II – GIA ĐÌNH THEO TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM
Phạm Côn Sơn để cả đời nghiên cứu và giảng dạy về Văn Hóa Việt Nam cho rằng gia đình Việt Nam là một tổ hợp lớn, luôn phát triển không chỉ bao gồm vợ chồng con cái như kiểu Tây phương, nhưng gia đình còn có ông bà, cháu, chắt, chút chít nữa.[8] Phạm Côn Sơn đã trích dẫn nhận định của giáo sư Vũ Ngọc Khánh trong tác phẩm của mình: “Gia đình, theo nghĩa Việt Nam phải được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Về nghĩa rộng, gia đình có liên quan đến cả gia tộc, đến những người thân cùng huyết thống. Cả dân tộc là một đại gia đình vì từ nguồn gốc đều cùng một mẹ mà ra. Mẹ và cha khác giống nhau, ở xa nhau, nhưng đã thống nhất lại để thành gia đình… Gia đình, gia tộc đều có chung một tinh thần, một ý nghĩa, không hiểu điều đó để tách bạch gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng, là không tìm tới gốc… Còn nghĩa hẹp, tức là xét đến gia đình hạt nhân trong truyền thống Việt Nam. Tôi thấy hình như có khá nhiều chi tiết mà gia đình truyền thống của ta khác với cách quan niệm của những gia đình hạt nhân ngày nay… Cách xây dựng gia đình hạt nhân trong truyền thống Việt Nam xưa, nhấn mạnh tới vai trò bố mẹ.” [9]
Từ lâu truyền thống Việt Nam đã dành cho gia đình một chỗ đứng quan trọng không chỉ trong công việc xây dựng xã hội quốc gia, mà cả trong việc đào tạo con người nữa. Truyền thống văn hóa Việt Nam coi gia đình là con đường phải qua nếu các cá nhân muốn thành đạt và được kính trọng ngoài xã hội. Tư tưởng này đã ăn sâu trong quan niệm thăng tiến xã hôi của con người Việt Nam: muốn ổn định thiên hạ thì phải có khả năng trị quốc; muốn trị được quốc điều trước tiên là phải tề gia.[10] Phần quan trọng nhất trong văn hóa làm người Việt Nam là phải tuân thủ gia đạo. Đạo là con đường dẫn từ khởi điểm tới đích điểm. Gia đạo chính là những nguyên tắc cơ bản và ổn định, những bổn phận phải làm và những điều phải tránh trong sinh hoạt gia đình. Đây chính là cái khung tiêu chuẩn của đạo lý con người. Những điều nầy được chỉ dạy cho mọi thành viên trong gia đình. Khi mọi người một mực trung thành tuân giữ, người ta gọi là người có gia giáo. Một cách đơn giản, gia giáo là sự chỉ dạy cách ăn nết ở trong gia đình, ngoài xã hội, nơi làng nước. Thường những lời chỉ dạy nầy xuất phát từ kinh nghiệm sống của người trước về cách cư xử, phép tắc, thói tục; các kinh nghiệm này đã được xã hội hóa. Người lớn trong gia đình đóng vai trò làm gương sáng, chỉ dạy cho trẻ nhỏ. Một gia đình có gia giáo là gia đình có nề nếp, tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới.[11]
Xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo của Trung Hoa, nên gia đình Việt Nam truyền thống cũng ảnh hưởng “lễ” của Nho giáo. Lễ (một trong năm đức tính giữ gia đình, quốc gia an khang bình trị) có ảnh hưởng tới đối nhân xử thế, tới những mối quan hệ, giao dịch. Mỗi người sống trong xã hội ít nhiều gì cũng phải tuân theo những quy ước, những tục lệ của xã hội ấy trong việc giao tiếp liên hệ với mọi người chung quanh, từ thân đến sơ, từ ông bà cha mẹ đến bạn bè con cháu. Dân tộc ta từ xưa đến nay vẫn tôn trọng lễ giáo. Xin đừng hiểu “lễ” là những tập tục ràng buộc của gia tộc, cũng đừng hiểu rằng “lễ” là những lễ nghi xưa cũ, càng không phải là lễ nghi của Tàu. Phạm Côn Sơn cắt nghĩa: “Lễ là tình trạng kiến văn của một hành vi quan trọng trong mọi xã hội, mọi tư tưởng tiến bộ đã có từ khi con người được khai hóa.” Học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần nhận định: “Lễ, theo Á đông, chẳng những có ý nghĩa là tự trị, tự chủ, mà cũng có nghĩa là nhân nữa. Nói tắt một lời, thì:“tất cả thuật xử thế của người Á đông, đều ở trong một chữ lễ.” [12]
[8] Phạm Côn Sơn, Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002, 364.
[9] Phạm Côn Sơn, Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002, 367. 10 Ibid.
[10] Ibid. 376.
[11] Ibid. 368.
[12] Phạm Côn Sơn, Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002, 373.