VI – PHÁT HUY NHỮNG YẾU TỐ TÍCH CỰC TRONG TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Trong tác phẩm Gia Đình Trên Hết, tiến sĩ Phil McGraw, tác giả của những cuốn sách về gia đình bán chạy nhất của New York Times, đã ngỏ lời với các bậc cha mẹ: “Tôi muốn nói với bạn về chuyện gia đình. Tôi biết và cảm nhận rằng là cha mẹ, các bạn và tôi cùng chia sẻ những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu. Cũng như bạn, tôi yêu gia đình tôi hơn bất cứ thứ gì trên thế giới này, và tôi muốn tất cả chúng ta được an toàn… Những người theo thuyết khổ hạnh sẽ bảo rằng trong xã hội có nhịp sống gấp gáp như thế nầy, gia đình đã trở nên lỗi thời, rằng gia đình đã trở nên một khái niệm lạc lõng, và bị chôn vùi trong một thế giới bận rộn. Tôi ở đây để nói với các bạn biết rằng điều đó không đúng, thậm chí không còn quan trọng hơn trước kia, và sự xói mòn của gia đình không thể chấp nhận được. Đây là một cuộc tranh đấu mà chúng ta sẽ thắng nếu chúng ta thực hiện bổn phận của mình và hòa hợp” [29] Theo Phạm Côn Sơn, trong quá trình hội nhập vào xã hội mới, trong thời đại mới, các gia đình Việt Nam đang khi du nhập một số các yếu tố tích cực nhằm thăng tiến gia đình và cá nhân, họ còn giữ được nhiều yếu tố tích cực của truyền thống Việt Nam. Chỉ có những rác rến và loại cây rong rêu bị cuốn trôi đi trong dòng chảy cuộc đời.[30]
1. – Gia Đình Là Nền Tảng: Gia tộc, Xóm làng, Quốc gia
Gia tộc: Trong nếp sống văn hóa dân tộc, sự tương thân tương trợ giữa mọi người theo tiến trình gia đình, gia tộc, quốc gia, nhân loại. Ý thức gia tộc trong đời sống dân tộc Việt nam thật đậm nét vì nông nghiệp là chính. Một gia đình lẻ tẻ sẽ khó có khả năng đảm đương vụ mùa và đối phó kịp thời với môi trường thiên nhiên. Gia tộc và cộng đồng làng xã là một quần thể gồm các gia đình ruột thịt, họ hàng xa gần nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống và việc làm ăn. Giáo sư Trần Ngọc Thêm nhận xét: “Sức mạnh gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương nhau. Sống trong họ tộc có trách nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất: “sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”; hỗ trợ nhau về trí tuệ tinh thần: “nó lú chú nó khôn”; và dắt dìu nhau, làm chỗ dựa cho nhau về chính trị: “một người làm quan, cả họ được nhờ.” [31] Trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, Đào Duy Anh đã viết: “Gia tộc Việt Nam xưa nay có hai bực, một là nhà hay tiểu gia đình gồm vợ chồng, con cái; hai là đại gia đình gồm chung đàn ông, đàn bà cùng một ông tổ sinh ra; gia tộc phụ hệ ấy thường gọi là họ nội, gồm một chi trưởng và một chi thứ: lấy một người làm gốc, thì ở trên người đó có cha mẹ, trên cha mẹ có ông bà nội gọi là tổ phụ mẫu, trên ông bà có cụ gọi là tông tổ phụ mẫu, trên cụ có kỵ gọi là cao tổ phụ mẫu, rồi đến cao cao tổ… Ở dưới người ấy, thì có con, dưới con thì có cháu hoặc tôn, dưới cháu có chắt hoặc tằng tôn… Từ cao tổ tới niễn tôn là cửu tộc. Đồng hạng với người ấy là anh chị em ruột.” [32]
Nhiều ca dao tục ngữ đã diễn tả đậm nét vai trò và tinh thần dân tộc: chết cả đống, còn hơn sống một mình; Thà ăn bắp hột chà vôi, chẳng thà giàu có mồ côi một mình; Con người có tổ có tông; Như cây có cội như sông có nguồn; Một người làm quan cả họ được nhờ. Mỗi gia đình có bàn thờ ông bà, cha mẹ; trong mỗi giòng tộc có từ đường để thờ kính tổ tiên năm đời. Từ năm đời trở lên thì thờ ở đình làng. Theo sách Thọ Mai Gia Lễ [33] bàn về vấn đề tang chế của những người trong họ hàng, thì ta càng thấy tình họ hàng gia tộc thiêng liêng và thắm thiết. Mỗi dịp ma chay, cưới hỏi, khao vọng, dịp vui, dịp buồn là ta nhận ra tinh thần đoàn kết gắn bó của gia tộc, gia đình.Theo truyền thống, với tôn tri trật tự trong tổ chức gia tộc, vai trò tộc trưởng, gia trưởng giữ một vị thế đặc biệt. Các truyền thống và kiến thức cũng được truyền đạt theo tổ chức nầy. Trong tất cả mọi mối quan hệ gia tộc, đạo hiếu được xem là đức tính cao cả và cơ bản nhất, là keo sơn nối kết mọi người dù sống hay chết.
Xóm làng: Theo Nhất Thanh trong Đất Lề Quê Thói, lịch sử nguồn gốc làng xóm của ta khá rõ rệt. Vua Hùng Vương thứ III có 22 người con, trừ Lang Liên được kế nghiệp vua, cai trị nước, còn lại các em khác được vua cho giữ những phiên trấn, tử thủ núi sông, dựng hàng rào để che chở. Sau nầy các vua kế tiếp phát triển các cơ cấu nầy, và tổ chức quy củ thành làng thành xã. Làng xã (thôn xóm) là đơn vị hành chính cơ sở của quốc gia. Thông thường, làng là nơi tập trung người cùng huyết tộc, họ hàng xa gần, hoặc cùng một ngành nghề tương đồng và nương tựa lẫn nhau. Vì hơn 80% người Việt sống với đồng lúa, nông thôn, nên đại đa số đều xuất thân từ làng xã. Cây đa, bến nước, giếng nước, bờ giậu, lũy tre, tất cả đã đậm nét trong lòng người Việt. Càng sâu đậm hơn, nơi làng xã có mồ mả tổ tiên ông bà, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi có họ hàng thân thích bạn bè. Đi làm ăn xa, cũng mong trở về cố hương.Thành đạt trên quan trường cũng phải trở về làng thôn để vinh quy bái tổ. Khi về già hưu dưỡng cũng muốn quay về làng ở ẩn, an dưỡng tuổi già để rồi chết có làng nước chôn cất bên cạnh mồ mả tổ tiên.Tinh thần làng xã của người Việt vẫn còn tồn tại, không chỉ tại quê nhà mà ngay cả nơi người Việt hải ngoại. Nhiều hội đồng hương đã được thành lập, và nhiều lễ hội được cử hành nhằm bảo vệ và phát huy truyền thống, giúp người Việt gắn bó với dân tộc và quê hương. Nhưng người Việt cũng biết hội nhập vào xã hội mới, để đừng biến thành những ốc đảo xa rời xã hội thực tế. Điều quan trọng hơn là giáo dục văn hóa cho giới trẻ hiểu ý nghĩa tốt đẹp của truyền thống dân tộc.
Công việc đồng áng cầy cấy, gặt hái nặng nhọc và nhiêu khê, không ai một mình, một gia đình có thể cáng đáng mọi việc. Việc đổi công qua lại giữa gia tộc, chòm xóm để phụ giúp nhau làm mùa dần dần dẫn đến thắm thiết tình nghĩa, tình đồng hương, đồng bào từ đó đâm rễ sâu vào tâm hồn Việt. Tinh thần tương trợ, hợp quần gây sức mạnh không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của xã hội vốn lấy nông nghiệp làm căn bản, nhưng còn biết bao nhiêu mối đe dọa khác, nhất là mối đe dọa từ phương Bắc. Nhờ tình đồng bào ruột thịt, nhờ cùng một dòng máu Lạc Hồng tổ tiên, dân tộc Việt đã đoàn kết, hợp quần chống trả để giữ gìn bờ cõi giang sơn.
Quốc gia: Luân lý và văn hóa Việt Nam không đề cao cá nhân, nhưng lấy gia đình làm đơn vị căn bản xã hội, dân tộc. Tiến sĩ Hồng Kim Linh, xét mối tương quan ngôn ngữ giữa tiếng gia (nhà), và quốc (nước) như sau: “Tổ quốc, quốc gia, quốc tổ, đất tổ, quê cha đất tổ gồm có ba chữ chính là quốc, gia và tổ là ba chữ gốc Hán; chữ tổ nhắc đến nguồn gốc tổ tiên xuống đến cha mẹ. Ở đây chữ Mẹ hội tụ nhiều nghĩa hơn cả chữ CHA và TỔ phối hợp lại, nên một mình QUÊ cộng với MẸ đủ để diễn tả ý niệm “quê cha đất tổ.” Còn từ GIA có nghĩa là NHÀ thì cũng đứng đằng sau chữ QUỐC. Rõ ràng, GIA nằm ở vị thế PHỤ cho QUỐC, cũng như NHÀ cho nước nhà. Tuy nhiên, NHÀ và GIA có nội dung nghĩa giống nhau, nhưng có thể trở thành chính đứng trước để tạo nên một nghĩa mới trong danh từ NHÀ NƯỚC, còn GIA thì cứ phải đứng sau trong QUỐC GIA, BANG GIA, nó mãi là từ phụ. GIA là NHÀ có mặt ở đây để chỉ sự quy tụ dưới một mái nhà dân tộc Việt, như một đại gia đình có cùng một mẫu tổ. Hai chữ NHÀ và GIA bổ túc cho nhau trong đó có cha có mẹ, anh em, con cháu. NHÀ nhắm vào một vị trí cộng đồng cùng hưởng và cần phải bảo vệ xây đắp. GIA nhắm vào tình trạng máu mủ ruột thịt. NƯỚC NHÀ nhắm vào biên giới địa phận. Còn QUỐC GIA nhắm vào một thực tế tinh thần, một ý thức khái quát về quyền làm chủ của một dân tộc.”[34] Những giá trị của gia đình truyền thống như phép tắc, gia giáo, lễ nghĩa, nhân ái, bao dung và tâm lý trung dung hài hòa, đã làm cho xã hội ổn định, trật tự và dễ thương hơn. Gia đình là trường dạy cho người ta biết kiềm chế mình, biết khắc phục khó khăn và xung khắc, biết cởi mở và đón nhận trong tình tương thân tương ái và phục vụ lẫn nhau. Xã hội thiếu vắng những giá trị nầy sẽ bị đảo lộn. Gia đình Việt Nam đã và đang duy trì và phát huy những nét đặc thù nầy, bất cứ ở môi trường văn hóa nào.[35]
2 – Gia Đình Thừa Hưởng Phúc Đức Của Trời Đất, Ông Bà, Tổ Tiên:
Người Việt Nam quen với đời sống nông nghiệp, gần gũi với trời đất, thiên nhiên và vạn vật. Ngôi nhà của gia đình Việt Nam nép mình bên dòng suối, bờ sông, dưới gốc đa, tàn lá, được bảo bọc che chở bởi lũy tre xanh, bởi đồng lúa vàng, luôn tìm sự nương tựa vào thiên nhiên, đất trời. Người Việt luôn ý thức trên đầu mình, trong nhà ngoài ngõ, nơi sông núi và ngoài đại dương luôn có những lực lượng thần thiêng chi phối cuộc sống và an sinh của mình. Tình cảm tín ngưỡng nầy đã ăn sâu trong văn hóa gia đình Việt Nam. Các lễ nghi cúng vái thờ thần luôn được thể hiện trong cuộc sống gia đình và làng nước. Tin vào lẽ phải thiêng liêng và đó là lẽ trời luôn thúc giục người ta biết ăn ở ngay lành, làm điều thiện được phúc đức, làm điều ác sẽ bị quả báo trừng phạt.[36] “Ai ơi, chớ ở đầy vơi. Trời cao không phụ lòng người hiếu trung.” Người thành công trong công ăn việc làm, cha mẹ đông con, gia đạo bằng yên hạnh thông đều nhờ lộc trời, ân đất. Quan điểm về phúc đức nầy đã ăn sâu vào tâm hồn Việt Nam: “trời cho thanh cao mới được phần thanh cao.” Nhưng phúc đức cũng có thể do bởi ông bà cha mẹ nữa, “Cây xanh thì lá cũng xanh. Cha mẹ hiền lành để đức cho con.”
Phúc đức của ông bà cha mẹ lưu lại cho con cái được gọi là phúc ấm truyền đời, là phúc tổ. Đào Duy Anh trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương nhìn nhận nhân sinh quan nầy là nét văn hóa trong đời sống gia đình: “Người thì hoặc cho nhân loại tiến bộ vô cùng nên loài người cần phải ra sức phấn đấu, tiến thủ (như người Châu Âu), hoặc cho nhân gian là mộng ảo, huyền ảo, loài người không cần phải hành động làm gì (người Ấn Độ), hoặc cho nhân sinh là chốc lát như bóng sổ, như gang tay, ta nên hành lạc kẻo già (khoái lạc chủ nghĩa). Người Việt Nam có cái kiến giải tầm thường và chắc chắn hơn, chỉ trông cậy vào con cháu để lưu truyền nòi giống và tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên. Người ta đã có quan niệm ấy thì sở dĩ làm điều thiện ở đời, sở dĩ có lúc hy sinh, không phải cốt cầu vinh nhục, cũng không mong giải thoát khỏi vòng luân hồi, mà chỉ cốt lưu chút phúc ấm cho con cháu đời sau. Người có lòng ác cũng không sợ ngày thẩm phán cuối cùng hoặc ở hình phạt địa ngục mà chỉ sợ con cháu bị ác báo mà thôi.” [37] Tóm lại, phúc và đức từ trời, từ ông bà cha mẹ là chất keo sơn đã gắn liền con người Việt vào cuộc sống xã hội, và gắn bó cha mẹ với con cái trong gia đình Việt Nam.[38]
3 – Đạo Hiếu, Mẫu Số Chung Của Gia Đình Truyền Thống Việt Nam:
Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của Nho giáo trọng chữ tình chữ nghĩa, khác xa văn hóa Âu châu đề cao duy lý, cá nhân chủ nghĩa. Đề cao tính tập thể gia đình làng nước là nét đặc trưng nổi bật nơi gia đình Việt, và chữ Hiếu là nét sinh lực của tinh thần tập thể đó. Có thể nói Hiếu là đạo sống của người Việt. Có người gọi đó là tính đạo Việt, là nguyên lý chi phối và nối kết mọi thế hệ trong xã hội Việt Nam, là yếu tố quyết định mọi tương quan gia đình và xã hội. Chữ Hiếu cũng lý giải mọi phong tục tập quán, tín ngưỡng trong xã hội truyền thống Việt Nam. Theo Văn Hóa Phong Tục Việt Nam của Phạm Côn Sơn, thì: “Người xưa giữ đạo hiếu rất nghiêm. Chẳng những các nhà Nho nghiêm túc, giới sĩ phu triệt để mà dân dã cũng phải giữ nền nếp, không làm việc gì để tiếng xấu tới ông cha, dù còn sống hay đã mãn phần. Để ông cha phải mang tiếng xấu là tội đại bất hiếu.”[39]
Lịch sử còn chứng minh nhiều nhân sĩ trí thức, quan lại đã từ chức để thọ tang cha mẹ. Sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn có chép nhiều chuyện về đạo hiếu. Và các vua chúa đã răn dạy nhiều về đạo hiếu cho con dân, cũng như ra nhiều sắc chỉ, sắc phong cho những người nổi bật giữ trọn đạo hiếu. Bộ luật Hồng Đức cũng ban hành những án phạt cho những ai bất hiếu. Hiếu không chỉ ràng buộc con cái ruột thịt mà ngay cả con dâu cũng phải chu toàn đạo hiếu bằng việc tôn thờ cha mẹ chồng. Tôn thờ ở đây có nghĩa là phụng dưỡng, hầu hạ, chăm sóc, tôn kính.[40] Phát xuất từ quan niệm cụ thể và chân thực, con cái phải biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ. Hiếu với cha mẹ thì cũng phải hiếu với ông bà tổ tiên, cội nguồn của mình. Hiếu biểu lộ nơi việc thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Lúc sống phải phụng dưỡng, nghe theo lời dạy dỗ, khi chết phải lo ma chay chôn cất, sau đó lập bàn thờ và cúng bái. Phong tục Việt Nam cũng còn tin rằng vong hồn người đã khuất thường ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu và giúp đỡ con cháu trong cuộc sống.[41]
Trong xã hội Việt Nam truyền thống hay trong xã hội đã đô thị hóa, các thách đố gia đình không thiếu; may rủi, chao đảo, khó khăn không hiếm, nhưng tỷ lệ gia đình tan vỡ không cao so với những sắc dân khác.[42] Nguyên nhân dẫn tới sự bền vững và ổn định hơn trong gia đình Việt Nam chính là nhờ mối dây liên kết tình cảm mọi thành viên trong gia đình, ngay cả nhờ những tình cảm của những người thân tộc đã khuất. Điều rất tốt đẹp là gia đình và con người Việt Nam đã đặt nặng tình tương thân tương ái, biết kính trên nhường dưới, biết đặt quyền lợi và danh dự gia đình, tập thể lên trên hết, nhất là lòng hy sinh quả cảm để lo cho nhau. Đối với người Việt, gia đình là giá trị quan trọng nhất. Gia đình ổn định là mong ước lớn lao hơn cả danh dự, lợi nhuận cá nhân.[43]
4 – Gia Đình Việt Nam Trân Trọng Phụ Nữ :
Đừng dừng lại ở một vài vùng hoặc một giai đoạn lịch sử nào đó để kết luận phụ nữ Việt Nam có một chỗ đứng thấp kém trong gia đình. Xã hội Việt Nam từ xưa đã lấy nông nghiệp làm căn bản. Nền văn minh nông nghiệp, cái nhà, cái bếp là nguồn gốc của sự ổn định, và người phụ nữ giữ một vai trò quan trọng trong sinh hoạt nền tảng nầy.
Dưới ảnh hưởng văn hóa của Trung hoa suốt một ngàn năm, chế độ phụ hệ đã du nhập vào Việt Nam dẫn tới các định chế phụ hệ được thiết lập. Nhưng khi vào xã hội Việt Nam, chế độ và các định chế nầy cũng không chiếm ưu việt. Ngoài xã hội người phụ nữ giữ một số vị trí, quan chức, thầy dạy, như nhà Nho giáo Ngô Chi Lan Đoàn Thị Điểm. Trong lãnh vực sinh hoạt nông nghiệp, phụ nữ tiếp tục nổi bật nơi gia đình khi họ tham gia trực tiếp sản xuất, cấy gặt, trồng hoa màu, quay tơ, dệt vải, buôn bán. Yu InSum, trong “Luật pháp và gia đình Việt Nam” đã viết: “Nếu gia đình Tàu mang nặng nét đặc trưng bởi quyền lực của người cha trùm lên tất cả các thành viên gia đình, thì gia đình Việt Nam lại khác. Người vợ hẩu như bình đẳng với chồng, và các thành viên khác cũng khẳng định tư cách của mình.”[44]
Ngày nay người phụ nữ trong xã hội Việt Nam làm việc ở công sở, xí nghiệp và chia sẽ trách nhiệm xã hội với chông. Ở nông thôn người phụ nữ ngoài việc trực tiếp tham dự việc đồng áng, còn đảm nhiệm việc nội trợ, nuôi dạy con cái, cân bằng ngân sách gia đình. Đức tính hiền thục của người phụ nữ Việt Nam giúp họ giải quyết các xung đột trong kiên nhẫn, hy sinh và vị tha. Nhờ những đức hạnh cao cả nầy mà người phụ nữ Việt Nam không chỉ điều hòa ấm êm trong gia đình, nuôi dạy con cái thành đạt mà còn giúp chồng thăng tiến.[45]
5 – Gia Đình Là Yếu Tố Quan Trọng trong Sự Thành Đạt Của Con Cái:
Không ai phủ nhận môi trường gia đình đã có ảnh hưởng trong việc hình thành nhân cách cũng như sự thành đạt của con cái.[46] Đối với xã hội truyền thống Việt Nam điều nầy lại càng đúng hơn. Quả vậy, văn hóa gia đình Việt Nam chứng thực sự gắn bó mật thiết giữa các thành viên gia đình. Nhất là giữa cha mẹ và con cái đã là động cơ để con cái nỗ lực vươn lên. Môi trường gia đình ổn định, nề nếp, tôn trọng lẫn nhau sẽ tạo nên một tâm lý ổn định làm cơ sở cho sự thăng tiến cuộc sống. Trong mọi sự việc học hành và thành đạt của con cái là mối quan tâm hàng đầu của cha mẹ. Cha mẹ lam lũ cực nhọc để con được hơn người. Con cái cố gắng thành đạt để cha mẹ vui, và cũng để đền ơn trả hiếu phần nào cho cha mẹ. Nhiều câu chuyện Hiếu đạo trong lịch sử và xã hội Việt Nam đã chứng minh đậm nét quan điểm nầy. Nhiều người sau khi thành đạt trong nghề nghiệp, học vấn đã quay về nhà trước tiên để bầy tỏ lòng biết ơn cha mẹ.[47] Trong ngày ra trường, nhiều sinh viên tốt nghiệp đã mạnh mẽ tuyên dương công lao cha mẹ đã hy sinh dưỡng dục và là động cơ chính thúc đẩy họ đi tới thành công.
Nhiều gia đình Việt Nam nghèo túng, bản thân cha mẹ không được đi học hoặc không học đến nơi đến chốn, họ đã đặt hoài vọng của họ trên con cái. Họ ra sức làm việc cực nhọc, quyết tâm đôn đốc, chăm lo và dành mọi nỗ lực tài chánh cho con học hành thành người. Nhiều gia đình Việt Nam không ngại bôn ba đất khách quê người; vì tương lai của con cái, nhiều khi chính bản thân họ đã trả bằng máu, bằng tù tội, và cả bằng cái chết.[48] Sống trong bầu khí ấm êm của gia đình, trong sự chăm lo yêu thương của cha mẹ, anh chị em, con cái làm sao mà không vươn lên được. Giáo dục gia đình là ở chỗ đó và ảnh hưởng gia đình là vậy.
6 – Gia Đình Việt Nam Thể Hiện Lối Sống Tình Nghĩa :
Cho đến nay, nhìn chung các gia đình Việt Nam, với truyền thống, tổ chức và quy định tôn ti trật tự, biết kính trên nhường dưới, lối sống tình nghĩa yêu thương đã giúp giữ được sự bền vững được gia đình.[49] Truyền thống nầy cũng quy định, không phải bằng văn bản, luật lệ, nhưng bằng tâm khảm, vai trò và nghĩa vụ người chồng người vợ, con cái, đối với gia đình và đối với nhau. Nói chung khi bước vào đời sống gia đình mọi người hiểu là mình không còn chăm chút cho mình nữa, mà là cho “người ấy.” Mọi sự là của nhau và không bao giờ nghĩ ngợi ký cóp để đề phòng khi bất trắc, chia lìa, ly dị. Mọi người trong gia đình nỗ lực vun đắp theo cách thế và vị trí của mình. Cha mẹ không sinh con để hòng nương tựa tuổi già, mặc dầu đạo hiếu ràng buộc nghiêm minh. Cha mẹ suốt đời lam lũ vì con và cho con. Cha mẹ nào cũng thao thức làm sao để khi không còn làm việc được nữa thì cũng có của ăn của để trao lại cho con cháu. Ngược lại con cháu không vì đó mà tỏ ra ỉ lại, lêu lổng, nhưng nỗ lực giữ gìn vun đắp di sản cha ông. Con cái ý thức được rằng di sản, tài sản của ông bà cha mẹ là hương hỏa cần bảo tồn và phát triển.
Anh chị em sống tình nghĩa ruột thịt vì cùng chung một núm ruột. Họ sống bao bọc che chở nhau, chín bỏ làm mười, giữ được hòa khí yêu thương. Khi có chuyện xích mích, họ cũng lấy chữ nhẫn làm đầu; vì sợ hàng xóm chê cười, xấu hổ gia đình. Nghĩ về lối sống tình nghĩa gia đình, Giám mục Nguyễn Thái Hợp, O.P đã có nhận xét cụ thể và tinh tế: “Ngay tại Hoa Kỳ, tổ chức gia đình Việt Nam cũng phá được hàng rào hệ thống tín dụng nghiêm ngặt khắt khe của ngân hàng. Bằng cách cha mẹ, con cái, anh chị em chung tiền hay cho mượn tên, người Việt đã có thể mua xe, tậu nhà một cách dễ dàng, trong một thời gian kỷ lục. Giả sử chỉ dựa vào khả năng kinh tế của mỗi cá nhân mà thôi thì không biết có bao nhiêu gia đình di dân Việt Nam tại Hoa Kỳ có nhà riêng”?[50]
[23] HĐGMVN. Thư mục vụ về Môi Trường Giáo dục Gia đình Công giáo, 5-12-2008.
[24] Phạm Hồng Lam, Tình Yêu – Gia Đình và Vấn Đề Hội Nhập, 63
[25] Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, 210.
[26] Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, 364.
[27] Hội Nhập Văn Hóa Trong Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam, 17.
[28] Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, 626.
[29] Dr. Phil McGraw, Family First, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2005, trang bìa.
[30] Phạm Côn Sơn, Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, nxb Văn Hóa Dân Tộc, 2002, 365.
[31] Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, nxb TPHCM, 1966, 203.
[32] Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, 385.
[33] “Khởi đầu, vào thời Bắc thuộc, người nước ta hay dùng những nghi thức của Chu Văn Công, bên Tàu soạn ra. Những tục lệ nầy là của một nhà nặng phong tục Hán Tộc. Vào đời nhà Trần, ông Hồ Sĩ Dương, người làng Hải Thượng, tỉnh Hải Dương, hiện là Thọ Mai, có soạn ra bộ sách gọi là “Thọ mai gia lễ.” So với sách “Chu Công gia lễ,” “Thọ Mai gia lễ” có những đặc điểm theo phong tục của nước ta. Từ đó, người dân áp dụng những nghi lễ theo bộ sách nầy” (Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, Phạm Côn Sơn, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002, 375).
[34] Hồng Kim Linh, Người Việt, Hồng Lĩnh xuất bản, 1985, 87.
[35] Văn Hóa Việt Nam, Truyền Thống và Hiện Đại, 284.
[36] Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, 272.
[37] Lê Văn Siêu, Truyền Thống Dân Tộc, NXB Sống Mới, 82.
[38] Duyên Hạc Lê Thái Ất, Văn Hóa Việt Nam, 2nd edition, 2003, 183.
[39] Phạm Côn Sơn, Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002, 638.
[40] Ibid.
[41] Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, 429.
[42] Tình Yêu Gia Đình và Hội Nhập, 209.
[43] Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam, 201.
[44] Yu InSum, Luật Pháp và Gia Đình Việt Nam Thế Kỷ XVII-XVIII, Hoa Kỳ, 1987.
[45] Tình Yêu Gia Đình và Hội Nhập, 209.
[46] Trọng Minh, Vẻ Vang Dân Việt, Mekong Printing, 9.
[47] Văn Hóa Phong Tục Việt Nam ABC, 308.
[48] Vẻ Vang Dân Việt, 12.
[49] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, niêm giám 2005, phụ lục.
[50] Nguyễn Thái Hợp O.P, Một Nửa Hành Trình, NXB Chân Lý, 1997, 97.