tìm thấy được cho mình chút ánh sáng.
Rõ ràng, khoảng cách từ tâm lý học chiều sâu đến tâm linh giải thoát không còn xa mấy. Sự thật trong bình diện tâm lý và cũng là sự thật phải chứng nghiệm trên bình diện tâm linh ấy là thấy được chân tánh của mình, tức là bản ngã chân thật của mình. Dầu vậy, chúng ta vẫn phải trả lời cho câu hỏi rằng liệu việc thực hành thiền có đòi hành giả phải là một Phật tử? Xét theo nghĩa rộng, chúng ta không thể chối cãi rằng phương pháp này có nguồn gốc từ chính Đức Phật, và vì vậy, ai thực hành nó cũng có nghĩa là thuộc hàng môn sinh của ngài. Điều này không có gì là nghiêm trọng vì không khác gì với việc nếu có ai đó yêu mến và quý trọng lý tưởng Kitô giáo và muốn bắt chước các nhân đức của Đức Giêsu dù họ không lãnh nhận phép Rửa. Tuy vậy, xét cách chặt chẽ thì cần hiểu rằng hạn từ “phật” không hề ám chỉ đến một cá nhân, thậm ngay cả Đức Phật vì ngài cũng không có bản ý muốn người khác phải nên giống như ngài, nhưng mỗi người là một vị phật và phật tánh có sẵn nơi mỗi người. Thế nên, gia sản thiền của Phật giáo vừa là điều gì rất đặc trưng của riêng Phật giáo4Ấn giáo đã biết đến từ lâu các phương pháp hành thiền này như Yoga chẳng hạn. Tuy nhiên, trong phạm vi đang đề cập ở đây, chúng ta chỉ muốn nói đến thiền Phật giáo như là một phương pháp tu tập được chính Đức Gautama truyền lại cho hàng đệ tử của ngài theo như những gì kinh sách Phật giáo còn để lại. nhưng cũng mang tính đại chúng vì ẩn chứa trong đó những gì thuộc về bản chất con người.
Thật vậy, phương pháp mà thiền đề nghị với chúng ta là chính những gì gắn liền với thực tại cụ thể của bản tính nhân loại. Đó là điều mọi người có thể chia sẻ chung khi nói về một nhân tính duy nhất của con người. Chúng ta cũng có thể viện dẫn ra đây vai trò của tâm lý học hiện đại như là tiếng nói khách quan cho thấy thiền chưa bao giờ là một phương pháp mang tính tôn giáo cho bằng đó là một phương pháp khoa học về tâm nơi con người. Như vậy, nếu nói về thiền, ta có thể nói đó là khoa học về tâm hay con đường tự nhiên mà nhân loại có thể tìm đến như một trong các phương pháp đạt đến sự an tĩnh nội tâm qua con đường chứng ngộ “vô ngã”.
Trên đây, chúng ta vừa tìm hiểu thiền nhìn từ góc độ tâm lý đến tâm linh. Tương tự như vậy, phần khảo sát về cầu nguyện trong Kitô giáo cũng được trình bày từ góc độ của các yếu tố thể chất đến tinh thần và tâm linh. Tựu trung, có thể quy về hoạt động của trí và tâm như hai yếu tố chính của đời sống cầu nguyện này.