IV. Thiền và cầu nguyện Kitô giáo: Hướng đến một cuộc đối thoại tâm linh
Ngay từ đầu bài viết, chúng ta đã xác định hướng tiếp cận với những truyền thống tâm linh ngoài Kitô giáo qua con đường đối thoại như là phương thế trao đổi và làm phong phú lẫn nhau. Khi nói đến Thiền, chúng ta vừa nói đến một phương pháp tu tập đặc trưng của Phật giáo vừa cho thấy đây cũng là con đường khai mở tâm linh. Hẳn là Thiền và cầu nguyện Kitô giáo có sự khác nhau về không gian, thời gian và nhất là về hệ thống từ ngữ và khái niệm, nhưng thời gian gần đây, Thiền cho thấy nó có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên thế giới Kitô giáo1William Johnston, The Still Point (New York: Harper & Row, 1971), xiv.. Chúng ta không quá ngây thơ để đánh đồng cả hai thành một nhưng cũng không cực đoan để cho rằng chúng loại trừ lẫn nhau. Vấn đề như chúng ta đã thấy đó là Công đồng Vaticanô II đã khai thông những con đường đối thoại khả dĩ cho phép một cái nhìn rộng mở hơn với thế giới tâm linh ngoài Kitô giáo. Thế nên, điều chúng ta sẽ tìm hiểu dưới đây không thuần tuý thuộc bình diện tín lý; thay vào đó, chúng ta cùng nhìn ra những nét tương đồng và dị biệt giữa hai truyền thống này trên bình diện tâm linh: một cuộc đối thoại về những kinh nghiệm tâm linh-niềm tin.
Phần này sẽ được chia thành hai mục lớn2Zen và Vipassana thuộc về hai truyền thống khác nhau trong Phật giáo (xem thêm trong Viên Minh, Thiền Phật giáo – Nguyên Thuỷ và Phát Triển. Trung tâm Hộ Tông). Mỗi truyền thống có những nét tương đồng và dị biệt riêng. Thế nên chúng ta cùng tìm hiểu một lúc cả hai truyền thống này trong việc so sánh với thực hành tâm linh Kitô giáo qua việc cầu nguyện. Những bước thực hành Zen có nét nào đó tương đồng với một số lối thực hành tâm linh trong truyền thống Kitô giáo, chẳng hạn như lối cầu nguyện “an tĩnh” Hesychasmus hay Linh Thao trong truyền thống Inhaxiô (hẳn nhiên sẽ có những khác biệt như sẽ được trình bày sau). Trong khi đó, kỹ thuật Vipassana với lối tiếp cận từ tâm lý đến tâm linh (nghĩa là đi từ ý thức tự nhiên đến cái nhìn trí huệ) phần nào làm phong phú truyền thống cầu nguyện Kitô giáo cũng như có những tác dụng chữa trị tích cực về mặt tâm lý.: (1) Zen và kinh nghiệm cầu nguyện Kitô giáo; (2) Vipassana – Kỹ thuật và ứng dụng trong cầu nguyện Kitô giáo. Trong mỗi phần, chúng ta cùng tìm hiểu những nét tương đồng giữa các truyền thống này, đồng thời chỉ ra những giới hạn không thể lẫn lỗn giữa hai bên; qua đó, chúng ta có thể làm phong phú cho truyền thống tâm linh Kitô giáo cũng như Phật giáo.
1. Zen và kinh nghiệm cầu nguyện Kitô giáo
Chúng ta sẽ bắt đầu cuộc đối thoại này qua các ý sau: (a) Mục đích (b) Phương tiện (c) Thầy dạy (d) Ngã vị và Vô ngã
a. Mục đích
Dường như chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi về mục đích của hai truyền thống tâm linh lớn này. Cầu nguyện Kitô giáo không gì khác hơn là tìm kiếm sự kết hợp với Thiên Chúa, tức là được nên một với Người. Trong khi đó, Thiền Phật giáo trước sau đều hướng đến sự giác ngộ, đạt đến cứu cánh là niết-bàn. Rõ ràng hai mục đích này khác nhau và dường như không thể là một. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng vội bỏ qua cơ hội khám phá bất kỳ một sự hỗ tương nào có thể hầu làm phong phú cho các truyền thống tâm linh.
Thật vậy, Thiền Phật giáo tìm kiếm sự tỉnh thức, một sự an tĩnh nội tại. Đó là tình trạng con người được chiếu sáng và thấy rõ bản tánh của sự vật3Heinrich Dumoulin, “Understanding Buddhism” translated and adapted from German by Joseph S. O’Leary (New York: Weatherhill, 1995), 87-94.. Suzuki đã nói về điều này như sau: “Triết học Phật giáo là triết học về bản tánh (suchness), về cái không (emptiness) hay về sự nhận thức bản ngã (self-identity). Nó khởi đi từ chính hiện tại được kinh nghiệm thấy, một kinh nghiệm trong đó không có sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, không chỉ là sự rỗng không”4D. T. Suzuki, Mysticism Chritian and Buddhist (London: Buddhist Society, 2002), 60.. Đang khi đó, Eckhart lại trình bày huyền bí kết hợp trong Kitô giáo như là việc Thiên Chúa trao cho chúng ta tình yêu qua Thần Khí của Người để chúng ta có thể yêu mến Người bằng một tình yêu hằng cửu nơi Người. Thế nên, chúng ta yêu mến Người bằng chính Tình Yêu của Người và điều này thần hoá chúng ta5D. T. Suzuki, op. cit., 35.. Tuy vậy, Suzuki lại nhìn thấy ở đây một trực giác về prajna (trí huệ hay huệ nhãn) trong cách giải thích của một thần bí gia Kitô giáo về huyền nhiệm của đời sống chiêm niệm. Bởi lẽ, trong tình yêu hỗ tương không chút vị lợi này, chúng ta được tháp nhập vào dòng chảy Tình Yêu duy nhất của Cha và Con, không có chỗ cho cái ngã vị kỷ, ảo ảnh, giả tạo chen vào. Tất cả là thuần khiết, là chính nó (suchness). Điều này không nằm ngoài mục tiêu mà Thiền hướng đến để khai mở huệ nhãn, chiếu ánh sáng để soi rõ bản tánh chân thật, cái ngã chân thật (cái chân như bản tánh).
Dù sao đi nữa, đối với một Kitô hữu, toàn bộ quá trình đến với lòng mến này không nằm ngoài tác động của ân sủng. Chính ân sủng Thiên Chúa đã đi bước trước khích động tâm hồn yêu mến và mở lòng ra trước Người. Do vậy mà chúng ta thấy trong tiến trình cầu nguyện, dù lý trí thì chủ động nhưng chính con tim lại đi trước trong việc sẵn sàng đón nhận ân sủng đến từ Thiên Chúa. Đang khi đó, nếu là một hành giả thực hành Thiền định, yếu tố tiên quyết là cần nuôi trồng cho mình sự bén nhạy về việc tỉnh thức, tự do và sẵn sàng mở ra với Tuyệt đối. Tuy nhiên, có lẽ trên hai tuyến đường song song này, cầu nguyện Kitô giáo và Thiền, dường như cùng đồng ý với nhau rằng thái độ tiên quyết không phải là chúng ta phải làm gì nhưng là để mình được biến đổi. Cả hai cùng ghi nhận một tư thế thụ động6Chúng ta đã giải thích thuật ngữ thụ động này không theo nghĩa tiêu cực nhưng là một sự thụ động tích cực tức là chủ động để được biến đổi. Một nguy cơ rất lớn trong việc thực hành tâm linh là sự quấy rối của bản ngã, bản ngã thường nghiệm (giả tạo, ảo ảnh và bị quy định bởi nhiều yếu tố khác nhau). Thế nên, việc dẹp bỏ ý riêng cũng chính là dẹp bỏ bản ngã giả tạo mà để cho bản ngã chân thật được tỏ hiện.. Thiền cảnh tỉnh về nguy cơ với cái gọi là quà tặng thiêng liêng hay ân sủng vì đâu đó vẫn còn bóng dáng của cái tôi, cái bản ngã giả tạo. Có lẽ, đây cũng là một gợi ý tích cực cho việc thực hành tâm linh Kitô giáo. Kitô hữu cần mở lòng đón nhận chứ không phải làm theo ý mình. Chính Đức Giêsu là mẫu gương trong việc hoàn toàn vâng phục ý Cha, và cuộc đời của Người cho đến tận cái chết trên thập giá đều là thể hiện ý muốn của Chúa Cha.
b. Phương tiện
Phương tiện cốt để đưa đến mục đích. Truyền thống Kitô giáo cho thấy có khá nhiều phương thế khác nhau để đi vào đời sống cầu nguyện và chiêm niệm. Một lối cầu nguyện của Kitô giáo Đông phương đã được các đan sĩ núi Athos thực hành từ thời Trung Cổ là hesychasmus (tĩnh nguyện) có những nét nào đó tương tự như việc hành Thiền hay Yoga. Phương tiện chính trong việc thực hành hesychia là thinh lặng và cô tịch. Bên cạnh đó, hesychia còn mời gọi thực hành việc niệm danh thánh Chúa Giêsu như là cách thế để mang lại cho nội tâm một sự bình an cùng với sự lưu tâm đến các cử động kèm theo của thân thể7Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh – tập 4 (Rôma: HVĐM, 2004), 315-316..
Lối tĩnh nguyện này đưa tâm trí đi từ tư thế bên ngoài của thân thể đến nội dung bên trong. Chúng ta có thể ghi nhận các đặc điểm về tư thế và ý nghĩa của nó như sau: (1) “Ngồi xuống”: bền chí cầu nguyện, ở lại với Chúa, ở lại trong tình yêu của Chúa; (2) Im lặng”: thinh lặng môi miệng, thinh lặng tâm hồn. (3) “Thở nhẹ”: hít thở “thần khí”, lắng nghe những gì Thánh Linh gợi hứng cho ta. (4) “Chuyển từ óc xuống tim”: Ngưng tưởng tượng, trở về với con tim là trung tâm con người, nơi Đức Kitô hiện diện, để cảm nghiệm tình thương của Người. (5) “Niệm”: cuộc đối thoại với Đức Giêsu Kitô qua việc niệm danh của Người. Song song đó, nội dung của lối cầu nguyện này chính là việc “niệm kinh”. Việc “niệm” ở đây nhắm đến việc cầu nguyện liên lỉ không ngừng (x. 1Tx 5,17), còn “kinh” chính là “kinh nguyện Chúa Giêsu”: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Nền tảng thần học của việc niệm kinh này chính là nhờ kết hiệp với Đức Kitô, Đấng luôn hiện diện với Chúa Cha và Thánh Linh, mà chúng ta được kết hợp với Thiên Chúa Ba Ngôi8Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh – tập 4, 316-321.. Như thế, tâm điểm của lối tĩnh nguyện này không chỉ là sự an bình nội tâm, trên hết, chính là con tim rộng mở đón mời sự hiện diện của Đức Kitô trong tâm hồn.
Một cách nào đó, hesychia và Thiền rất gần với nhau. Thật vậy, khi nhận xét về sự khác biệt giữa phương pháp Linh Thao và Thiền9Daniel J. O’Hanlon, “Zen and the Spiritual Exercises: A dialogue between Faiths” in Theological Studies, vol 39, Issue 4 (Dec 1978), 737-768; truy cập http://www.ts.mu.edu/readers/content/get-past-articles.html, O’Hanlon đã thấy rằng Thiền sử dụng một phương tiện khác thay cho các ý tưởng và hình ảnh được gợi lên từ lý trí đó là công án. Công án không phải để suy nghĩ mà là để tỉnh thức. Bằng cách nào đó, mỗi công án sẽ khiến tâm trí người hành Thiền bị xuyên thủng. Nó sẽ xuyên thủng mọi lớp vô thức, phá vỡ mọi thứ suy lý để trực tiếp chạm đến tầng sâu của vô-khái niệm, của sự tỉnh thức hoàn toàn10Điều này cũng đã được nói đến trong phần II. 3. Thiền nhìn từ góc độ tâm lý đến tâm linh.. Cũng vậy, có thể nói rằng, hesychia là lời cầu nguyện của con tim với tất cả những chuyển động để chạm đến chiều sâu tâm điểm của con người, nơi tâm hồn rộng mở đón nhận sự hiện diện thần linh. Theo cách nói loại suy, Thiền cũng đang vận dụng cùng một cách “đức tin đưa đến đức tin”11Đây là kiểu nói được thánh Phaolô sử dụng trong thư Rm 1,17. mà các phương pháp cầu nguyện Kitô giáo vẫn dùng. Nghĩa là, giác ngộ là việc mà ý thức bừng dậy không do những lập luận suy lý, cũng chẳng phải một thứ hiểu biết nào đó có thể diễn tả được nhưng là trực giác nắm bắt lấy chính bản tánh của mình, lìa xa khỏi mọi thứ phân biệt do thế giới khái niệm, ảo vọng gây nên.
Bởi thế, chúng ta cũng dễ hiểu khi mà một số phương pháp cầu nguyện được cho là gần với tâm lý học hơn tâm linh khi nó quá chú trọng đến hình thức bên ngoài mà bỏ mất nội dung. Rõ ràng, mọi “kỹ thuật” cầu nguyện cũng chỉ là bước chuẩn bị để cho chính Thánh Thần là Đấng sẽ dạy chúng ta cầu nguyện và chính Người cầu nguyện trong chúng ta. Sự giao thoa đáng chú ý ở đây đó là cách thế Thiền đóng góp cho việc thoát khỏi cảnh làm nô lệ cho “con khỉ tâm trí”12Daniel J. O’Hanlon, op. cit., 748. khi mọi tư tưởng cứ ồ ạt đến và đi, chiếm giữ và làm phân tán việc tập trung khi cầu nguyện.
c. Thầy dạy
Trong việc hành Thiền, yếu tố “Thầy hướng dẫn” đóng vai trò rất quan trọng. Không phải bất kể vị thầy nào cũng có thể đảm trách công việc này nhưng phải là vị thầy đã chứng ngộ. Việc học trò phải ở và học với thầy là điều bắt buộc. Chúng ta cũng không thấy xa lạ gì với điều này, bởi lẽ, ngay từ ban đầu, chính Đức Giêsu đã muốn các môn đệ ở với Người và để được Người sai đi.
Chúng ta có thể đơn cử ra đây phương pháp Linh Thao theo truyền thống Inhaxiô để đối chiếu với phương pháp Thiền. Trong Linh Thao, vị linh hướng đòi buộc phải là người đã kinh nghiệm thấy tất cả những gì mà một tiến trình Linh Thao mang lại. Vị này phải là người đồng hành và từng bước giúp đỡ ứng sinh đang trải nghiệm Linh Thao đọc ra các dấu chỉ tâm linh phản ánh tình trạng nội tâm cũng như quyết định chọn lựa của bản thân trong việc đáp lại tiếng Chúa mời gọi13Daniel J. O’Hanlon, op. cit., 750-751..
Cũng vậy, Thiền sư là người từng bước giúp đỡ đệ tử phá bỏ những bám chấp và ràng buộc của tâm. Vị này sẽ là người đưa ra công án như thứ khí giới để đệ tử chuyên chăm luyện tập, sống chết với việc phải nhuần nhuyễn sử dụng khí giới này sao cho nắm bắt được nó không phải bằng thứ lý trí biện phân hay suy diễn. Công án cùng với sự trợ giúp của thầy sẽ từng bước đưa học trò đến bờ giác ngộ14William Johnston, The Still Point (New York: Harper & Row), 15..
Tuy nhiên, truyền thống tâm linh Kitô giáo một mặt không loại bỏ nỗ lực bản thân nhưng mặt khác lại cho thấy vị thầy hướng dẫn đích thực trên đường tâm linh cho mọi tín hữu không ai khác hơn là chính Chúa Thánh Thần. Điều này cho thấy dù vị thầy có tài ba hay kinh nghiệm đến mấy thì chính Chúa mới là Đấng làm triển nở đời sống nội tâm của ứng sinh. Vì lẽ đó, thầy hướng dẫn cũng trở thành “công cụ” của Chúa trong việc giúp đỡ người khác tiến trên đường tâm linh. Về điểm này, Thiền dường như cũng cho thấy rằng dù vai trò của vị Thiền sư rất quan trọng nhưng ông cũng chỉ là “bà đỡ” cho ngày hạ sinh của một đấng giác ngộ mới mà thôi.
Thế nên, yếu tố “Thầy hướng dẫn” vừa rất quan trọng vừa chỉ là trung gian hay là một “công cụ tích cực” cho việc tiến triển tâm linh cũng như đưa đến bờ giác ngộ cho học trò.
d. Ngã vị và Vô ngã
Đề tài Vô ngã trong chính nội bộ các tông phái Phật giáo đã là một “điểm nóng” chứ không cần phải so sánh đối chiếu với quan niệm Kitô giáo. Bởi thế, nếu phải đối thoại với truyền thống tâm linh Phật giáo, đây là một đề tài không thể bỏ qua và cần nhìn ở một góc độ khác, góc độ tâm linh, để thử khám phá những cái nhìn khác nhau về cũng một chủ điểm ấy.
Thật vậy, học thuyết anatta được nhấn mạnh đặc biệt trong truyền thống Theravada. Theo đó, cái gọi là con người chỉ là một thứ “nhãn” được đặt cho một tổ hợp các uẩn vô thường. Hẳn ta cũng sẽ tự hỏi tại sao đang khi Đức Phật được sùng kính như một “nhân vị” đầy phẩm hạnh thì các Phật tử lại bác bỏ ý tưởng về một ngôi vị thần linh?15Heinrich Dumoulin, Christianity Meets Buddhism (LaSalle: Open Court, 1974), 189. Tuy nhiên, như chúng ta đã nói, ở một góc nhìn khác sẽ khả dĩ đem lại một ánh sáng mới. Quả thế, Suzuki cho rằng:
Kinh nghiệm nhân vị phải được xem là nền tảng của triết học Phật giáo… Nền triết học này dạy rằng cần nhìn vào trong ý nghĩa của đời sống như nó vẫn đang tuôn chảy16T. Suzuki, op.cit., 42..
Cũng vậy, Eckhart đã không bao giờ nhìn “tánh không” như một thứ hư vô chủ nghĩa hay theo một nghĩa tiêu cực dù rằng ngài vẫn thường nói về nó như là “sa mạc”, một nơi “tĩnh mịch”, một sự “rỗng không”. Ngài viết:
Tôi đã đọc nhiều tác phẩm của những bậc hiền triết và khôn ngoan ngoài Kitô giáo, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, và tôi đã sốt sắng với tất cả sự cần mẫn tìm kiếm nhân đức trỗi vượt nhất nhờ đó con người có thể đến gần Thiên Chúa và ở đó con người có thể trở nên như hình ảnh ban đầu khi nó ở trong Thiên Chúa lúc chưa có gì phân biệt giữa Thiên Chúa và nó trước khi Người sáng tạo thế giới. Và khi đã lặn vào trong bản chất của vạn hữu bằng tất cả khả năng của mình, tôi tìm thấy rằng không có gì khác hơn là sự buông bỏ tuyệt đối khỏi mọi thụ tạo. Đây cũng là điều Chúa đã nói với Mátta: ‘Chỉ có một điều cần mà thôi’, và điều này có nghĩa là: ai muốn được siêu thoát và nên tinh tuyền thì chỉ có một điều cần là hãy buông bỏ17D. T. Suzuki, op.cit., 10-11..
Và Eckhart thêm rằng:
Sự buông bỏ hoàn hảo thì không có một đánh giá nào cả, không có sự tầm thường hay cao cả ở đây đối với các thụ tạo; nó không cần biết là trên hay dưới; nó biết rằng nó làm chủ chính nó, không yêu cũng chẳng ghét gì, không giống mà cũng chẳng khác gì so với bất kỳ thụ tạo nào; chỉ có một điều làm nó khao khát: ‘là’ chính nó (be one and the same). Vì lẽ là cái này hay cái khác tức là muốn một điều gì đó. Một người là thế này hay thế khác tức là một ai đó; nhưng sự buông bỏ thì không muốn gì cả. Nó không quấy rầy bất cứ điều gì18D. T. Suzuki, op.cit., 11..
Rõ ràng Suzuki khi chú giải về tư tưởng Eckhart một phần vừa cho thấy có sự khác biệt trong cách hiểu về “cái không” trong truyền thống Kitô giáo và Phật giáo, một phần lại nhận ra đâu đó sự đồng quy tâm linh ở đây. Rõ ràng, ông nhận ra có sự đan quyện không thể tách rời trên hai bình diện tâm lý và siêu hình. Nhưng vượt xa hơn đó là một trực giác tâm linh mà Suzuki nhận ra nơi Eckhart khi hiểu rằng khắc khoải sâu thẳm của nhà thần bí Kitô giáo này không gì khác hơn là được kết hợp với Thiên Chúa cũng ngang qua con đường buông bỏ, phá tan mọi chướng ngại của khái niệm, ý tưởng19Suzuki đã chú giải điều này trong cách nhận xét về lối phân biệt của Eckhart giữa hai hạn từ “God” và “Godhead”. Theo đó, chúng ta chỉ thật sự được giải thoát trong “Godhead” tức là trong sự hợp nhất của Ba Ngôi. Đang khi đó “God” vẫn chỉ là một điều gì đó được đeo đuổi của tư duy và khái niệm. Ibid., 12-14..
Tóm lại, đề tài Ngã vị hay Vô ngã ở đây được nhìn trên phương diện tâm linh, theo đó, Ngã hay Vô Ngã không quan trọng cho bằng đằng sau tất cả những ý niệm đó đâu là hiện hữu chân thật. Lý thuyết Ngã vị có nguy cơ là một thứ “ngẫu thần” khi chạy theo những bản ngã giả dối, sai lầm. Cũng thế, học thuyết Vô ngã không khác gì một thứ hư vô chủ nghĩa khi chối bỏ căn tính hiện hữu. Thay vào đó, bản tánh chân như hay hình ảnh Thiên Chúa không phải là một ý niệm cho bằng là một cảm nghiệm tâm linh được chứng thực trong đức tin hay con đường giác ngộ. Nói cho cùng, một kinh nghiệm giác ngộ hay một kinh nghiệm tương quan với Thiên Chúa thuộc lãnh vực vô ngôn hơn là luận chứng; một cảm nhận hoà đồng và đơn nhất hơn là sự phân chia, đối lập; là sự thụ nhận hơn là điều gắng công kiếm tìm; và sau cùng, kinh nghiệm ấy sinh hoa kết quả thật sự trên đời sống cá nhân và cộng đồng20Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh, tập 4, 350-354..
Như vậy, chúng ta vừa điểm qua một vài yếu tố chính trong thực hành Zen và Cầu nguyện Kitô giáo. Xem ra mỗi truyền thống tâm linh đều cần sự “gạn đục khơi trong” nơi chính mình. Điều này có nghĩa là cần ý thức đến những hạn chế trong mỗi “công cụ” giúp đưa con người đến với cuộc gặp gỡ tâm linh.
Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu nguồn gốc và kỹ thuật thực hành Vipassana vốn được xem là lối hành thiền có nguồn gốc từ chính Đức Phật. Qua đó, chúng ta cũng cho thấy phạm vi ứng dụng có thể có của pháp thiền này đối với việc cầu nguyện nói chung cũng như những khác biệt dưới nhãn quan thần học Kitô giáo.
2. Vipassana – Kỹ thuật và ứng dụng trong cầu nguyện Kitô giáo
a. Về pháp thiền Vipassana của chính Đức Phật phát kiến
Để kiểm soát, uốn nắn và giải phóng tâm, Đức Phật sau nhiều năm tu tập đã phát kiến một lối thiền hướng tâm định soi vào đời sống để chứng ngộ thực tướng của vạn pháp, được gọi là Vipassana (Thiền minh sát). Đại đức Piyadassi giải thích như sau:
… Danh từ Vipassana (vi + passanà), trong một biến thể, có nghĩa là ‘thấy một cách phi thường’, thấy khác với lối thấy thông thường, do hai thành phần ‘passati’ là thấy và ‘vi’ hàm ý đặc biệt, khác lạ hơn thông thường. Như vậy, vipassana là thấy vượt ra ngoài cái gì thông thường, là minh tuệ. Đây không phải là nhìn thoáng qua. Cũng không phải chỉ nhìn bên trên bề mặt, ở mặt ngoài, mà nhìn sâu vào bên trong Thực Tại của đời sống. Chính nhờ cái nhìn sâu sắc căn cứ trên tâm hoàn toàn vắng lặng ấy mà hành giả tẩy sạch mọi bợn nhơ, mọi ô nhiễm ngủ ngầm để thành mục tiêu cuối cùng, Niết-bàn. Thiền minh sát (vipassanà bhàvanà) là loại thiền mà chính đức Phật đã tìm ra, đã thực hành, đã thành công và đã ban truyền, trước kia chưa từng có, và ngoài Phật giáo không có…21Thích Minh Châu, Giới thiệu Pháp Thiền Nguyên Thuỷ của Đức Phật trong “Hành Thiền” (Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên, 1993) tại http://www.budsas.org/ uni/u-vbud/vbthn099.htm
Một cách sơ lược có thể nói rằng, pháp hành mà chúng ta thảo luận đến gọi là thiền Vipassana (Thiền Minh Sát), tức pháp thiền này không hạn chế đối tượng của niệm bằng cách chỉ chú tâm vào một đối tượng bất di dịch, mà hướng tâm vào những trạng thái luôn luôn biến đổi của tâm và thân, ghi nhận bất luận hiện tượng nào xảy diễn đến mình. Công phu hành thiền của hành giả là giữ chú niệm của mình bám sát vào bất luận gì mình tri giác, nhưng buông bỏ tất cả, không bám víu gì hết. Trong khi tu tập theo dõi ghi nhận như vậy, tâm định của hành giả càng lúc càng kiên cố cho đến một lúc trở thành nhất điểm tâm, vững chắc trên mỗi điểm của luồng trôi chảy luôn luôn biến đổi của sự vật. Mặc dầu đối tượng đổi thay, di động như thế nào, tâm nhất điểm của hành giả luôn luôn an trụ vững vàng vào đó. Tâm định vừa vững chắc vừa di động này được phát triển bằng cách thực hành Tứ Niệm Xứ: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp, đây là “con đường duy nhất để chúng sanh tự thanh lọc, để diệt trừ đau khổ, để thành đạt trí tuệ và để chứng ngộ Niết-bàn.”
b. Tu tập theo pháp thiền Vipassana22S. N. Goenka, Discourse Summaries, bản Việt ngữ “Những bài giảng cương yếu của khoá 10 ngày tu tập Thiền Minh Sát Tuệ” do Thích Minh Diệu dịch (1994) [CD-ROM].
– Hơi thở được chọn như điểm khởi đầu
Phương pháp Thiền định đang đề cập đến đây chính là “chánh niệm bằng hơi thở, và chỉ có hơi thở”. Có một điều cần hiểu biết là việc định tâm theo dõi hơi thở kết hợp với việc tụng niệm một lời nói, một câu chú, một danh xưng của một vị thần nào đó hoặc tưởng tượng hình ảnh của một vị thần linh sẽ dễ dàng và nhanh hơn; nhưng ở đây, phương pháp này chỉ yêu cầu thiền sinh theo dõi hơi thở, đúng như bản chất tự nhiên của nó, không có qui định nào cho hơi thở; không thể sử dụng thần chú hoặc phương thức tưởng tượng hình ảnh nào đó trong phương pháp hành trì này.
Mục đích tối hậu của phương pháp thiền này không phải là sự định tâm. Sự định tâm chỉ là một yếu tố hỗ trợ, một bước nối dẫn đến mục đích cao hơn:
Đó là sự thanh lọc tâm, loại trừ mọi cấu uế của tâm, mọi bất thiện trong tâm, và giải thoát ra khỏi mọi khổ đau, thành tựu sự giác ngộ viên mãn.
Có hai vấn đề liên quan đến phương pháp tu tập. Vấn đề thứ nhất là ta đang phá vỡ chướng ngại vật giữa ý thức và vô thức. Thông thường, ý thức không biết những gì mà tâm vô thức đã kinh nghiệm. Do sự cản trở này, những phản ứng luôn xảy ra ở vô thức; khi những phản ứng này đạt đến mức độ nhận thức, chúng trở nên quá mạnh và có thể dễ dàng áp đảo tâm thức. Qua phương pháp tu tập này, tất cả những chức năng của tâm thức trở nên nhạy bén, tỉnh giác; nhờ đó vô minh sẽ được đoạn trừ. Vấn đề thứ hai là tâm xả ly. Chúng ta tỉnh thức với tất cả những gì chúng ta kinh nghiệm trong mỗi cảm thọ, nhưng đừng phản ứng lại, đừng tạo thêm tham ái hoặc sân giận, đừng làm khổ chính mình. Khi bắt đầu ngồi thiền, hầu như ta thường phản ứng lại những cảm thọ, nhưng sẽ có một vài khoảnh khắc nào đó ta ở trong trạng thái tâm xả ly, mặc dầu ta cảm nhận đang rất đau. Những khoảnh khắc này có năng lực rất mạnh trong việc chuyển đổi những thói quen trong tâm. Dần dần bản thân sẽ đạt đến trạng thái có thể mỉm cười với bất cứ cảm thọ nào, nhận biết nó là vô thường (anicca), chắc chắn nó sẽ trôi qua. Để đạt được trạng thái này, chính ta phải thực hành; không ai có thể tu tập thế cho ta được.
– Hướng đến lãnh vực trí tuệ (panna) trong đời sống
Trong Phật giáo Nguyên thuỷ, các chi phần thuộc Bát chánh đạo không nằm ngoài ba yếu tố Giới, Định và Tuệ; đây cũng là yếu lĩnh trong sự tu đạo của Phật giáo. Vấn đề tam học: Giới, Định, Tuệ đều nhắm đến một sự thực tri kiến và bát nhã, tức là trí bát nhã. Do đó, trong Phật giáo Nguyên Thuỷ nếu rời xa Thiền định thì tất cả chỉ còn là một loại lý luận suông; và theo đó, việc rời xa Thiền sẽ không có Tuệ, và đồng thời cũng không có Giới.
Trong Bát chánh đạo, hai chi phần Trí tuệ được đề cập đến như sau:
– Samma-samkappa nghĩa là Chánh Tư Duy: Toàn bộ tiến trình tư tưởng không cần thiết phải được chấm dứt trước khi trí tuệ phát sinh, tư tưởng vẫn còn tồn tại, chỉ có hình thức tư duy thay đổi mà thôi. Nhờ thực tập chánh niệm hơi thở, những cấu uế thô của tâm thức bắt đầu tiêu trừ. Thay thế những tư tưởng tham lam, sân giận và si mê chúng ta có những tư tưởng lành mạnh, những tư duy về chánh pháp, con đường để chúng ta tự giải thoát.
– Samma-ditthi nghĩa là Chánh Kiến: Đây là trí tuệ chân chánh, sự hiểu biết thực tại như nó đang hiện hữu, chứ không phải thực tại dường như sẽ là.
Lại nữa, tiến trình tu tập trí tuệ trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một là suta-maya panna nghĩa là Văn tuệ, trí tuệ đạt được qua nghe hoặc tiếp thu những kiến thức của người khác. Trí tuệ do được truyền đạt này giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc xác định phương hướng tu tập đúng đắn. Tuy nhiên, bản thân trí tuệ này không thể mang lại giải thoát vì nó chỉ là trí tuệ vay mượn. Chúng ta nên chuyển vai trò của trí tuệ nhờ được truyền đạt sang giai đoạn kế tiếp: Cinta-maya panna nghĩa là Tư tuệ. Về lý trí, chúng ta kiểm tra những gì chúng ta đã nghe hoặc đọc để xem chúng có logic, thực tế, ích lợi hay không; nếu đúng như vậy, chúng ta mới chấp nhận. Tư tuệ cũng rất quan trọng, nhưng cũng rất nguy hiểm nếu chúng ta quá xem trọng nó. Một số người đạt được một số kiến thức nhờ khả năng tư duy, và vì vậy anh ta tự cho mình là một người uyên bác. Tất cả những gì anh ta học được chỉ nhằm mục đích nâng cao tự ngã; anh ta càng xa lìa giải thoát.
Vai trò đúng nghĩa của Tư tuệ là để dẫn đến giai đoạn kế tiếp: Bhavana-maya panna nghĩa là Tu tuệ, chúng ta đạt được trí tuệ này là do kinh nghiệm tu tập. Đây mới là Chân Trí Tuệ. Văn tuệ và Tư tuệ rất có ích nếu chúng tạo ra nguồn cảm hứng cũng như dẫn đến giai đoạn Tu tuệ. Tuy nhiên, chỉ có trí tuệ tự chứng mới có thể giải thoát, vì đây là trí tuệ của chính chúng ta, trí tuệ được phát sinh từ kinh nghiệm của chúng ta. Phương cách duy nhất để phá vỡ ảo giác là hiểu biết và khám phá tự thân, và thể nghiệm thực tại của thân và tâm.
c. Phạm vi ứng dụng Vipassana dưới nhãn quan thần học Kitô giáo
Trước khi đưa ra nhận định về phạm vi ứng dụng của pháp thiền này trong đời sống cầu nguyện Kitô giáo, chúng ta cũng nên biết rằng Vipassana có thể được giảng dạy và thực hành theo hai hướng khác nhau. Một mặt có thể xem như đây là kỹ thuật trị liệu tâm lý hết sức hiệu quả (therapeutic technique). Phương pháp trị liệu này thuần tuý dựa trên chính bản thân người thực hành. Về mặt này, yếu tố tôn giáo không phải là vấn đề cần quan tâm. Bất kỳ ai cũng có thể là người thực hành và sử dụng Vipassana như một liệu pháp tâm lý. Mặt khác, Vipassana cốt yếu dành cho việc tu tập của các tu sĩ Phật giáo. Giai đoạn cảm thấy an lạc, hoàn toàn làm chủ nội tâm của mình, nhận biết việc đến và đi của tất cả những cảm thọ, xúc giác, tử tưởng, các pháp… chỉ là bước khởi đầu cho một tiến trình dài đưa đến việc chứng ngộ (enlightment). Nói khác đi, sự giải thoát tối hậu là Nibbana chứ không phải việc chữa trị tâm lý. Đây chính là nhãn quan đậm nét Phật giáo trong vấn đề cứu độ luận23Kevin Duffy, “Eastern Meditation Techniques and Christian Spirituality: The Example of Vipassa” in Australian eJournal of Theology, vol 12, No 1, (2008), at http://aejt.com.au/2008/issue_12.
Tuy nhiên, có lẽ điều chúng ta quan tâm và cũng là phạm vi được ứng dụng rộng rãi hiện nay của pháp thiền Vipassana ở phương Tây chính là khía cạnh trị liệu của nó. Paul R. Fleischman trong các nghiên cứu của mình đã triển khai yêu tố tích cực qua việc trị liệu từ pháp thiền này. Fleischman nói rằng: “Tôi ngồi để tìm thấy tự do trong tâm trí tôi”24Paul R. Fleischman, Karma and Chaos: New and Collecteds Essays on Vipassana Meditation (Onalaska, WA: Vipassana Research Publications, 1999), 23-24.. Và ông nhận thấy Vipassana nghiêng về “tâm lý tôn giáo” (religious psychology) hơn là một tôn giáo theo nghĩa của từ này (religion)25Ibid., 13.. Chính ông cũng cho rằng chúng ta có thể tìm thấy ở đây một chiều kích chiêm niệm. Thật vậy, việc trị liệu của pháp thiền này là một tiến trình metanoia chứ không thuần tuý là việc trấn an hay tạm quên đi những rắc rối trong hiện tại. Đó là một bài tập của sự tỉnh thức. Việc tập trung khởi đi từ thân thể là một lời nhắc nhở cho thói quen xấu ăn sâu vào tâm thức chúng ta: chúng ta thường đánh mất chính bản thân mình và nghĩ rằng một ai khác hay cái gì khác ngoài ta mới là ta! Rohlheiser xem đây là sự thiếu hụt cho đời sống chiêm niệm Tây phương26Ronald Rolheiser, The Shattered Lantern: Rediscovering a Felt Presence of God (New York: Crosscroad, 2001) at http://www.ronrolheiser. com/books/. Tác giả đề nghị rằng quay lại sống một đời sống đức tin phong phú không phải là việc tìm ra các đáp án đúng nhưng là chọn lựa một cách sống. Sự hiện diện của Thiên Chúa tựa như không khí chúng ta hít thở. Hãy thở và không cần chứng minh. Điều cần làm là nuôi dưỡng tốt những là phổi để hấp thụ dưỡng khí ấy. Rolheiser đã mang lại một ánh sáng mới cho đời sống chiêm niệm Kitô giáo Tây phương..
Đối với Mello, ngay cả việc quán sát thân thể này cũng có thể được gọi là một hình thức cầu nguyện: “Khi tôi thực hành việc ý thức về các cảm giác đến từ thân thể hay việc hít thở của tôi, có thể nói rằng tôi đang thưa chuyện với Chúa được không? Câu trả lời là có đấy”27Anthony de Mello, Sadhana: A Way to God (Anand: Gujarat Sahitya Prakash, 1985), 25.. Ngài cho rằng việc tập trung vào các cảm giác thân thể này cũng giống như hình thức cầu nguyện với một mantra, giúp hạn chế những tư tưởng lan man và bị mắc kẹt bởi các ý niệm. Đồng thời, hình thức cầu nguyện mantra này vốn đã có một vị thế rõ ràng trong truyền thống Kitô giáo nên khả dĩ, Vipassana cũng có thể tìm thấy cho mình một chỗ đứng nào đó trong việc cầu nguyện này. Josef Sudbrack dường như cũng ủng hộ điều ấy và tin rằng với một Kitô hữu luôn xác tín về niềm tin của mình thì việc tập trung tâm trí này là một lợi điểm trên con đường tâm linh đưa họ đến với Thiên Chúa:
Với ai sống trong một truyền thống tôn giáo, phương pháp chiêm niệm này sẽ giúp họ đào sâu nhận thức về Thiên Chúa và sự chủ động của bản thân. Nếu một Kitô hữu thực hành những bài tập này trong bối cảnh và niềm tin Kitô giáo, họ có thể kiện cường thêm niềm xác tín của mình và hiểu được Thiên Chúa không là gì (apophatic), một kinh nghiệm mầu nhiệm về Thiên Chúa. Họ đánh thức ý thức bị phá vỡ bởi những thắt nghẹt trong cuộc sống hằng ngày. Bởi thế huyền bí Kitô giáo cho thấy rằng sự tỉnh thức như là vương đạo dẫn đến Thiên Chúa28J. Sudbrack, “Finding God in All Things” in The Way Supplement, 103 (2002), 87-99, cf. p.93..
Tuy vậy, phải chăng cách nhìn này có phần quá lạc quan trong việc đồng hoá giữa hai truyền thống chiêm niệm? Phải chăng việc chiêm niệm hay cảm nhận được chiều kích “apophatic” không chỉ có trong thực hành tôn giáo mà cả trong cuộc sống hằng ngày: một người câu cá kiên trì, trầm tư nhìn vào mặt nước và chờ đợi; một tài xế lái xe đường dài cảm nhận được sự yên lặng trên hành trình của anh hơn là nghe những “tiếng ồn ào” từ radio; một người nông dân ngắm nhìn cánh đồng mênh mông mỗi chiều về trong thinh lặng khi ánh mặt trời dần buông? Mặt khác, đối với những người có đức tin yếu hoặc đời sống tâm linh chưa đủ mạnh thì việc thực hành chiêm niệm này phải chăng là một nguy cơ đánh mất ý nghĩa đời sống cầu nguyện? Rõ ràng, ngoài yếu tố trị liệu, Vipassana cần được xem xét hơn nữa dưới cái nhìn thần học Kitô giáo để có được sự hiểu biết và áp dụng quân bình phương pháp này trong thực tế.
– Một số điểm thần học cần lưu ý
Trước hết, sự hiện diện của Thiên Chúa là tiền đề đầu tiên cho đời sống cầu nguyện Kitô giáo. Chúng ta không chối cãi những lợi điểm từ các phương pháp chiêm niệm tự nhiên và rất cụ thể trong cuộc sống con người. Việc đụng chạm đến tất cả những gì về tinh thần và thể chất với một ý hướng cao thượng đều là một cách thế làm triển nở nhân tính và chiều sâu tâm linh con người. Tuy nhiên, nguy cơ ẩn tàng trong đó rất có thể là sự giản lược hiện hữu của Thiên Chúa thành một trong các chiều kích nhân loại. Điều này hàm ý rằng Thiên Chúa không phải là Đấng để ta tìm kiếm, Người chỉ có đó khi chúng ta còn ở trong sự lầm lạc, Người sẽ tan biến như một khái niệm khi ta hiểu thế nào là “tỉnh thức”.
Kế đến, cách hiểu về bản ngã trong hai truyền thống là khác nhau như chúng ta cũng đã trình bày trên đây. Về điểm này, phương pháp của Thiền Tông hay Nguyên Thuỷ đều cốt đưa đến sự chứng ngộ về tính vô ngã của vạn pháp và hẳn là nếu chỉ dừng lại ở nghĩa mặt chữ của thuật ngữ, chúng ta có nguy cơ rơi vào cuộc tranh luận giáo thuyết không lối thoát. Tuy nhiên, với các Kitô hữu thực hành việc chiêm niệm, họ cần xác tín rằng, việc gặp gỡ Thiên Chúa giúp họ nhận biết họ là ai cách rõ ràng nhất29Martin S. Laird, Into the Silent Land: A Guide to the Christian Practice of Contemplation (Oxford: Oxford University Press, 2006), 16-17..
Vấn đề thứ ba ở đây liên quan đến thực tại tối hậu trong đời sống đức tin Kitô hữu. Thật ra, nếu trong chừng mực pháp thiền Vipassana được áp dụng như là liệu pháp chữa trị thì cứu cánh không trở thành vấn đề phải được bàn luận. Bằng ngược lại, một Kitô hữu cần cảm nghiệm được rằng hiện hữu của họ hoàn toàn vô nghĩa nếu nó không gắn liền với hiện hữu của Thiên Chúa và cuộc sống của họ là một hành trình hướng đích với Đức Kitô là Đường, Sự Thật và Sự Sống.
Cuối cùng, chúng ta cũng không thể tránh né phải trả lời câu hỏi: Tôi tự cứu mình hay Chúa cứu tôi? Nói cách khác, vấn đề cứu thế luận được nhìn trong viễn cảnh tự lực hay tha lực? Ra như phương pháp Vipassana cho thấy nỗ lực bản thân là yếu tố quyết định chính yếu cho sự thành toàn trên đường giác ngộ. Trên bình diện tâm lý học, Vipassana cho thấy sức mạnh của nó trong việc phá vỡ các tầng vô thức để chúng ta được đối diện với chính mình trong sự tỉnh thức tràn đầy. Pháp thiền này tin rằng một khi đã bóc tách tất cả những lớp che đậy tinh vi trong tầng sâu vô thức, con người hiểu mình là ai, nó sẽ thấy thế nào là sự thật của tất cả các pháp: các pháp đều vô thường, khổ và vô ngã. Tuy vậy, trong đức tin Kitô giáo, điều quan trọng chúng ta được biết không hệ tại ở kết quả thu lượm được tức là đạt đến giác ngộ hay được chiếu sáng, nhưng là tin trong mỗi nỗ lực bản thân có ơn Chúa trợ giúp. Đây chính là hoạt động của ân sủng nơi người tín hữu. Nhãn quan nhân học Kitô giáo cho rằng con người đã được tạo dựng trong ân sủng và nhờ đó con người có khả năng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa đến thông phần hạnh phúc với Người.