IV – CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Sự hình thành gia đình là căn bản trong tiến trình tiến hóa xã hội. Chế độ mẫu hệ được nhận thức từ trong chế độ công xã thị tộc và là bước phát triển khi con người bước ra khỏi cuộc sống quần hôn, mối liên hệ trai gái chưa quan niệm được là vợ chồng, và con cái chỉ biết có mẹ.[19]  Ý niệm gia đình được sáng rõ hơn khi con người ý thức được mối tương quan vợ chồng, con cái. Trong xã hội mà gia đình chưa đòi hỏi phải tích lũy nhiều tài sản, cuộc mưu sinh chủ yếu cấy cầy và gặt hái. Đây là công việc thường xuyên người phụ nữ đóng vai trò chủ động bên cạnh sinh sản và chăm sóc nuôi dưỡng con cái. Gia đình Trung Hoa theo chế độ phụ hệ từ thời nhà Hán (hai ngàn năm trước Tây lịch) và truyền sang Việt Nam từ thời Bắc thuộc lần thứ hai, khoảng 1000 năm trước Tây lịch.[20] Dĩ nhiên đây không phải là tiến trình tự nhiên mà là do bởi áp lực chính trị và xã hội của Trung Hoa áp đặt. Ngay trong áp lực nầy, xã hội Việt Nam cũng không hoàn toàn nhắm mắt đưa chân. Các gia đình Việt Nam vẫn dành cho người mẹ, người vợ một lòng trân trọng đáng kể. Nói chung, gia đình trên phương diện xã hội bao gồm một số các chức năng căn bản. Theo giáo sư Phạm Hồng Lam, đó là:

– Chức năng truyền sinh: gia đình là định chế duy nhất trong đó sự liên hệ tình dục được xã hội chấp nhận để lưu truyền sự sống, tiếp nối dòng tộc.

– Chức năng giáo dục: gia đình là môi trường chính yếu và đầu đời trong việc giáo dục con cái và giúp chúng học tập các vai trò sau nầy.

– Chức năng phân phối lao động và chăm lo kinh tế: phân công lao động để nuôi sống mọi thành viên, chăm sóc cuộc sống vật chất.

– Chức năng tôn giáo: đặc biệt trong các xã hội theo tôn giáo truyền thống, thờ ông bà tổ tiên, gia đình là nơi tồn trữ và truyền bá niềm tin và việc thờ tự.”[21]Ngoài ra người ta còn đề cập tới chức năng điều hòa tình cảm và giải trí của gia đình. Các chức năng cổ điển của định chế gia đình là phổ quát và quyết định trong xã hội cổ xưa lấy nông nghiệp làm căn bản.

Theo Lê Ý Thu trong tác phẩm Cuộc Sống Gia Đình được biên soạn theo tác phẩm Familyhood của nhà xuất bản Simons Shuster, 1992, thì ẩn chứa sau những ngôn từ khô khan biểu hiện các chức năng gia đình, người ta nhận ra được ý nghĩa gắn kết, chăm lo và dậy dỗ. Những ý nghĩa sau đây luôn đi liền với tình cảm và giá trị của gia đình ở mọi thời đại và mọi nơi.

– Sự gắn kết: đòi buộc vợ chồng yêu thương, chung lưng đấu cật để mang lại phúc lợi lâu dài cho mọi thành viên.

– Sự chăm lo: diễn đạt qua những từ ngữ chia sẻ, nuôi dưỡng, quan tâm mà ai cũng thừa nhận và thường hiểu chỉ có trong gia đình.

– Sự dạy dỗ những giá trị: là chức năng gắn bó mật thiết với đời sống gia đình, vì gia đình là nơi duy nhất hầu hết các giá trị cơ bản được thấm nhuần và truyền đạt.”[22]


[19] Ibid.
[20] Lm Nguyễn Thái Hợp, Một Nửa Hành Trình, nxb Chân Lý, 1997, 55.
[21] Tình Yêu, Gia Đình và Hội Nhập, Định Hướng Tùng Thư xuất bản, 2002, 57.
[22] Cuộc Sống Gia Đình, NXB Phụ Nữ, 1999, 40.