V – HỘI NHẬP
“Xã hội Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang chuyển mình một cách mạnh mẽ với những thay đổi tích cực nhưng cũng với những mất mát to lớn, trong đó đáng kể nhất là những gía trị cơ bản liên quan đến sự bền vững của hôn nhân – gia đình và tình liên đới giữ các thành viên.”[23]
Làn sóng di dân, tình trạng dô thị hóa, xu hướng toàn cầu hóa, đã thúc đẩy hàng triệu người Việt nam chuyển mình và ra đi để mưu sinh và tồn tại. Thực trạng nầy không thể đảo ngược; do đó, các gia đình Việt Nam phải đối diện với những thách đố hội nhập vào một văn hóa mới, một lối sống mới với những ứng xử khác biệt, nhiều khi thật xa lạ với những gì mà họ đã được hấp thụ từ trong truyền thống. Thực trạng xuất hiện những biến dạng về gia đình và Tình yêu – hôn nhân, như ly dị, sống chung, sống thử, tự do luyến ái… đã là những buồn thảm luôn ám ảnh. Người ta luôn tự nhắc nhở với nhau cần phải hôi nhập để tồn tại. Nhưng hiểu và sống thế nào cho đúng với hội nhập?
Hội nhập (integration) khác xa với đồng hóa (assimilation). Đồng hóa là hòa tan, biến mất căn tính của mình trong khi hội nhập là một tiến trình thâu hóa, chọn lọc. Phạm Hồng Lam đã định nghĩa đồng hóa là sự tan biến của một thiểu số vào trong đa số. Hội nhập cũng không hẳn là thích ứng, vì thích ứng là sự điều tiết một chiều của một yếu tố vào một toàn thể. Hội nhập là một tiến trình thâu hóa hai chiều có ý thức, trong đó đa số chấp nhận thiểu số với cái cá biệt của họ và ngược lại, thiểu số chấp nhận quy luật của đa số nhưng đồng thời vẫn không để mình bị biến mất trong cái đa số ấy. Một hội nhập văn hóa thành công là khi văn hóa thiểu số sẵn sàng hòa mình vào văn hóa đa số, chấp nhận thâu hóa những cái đáng theo của người mà vẫn giữ được cái độc đáo của mình.[24]
Giữ gìn bản sắc dân tộc là một đòi hỏi thiết yếu để gia đình Việt nam không bị tan biến.Văn hóa là đặc trưng của xã hội loài người, luôn mang dấu vết của con người. Văn hóa truyền thống Việt Nam xây dựng trên cơ sở nông nghiệp, thì cũng đã định hình nên con người Việt Nam. Người Việt gắn bó mật thiết với thiên nhiên và vũ trụ, sống hiền hòa, tình cảm, mềm dẻo, kín đáo, tinh tế, linh hoạt. Quy tắc xử sự của Việt Nam ngày xưa là luật và lệ (luật vua thua lệ làng), nhờ khuynh hướng hiền hòa, nhu mì, mà tính cứng ngắc của luật pháp được làm mềm đi. Tinh thần tương thân tương trợ đã hình thành và chi phối mối tương quan mật thiết trong gia đình, làng xã, và xã hội. Sự liên kết chặt chẽ cũng phát xuất từ môi trường thiên nhiên vốn dĩ hay gây lụt lội, bão táp. Yếu tố gia tộc có một sức mạnh đoàn kết, yêu thương, đùm bọc nhau. Có lẽ trong ngôn ngữ loài người không có quốc gia nào có đủ ngôn ngữ để chỉ gia tộc lên tới chín đời (thế hệ): kị, cụ, ông, cha, tôi, con, cháu, chắt, chít. Hệ thống gia tộc như vậy cho phép người ta đùm bọc, yêu thương, dù có sa cơ thất thế, bất hạnh thế nào, người ta cũng không bơ vơ côi cút.[25] Sự nâng đỡ thương yêu đùm bọc không chỉ ở mặt vật chất mà cà mặt tinh thần nữa. Vì thế chữ Hiếu được coi như chất keo sơn gắn bó các thành viên gia tộc, gia đình; bất hiếu luôn được coi là trọng tội. Hệ thống tổ chức gia tộc, gia đình, tâm tình yêu thương đùm bọc, kính trên nhường dưới; gia đình ổn định hài hòa là những nét nổi bật và căn bản của văn hóa Việt Nam.[26]
Gìn giữ bản sắc văn hóa gia đình là nhiệm vụ hàng đầu và cần thiết đối với các gia đình Việt Nam.[27] Mô hình nầy đã được phát huy và thành công ở nhiều cộng đồng người Việt. Nhờ đó, họ đã đùm bọc nhau không chỉ vượt qua được giai đoạn đầu nhập cư ở xứ lạ, mà còn giúp nhau thăng tiến trong cuộc sống ở những môi trường xã hội mới lạ. Thật là may mắn, các giá trị đạo đức, các tập tục truyền thống tốt đẹp của gia đìnhViệt, người Việt vẫn còn tiếp tục và trân trọng trong các thế hệ con cháu ta ngày nay.[28] Nhưng cũng thật tiếc, một số không ít gia đình trong xu thế thời đại mới, đã không cho thấy được những nét đáng yêu và những giá trị đáng bảo tồn trong văn hóa Việt Nam. Xã hội càng ngày càng có cái nhìn rộng rãi và bao dung hơn về mặt văn hóa. Nhiều truyền thống văn hóa sống chung trong hài hòa muôn vẻ thì vẫn tuyệt vời hơn là mỗi người một cách sống đóng kín. Vì vậy, trong những biến chuyển gay gắt của xã hội ngày nay, nhiệm vụ giáo dục của cha mẹ đối với con cái là làm sao để sau này đứa trẻ lớn lên, chúng có dịp so sánh phân tích các nền văn hóa, chúng không than trách, oán hận là cha mẹ chúng đã không dạy gì cho chúng về truyền thống văn hóa Việt Nam.