III – BẢN SẮC GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Để có một cái nhìn tương đối chính xác và tổng quát, chúng ta nhìn vào các yếu tố ảnh hưởng của Nho giáo trên gia đình Việt Nam.[13] Sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, với ý đồ đồng hóa người Việt Nam như là một bộ phận, Trung Hoa luôn tìm mọi cách để tẩy não di sản Bách Việt từ trong cơ cấu xã hội đến nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt Nam. Hệ thống giáo dục con người và xã hội của Nho giáo là một phương tiện để thực hiện cho ý đồ nầy.[14] Thậm chí có nơi và có thời hệ thống giáo dục Nho giáo đã trở thành mực thước, tiêu chuẩn và lối sống của người Việt, từ thượng từng cơ sở tới sinh hoạt cơ bản của người dân, từ ngoài xã hội đến trong tình cảm gia đình. Quan niệm xã hội trọng nam, khinh nữ (nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô), quan niệm nhất vua, nhì thầy, thứ ba mới tới cha mẹ (quân, sư, phụ), tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức, đã hun đúc nên nề nếp và gia phong, gia đạo của người Việt Nam.[15] Một cách khái quát, dưới ba góc độ: đời sống nông nghiệp, hệ thống luân lý và quan điểm nhân văn, chúng ta có thể nhận ra các yếu tố nho giáo ảnh hưởng đến bản sắc gia đình Việt nam như thế nào.

– Dưới góc độ kinh tế, hơn 80% Người Việt Nam gắn liền và chọn nông nghiệp làm kinh tế chủ yếu. Đời sống của họ có lo toan bận bịu với ngày mùa nhưng cũng thanh thản để tổ chức hội hè, đình đám, và lễ nhạc. Tất cả nhịp sống người Việt xoay quanh những biểu tượng thôn trang, làng xã, lũy tre làng, cái đình, gốc đa, bờ chuối. Quan niệm gia đình đông con là phúc đức của ông bà, cũng đã xuất phát từ thực tiễn của cuộc sống nông nghiệp. Sinh con là để có người lo việc đồng áng, và lập gia đình để có người phụ giúp nông trang.

– Hệ thống luân lý Nho giáo đã ăn sâu và trở thành chuẩn mức của các cách cư xử giữa người với người. Nhân, Giáo và Đạo đó là một loạt giá trị đạo đức theo tiêu chuẩn Nho giáo. Người ta không theo chuẩn mức đó sẽ bị khinh bỉ, không đạo đức, bất nhân, và vô giáo. Nền luân lý gia đình và xã hội Việt Nam đặt nặng trên tình tương thân tương trợ, trên trật tự chung, trên quyền lợi gia đình và tập thể, trên khế ước và giao kèo, trên hy sinh, hiếu hòa và lấy gia đình làm quan trọng nhất. Những mẫu số chung giá trị của truyền thống văn hóa Việt Nam ấy đã va chạm không ít với môi trường mới, lối sống và cấu trúc thành thị mới trong thời cận và hiện đại; trong đó, hệ thống gía trị đặt nền tảng trên bình đẳng, tinh thần dân chủ, tự do cá nhân, luật lệ, thụ hưởng, cá nhân là quan trọng.[16]

– Xã hội Việt Nam nhìn nhận gia đình là một thực thể nền tảng của xã hội. Tinh thần Nho giáo với tư tưởng, học thuật, nếp sống, phong tục đã chi phối và trở thành nền tảng cho việc xây dựng xã hội, quốc gia Việt Nam. Xã hội là một đại gia đình, trong đó vua là thiên tử, và có sứ mạng truyền mệnh trời xuống cho toàn dân. Vua coi dân như con đẻ, và cai trị dân bằng Nhân và Đức. Xã hội Việt Nam được chi phối bởi nhân trị thay cho pháp trị. Mỗi người, mỗi giai cấp sống đúng với Danh của mình.[17]

– Tinh thần Việt Nam ảnh hưởng bởi Nho giáo thật khác xa với tinh thần xã hội Âu Mỹ. Nơi đây, chữ hiếu, chữ trung, không còn là đạo đức và tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá một con người. Tình cảm và hạnh phúc con người trong xã hội mới là căn bản; nam nữ bình đẳng trước pháp luật. Xã hội có luật pháp chi phối mọi thành phần và mọi ứng xử, bảo đảm quyền lợi đồng đều, ngay cả quyền được ly hôn và quyền của cha mẹ cũng bị giới hạn[18].


[13] Lê Ý Thu, Cuộc Sống Gia Đình, nxb Phụ Nữ, Hà Nội, 2000, trang 8-18
[14] Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, nxb TPHCM, 1996, 98.
[15] Ibid., 527.
[16] Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ, Tình Yêu Gia Đình và Hội Nhập, Định Hướng Tùng Thư 2000, 69.
[17] Ibid., 72.
[18] Ibid. 73.